NGUYỄN DU tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng sơn Liệp
hộ, quán làng Tiên Điền, huyện Nghi-xuân, tỉnh Hà-tĩnh, Trung-Việt. Sinh
năm 1765, là con cụ Hoàng giáp Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm, làm Thủ
tướng dưới triều Lê. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi đậu Tam trường. V́ thời
cuộc đổi thay, nhà Lê mất ngôi, tiên sinh muốn vẹn chữ trung quân nên
lui về thôn quê vui cảnh nhàn du mà không làm quan với Tây Sơn. Măi đến
khi Gia Long thống nhất giang sơn, tiên sinh bị triệu làm Tri huyện
Phụ-dực (Thái-b́nh), được ít lâu thăng Tri phủ Thường-tín (Hà-đông). Sau
v́ có bịnh nên cáo quan, về quê. Năm 1805, xung chức Đông các Học sĩ ở
Kinh. Năm 1809, thăng bổ chức Cai bạ tỉnh Quảng-b́nh. Năm 1813, thăng
Cần chánh điện Đại học sĩ rồi sung chức Chánh sứ sang Trung-hoa, nhưng
chưa kịp đi th́ thụ bệnh mất ngày 10 tháng 8 năm ấy, hưởng thọ 56 tuổi.
Những tác phẩm của tiên sinh để lại gồm có: a) Hán văn: Thanh Hiên
tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành thi tập, Lê Quư kư sự; b)
Quốc văn: Đoạn trường Tân thanh, Văn tế thập loại chúng sinh.
Thuộc khuynh hướng trữ t́nh, tiếng thơ Nguyễn Du tuy bác học và cổ điển
nhưng lại có sức truyền cảm mănh liệt trong dân gian. Tiên sinh là người
đă mở cửa cho thơ lục bát, thể thơ thuần túy Việt nam. Nghệ thuật của
tiên sinh đă vượt qua bao nhiêu thử thách của thời gian và chắc chắn sẽ
c̣n tồn tại với non sông đất nước…
*
Yêu một tác phẩm nghệ thuật giống như yêu một người đàn bà ở điểm là mỗi
lần yêu chúng ta khám phá ở người t́nh một trinh tiết mới. Yêu một tác
phẩm là sáng tạo một trinh tiết mới cho tác phẩm.
Một người không thể đọc được một tác phẩm hai lần. Cũng như không thể
tắm hai lần ở một ḍng nước như lời một triết nhân Hy-lạp. V́ ở cuối dự
định trở về một tác phẩm, người đọc sẽ bắt gặp một tác phẩm khác: tác
phẩm tự nó đă thay đổi ư nghĩa với thời đại, và người đọc tự họ cũng đă
thay đổi nhăn quan với thời gian. Niềm vui phóng khoáng mỗi lần khám phá
như thế chính là yếu tính của nghệ thuật trong tác phẩm và khả năng lănh
hội nghệ thuật trong độc giả.
Yêu một tác phẩm và yêu một người đàn bà khác nhau ở chỗ đó. Từ đấy sinh
ra một hiệu ứng khác: Yêu một người là muốn người ấy thuộc về ḿnh, yêu
một tác phẩm là muốn chia tác phẩm ấy với kẻ khác.
Chúng ta yêu Thúy Kiều, và Kim Trọng yêu Thúy Kiều bằng hai mối t́nh
không giống nhau.
Tự Đức thích truyện Kiều mà đ̣i đánh đ̣i Nguyễn Du, các nhà nho
trong nhóm Hữu Thanh khen Nguyễn Du mà chê truyện Kiều; nhóm Nam
Phong ca ngợi cả tác phẩm lẫn tác giả; Nguyễn Bách Khoa lại cho rằng
Thúy Kiều mắc bệnh ủy hoàng, c̣n Nguyễn Du mắc bệnh thần kinh; và bây
giờ th́ các học giả mác-xít Hà nội khen một nửa Thúy Kiều và một nửa
Nguyễn Du.
Nh́n lại con đường hậu thế đă đi qua để ḍ t́m giá trị của tác phẩm
chúng ta thấy một lối ṿng xung quanh tác phẩm, và chưa có cuộc hành
tŕnh nào thật sự đi vào yếu tính, tức là đi vào mỹ tính của tác phẩm.
Cuộc thảo luận giữa nhóm Nam Phong và Hữu Thanh hồi đầu thế kỷ là mối
bất đồng của độc giả về nội dung, và nội dung chưa phải là giá trị của
tác phẩm. Có thể cuộc đời của Thúy Kiều là đối tượng của Đoạn-trường
Tân-thanh nhưng không phải là yếu tính của tác phẩm. Cho đến bây giờ
các nhà phê b́nh vẫn c̣n nhầm lẫn nội dung với nghệ thuật một cuốn tiểu
thuyết, một vở kịch. Nhất là thời Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế, nội dung ấy
chỉ thu gọn trong vấn đề luân lư chính trị. Như vậy cuộc thảo luận trên
không có tính cách văn học mà chỉ là cuộc trao đổi quan điểm chính trị.
Sau này Nguyễn Văn Trung tiếp tục cuộc đối thoại đó bằng cách làm nổi
bật thực chất chính trị của vấn đề.
Về sau, sự t́m kiếm nội dung xoay sang những tiêu chuẩn triết lư và tâm
lư. Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh và gần đây Nguyễn Đăng Thục, Phạm Văn
Diêu trên Văn-hoá Nguyệt-san đă đi hết con đường ḿnh đă chọn
nhầm: tâm lư và triết lư không phải là bản chất của văn nghệ.
Rồi đến những Nghiêm Toản, Bửu Cầm t́m tác phẩm chung quanh tác phẩm: sử
tính và nguồn gốc của Truyện Kiều. Vũ Hạnh lại cố gắng làm một
việc lạc lơng khác: xét tính cách xă hội của nội dung trong khi xă hội
và quan điểm xă hội Nguyễn Du không phải là truyện Kiều.
Trước thế chiến đă có một khuynh hướng phê b́nh lầm lạc mới: khuynh
hướng duy vật pha chế với phân tâm học. Cuộc hôn phối ngang trái này đă
đẻ ra đứa con hoang của tư tưởng Mác-xít là Nguyễn Bách Khoa. Nguyễn
Bách Khoa cho rằng truyện Kiều là hậu quả thê thảm của xă hội
bệnh hoạn và một cơ thể bạc nhược, và không có giá trị chân chính nào
đáng được ghi nhớ. Nguyễn Bách Khoa có một tư tưởng Mác-xít hơn cả Mác,
nên ngay sau đó, Trường Chinh trên báo Cờ Giải phóng năm 1944 đă
cho rằng “Nguyễn Bách Khoa đă thay thế biện chứng duy vật bằng một
lối duy vật thô lỗ, máy móc, đă đội lốt duy vật biện chứng để giả mạo”
[1] . Măi đến năm 1963, giới
cộng sản Bắc Việt vẫn c̣n miệt thị Nguyễn Bách Khoa; tại Đại hội Văn
nghệ Toàn quốc lần thứ ba, Nam Mộc trên diễn đàn Đại hội đă “bực ḿnh
tức giận với những cái lư luận đội lốt Mác-xít vừa phản động vừa lẩn
thẩn của Trương Tửu tự xưng là có đầu óc bách khoa”
[2] . Trong lúc đó th́ tại
Hà-nội, Nguyễn Bách Khoa đă đổi ư kiến cho là Truyện Kiều rất…
hay, lư tưởng Nguyễn Du là Từ Hải, mà Từ Hải là Nguyễn Huệ, Nguyễn Huệ
là nông dân, nông dân là Đảng [3]
. Nhưng Trương Tửu không chuộc nổi cái tội Nhân văn Giai phẩm nên cách
đây mấy tháng Nguyễn Văn Hoàn nhân đề cập đến Truyện Kiều đă gọi Trương
Tửu là “phường Tờ-rốt-kít chuồn từ cực đoan này đến không mấy khó
khăn và vẫn khoác bộ áo duy vật biện chứng”
[4] .
Một lần nữa, đường lối phê b́nh lại đi lạc vào duy vật biện chứng và
phân tâm học thay v́ đi thẳng vào tác phẩm.
Giới văn nghệ Hà-nội theo đường lối của chính phủ muốn, lợi dụng tất cả
những giá trị cũ để xây đắp xă hội chủ nghĩa, nên cố gắng ca ngợi Nguyễn
Du một cách gượng gạo. Đại khái, văn học miền Bắc cho rằng Nguyễn Du là
thành phần phong kiến nhưng nhờ có “con mắt trông thấu cả sáu cơi,
tấm ḷng nghĩ suốt cả ngh́n đời” [5]
nên diễn tả được những khát vọng của nông dân qua nhân vật Từ Hải, “một
lănh tụ khởi nghĩa nông dân hồi thế kỷ XVIII”
[6] . Lư luận của các nhà phê b́nh miền Bắc, từ Hoài
Thanh, Đào Duy Anh, Trường Chinh đến Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Khắc Viện,
Văn Tân, Lê Trí Viễn đều dựa trên những điểm sau đây:
- Từ Hải mang ít nhiều bóng dáng của Nguyễn Huệ qua nguồn gốc “biên đ́nh
bí mật, qua 5 năm ngang dọc…”. Mà Nguyễn Huệ là lănh tụ của nông dân.
- Nguyễn Du rất gần gũi với dân chúng được dân Nghệ-an mến chuộng,
thường lưu tâm đến nỗi cực khổ của vô sản.
- H́nh ảnh đẹp nhất của Truyện Kiều là Từ Hải, vậy nếu lư tưởng
của Nguyễn Du không phải là triều Tây Sơn, th́ t́nh cảm Nguyễn Du cũng
hướng ít nhiều về triều đại ấy.
Vậy từ Nguyễn Du đến Từ Hải rồi đến Nguyễn Huệ, đến nông dân, giới văn
học Hà Nội đă kết luận là truyện Kiều có liên hệ mật thiết với
giới vô sản, trên căn bản sáng tạo cũng như trên viễn vọng giải phóng.
Nhờ đó mà giới b́nh dân ưa thích và Nguyễn Du lớn lao ở điểm đó.
Ư kiến này đúc kết những khảo cứu của Hà-nội từ mười năm nay. Và họ đă
chuẩn bị lễ kỷ niệm cụ Tiên Điền vào tháng 11 sắp tới từ ba năm rồi. Hạ
tuần tháng 7 vừa qua Viện Văn học phối hợp với các trường Đại học Sư
phạm và Tổng hợp tổ chức một khóa hội thảo chuẩn bị một lễ kỷ niệm.
Trường Chinh và Hoàng Minh Giám có đến dự hai buổi đầu và cuối.
Kết quả của những khảo cứu ấy được phản ánh phần nào trong bài “Nguyễn
Du và Truyện Kiều trong truyền thống dân gian” của Lê Văn Hảo đăng trên
Bách Khoa số kỷ niệm Nguyễn Du vừa mới phát hành. Lê Văn Hảo chịu
nhiều ảnh hưởng của tài liệu miền Bắc. Nhưng một công tŕnh khảo cứu nếu
chỉ đưa đến kết luận rằng Truyện Kiều là tác phẩm của giai cấp vô
sản th́ dù công phu đến đâu cũng không phải là một công tŕnh văn hoá.
Từ những tài liệu về làng Tiên-điền đến giá trị sáng tạo Truyện Kiều,
khoảng cách c̣n xa ngàn dặm, xa gấp vạn lần đường hàng không từ Hà Nội
sang Paris và từ Paris về toà soạn Bách Khoa khi ông Lê Văn Hảo
hạ bút kết luận: “Nguyễn Du đă từng đứng về phía nhân dân mà cảm nghĩ
về thân phận làm người trong thời loạn”
[7] th́ kết luận ấy đă đi ra ngoài phạm trù mỹ học. Nói
như thế không phải là chúng tôi không đồng ư với cái “nội dung nhân dân”
của Truyện Kiều: trái lại chúng tôi chấp nhận giả thuyết đó cũng
như đă chấp nhận “nội dung độc dược” theo Ngô Đức Kế, “nội dung phật
giáo” theo Trần Trọng Kim, “nội dung phong kiến” theo Nguyễn Bách Khoa,
“nội dung hiện sinh” theo một bài trên báo Đại Học xuất bản tại
Huế. V́ những khảo luận đó đều góp ánh sáng vào giá trị truyện Kiều,
tuy chưa phải là giá trị của tác phẩm. Chúng tôi chỉ dè dặt đối với quan
điểm của ông Nguyễn Hiến Lê trên cùng một số Bách Khoa: “muốn
định giá trị cho đúng th́ không thể quên chỗ dụng tâm của tác giả”.
Hai vấn đề được nêu lên: tác giả có dụng tâm thật không? Và làm sao biết
được dụng tâm đó? Nghệ thuật không phát sinh từ một dụng tâm, mà chỉ là
thể hiện tiềm thức sáng tạo của con người, vai tṛ của ư thức chỉ là sắp
xếp. Nếu quả thực Nguyễn Du có dụng tâm ǵ th́ ông đă không là thi sĩ mà
sẽ đầu thai làm người khác mất thôi!
Chúng ta có thể nghi ngờ thiện chí văn nghệ Trường Chinh và các đồng chí
của ông khi đề cập đến Truyện Kiều, nhưng không thể nghi ngờ
thiện chí của Ngô Đức Kế, Trần Trọng Kim, Lê Văn Hảo, Nguyễn Hiến Lê, và
nhất là Vũ Hạnh. Vũ Hạnh phản đối lối dùng cái thước ngày nay để đo một
tác phẩm cổ văn rồi chê ngắn chê dài. Vũ Hạnh đặt Nguyễn Du trở lại thế
kỷ XVIII: “có những điểm thuộc về nội dung tác phẩm người ta vẫn có
thể trách Nguyễn Du một cách hữu lư đến nỗi nếu thi hào sống lại hẳn
người rất vui vẻ tán thành.” [8]
Lạy Phật, lạy Chúa đừng cho anh hồn Nguyễn Du sống lại.
Phê b́nh đối tượng của nghệ thuật, bối cảnh của tác phẩm không phải là
phê b́nh nghệ thuật phê b́nh tác phẩm, nhưng rất có ích cho việc t́m
hiểu giá trị tác phẩm. Chúng ta có thể đồng ư với Hà nội rằng Truyện
Kiều có yếu tố nhân dân, nhưng không phải v́ thế mà nó hay. Bằng cớ
là thử hỏi tại sao Trường Chinh lại thích Truyện Kiều thay v́ mê
thơ Tố Hữu, tại sao Hồ Chí Minh yêu cầu văn sĩ đừng dùng chữ Hán mà lại
thích thơ Đường, và tại sao Marx thích Phidias, Shakespeare hơn Courbet,
Zola, tại sao Lénine thích Tchékov hơn là Maiakovsky. Xin thưa rằng v́
tác phẩm này hay hơn tác phẩm kia tuy là có ít yếu tố vô sản hơn! Và
cũng v́ lẽ đó mà “nhân dân” thích truyện Kiều hơn là thích truyện
Tấm Cám hay Thạch Sanh Lư Thông.
Chúng ta cũng có thể đồng ư với Trần Trọng Kim là truyện Kiều
chuyên chở nhiều tư tưởng Phật giáo. Nhưng nếu truyện Kiều hay v́
những tư tưởng đó th́ tại sao Trần Trọng Kim không chú thích kinh Phật
hay truyện Quan Âm Thị Kính?
Và có thể Nguyễn Du mắc bệnh thần kinh, Thúy Kiều mắc bệnh ủy hoàng theo
lối phân tâm của Nguyễn Bách Khoa, cũng như ta đồng ư là Baudelaire có
thể mang mặc cảm loạn luân, Hugo mang mặc cảm sát huynh, Dostoievsky bị
ám ảnh hiếp dâm, Vinci bị ám ảnh diều ó, Tolstoi có mặc cảm Narcisse,
Balzac bị ám ảnh ma quái, nhưng làm thế nào những ám ảnh, mặc cảm đó trở
thành nghệ thuật?
Tóm lại, chúng ta đă có những khảo cứu triết lư, xă hội, ngữ học, tâm
lư, phân tâm, địa lư, lịch sử, kỹ thuật, đạo đức… về truyện Kiều!
Sự góp công đó là một thừa thăi hữu ích cho việc t́m hiểu giá trị của
tác phẩm, nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa biện minh cho giá trị nghệ
thuật đó. Ngoài giá trị ấy những cái c̣n lại đều là văn chương. Hoặc đều
là chính trị để làm vừa ḷng Đặng Thai Mai.
Khi ở quê hương, giá trị chưa được xác định, th́ Đoạn trường Tân
thanh đă chinh phục một số độc giả càng ngày càng đông đảo ở hoàn
cầu. Nói đến văn học Việt nam, văn giới quốc tế đều biết Nguyễn Du và
chỉ biết Nguyễn Du. Tác phẩm và tác giả đều có tên trong hầu hết những
từ điển văn liệu lớn của thế giới. Và trong các từ điển đó, chỉ có một
tên Việt nam. Tác phẩm đă được dịch ra nhiều thứ tiếng, đă được nhiều
học giả chú ư và phân tích [9]
. Riêng phần chúng ta chỉ mới nói chuyện chung quanh tác phẩm chứ chưa
góp một ư niệm nào quyết định về giá trị của tác phẩm được xem như là
tiêu biểu cho xứ sở.
Tôi lại muốn góp thêm một lời thừa thăi cần thiết vào cái vốn thừa thăi
c̣n thiếu sót chung quanh nội dung Truyện Kiều. Nội dung đó đă có
một đời sống riêng tư, năng động ngoài thẩm quyền của tác giả. Nói khác
đi, tác phẩm đă sống với con người qua từng giai đoạn để bắt gặp thời
đại chung ta trong cuộc khủng hoảng văn minh tàn khốc, tương tợ như sự
suy đồi của xă hội Việt nam vào cuối thế kỷ XVIII.
Trong những suy tàn, thường nổi bật h́nh ảnh bi thiết của con người. Chỉ
có trong những suy tàn đó con người mới nhận ra khuôn mặt bi thảm của
ḿnh sau khi những sương mù của ảo giác đă tan biến. Thời đại chúng ta
đă trưng một bằng chứng cụ thể sau khi xé toạc những huyền thoại hào
nhoáng. Cuộc sống trước hết là một thực trạng phi lư. Điều đó
nhiều người nói rồi, nhưng nhiều người khác của hậu thế cũng sẽ c̣n nói
nữa. Không phải cuộc sống lênh đênh của Thúy Kiều, của Nguyễn Du là phi
lư, nhưng tất cả mọi cuộc sống đều phi lư “Không có cuộc sống nào
đáng sống cả, lỡ sống th́ phải chấp nhận cuộc sống”, nói như một
nhân vật kịch Vũ Khắc Khoan. Không phải khi gặp gia biến Thúy Kiều mới
sống bi thảm; trước đó, lần đầu tiên chọn phím đàn, nàng đă chọn cung
bạc mệnh, v́ cuộc đời, một cách tiên thiên, là một thảm kịch. Sự hiện
hữu phi lư từ khi hai tinh trùng gặp nhau, và nếu chúng không gặp nhau,
th́ lại càng phi lư hơn nữa. Nỗi đoạn trường thật sự không chấm dứt sau
mười lăm năm lưu lạc; Thúy Kiều ư thức sâu sắc điều đó nên không tái hợp
với chàng Kim, v́ đổi một phi lư cô đơn lấy một phi lư lứa đôi chỉ làm
việc chồng một thảm kịch này lên một thảm kịch khác. Cuộc đời khi chấm
dứt vẫn không chấm dứt được thảm kịch ư thức; sự phi lư vẫn c̣n trương
th́nh ra đấy.
Nếu xem sự cấu tạo và h́nh thành cuộc sống như một ngẫu nhiên th́ con
người là một nô lệ. Nào phải một ḿnh Thúy Kiều nô lệ cho số mệnh đa
đoan, con người nói chung đều nô lệ, chỉ khác ở mức độ sáng suốt và can
đảm của ư thức. Néron chắc phải chán nản lắm mới đốt thành La-mă để mà
chơi! Con người chấp nhận có một Thượng đế, một Thượng đế không toàn
chân, toàn thiện và toàn mỹ nhưng lại toàn năng. Thảm khốc là chỗ đó.
Con người trước Thượng đế không những không được chọn lựa cuộc sống mà
c̣n không được chọn lựa cái chết. Thúy Kiều hiện thân con người bị bắt
buộc phải sống, và phải sống trong cuộc khổ sai vô vọng. Thà không có
Thượng đế c̣n hơn có một trời xanh ghen với khách má hồng. Kiều tha cho
Hoạn Thư không phải v́ họ Hoạn khôn ngoan, nhưng đến Trời Đất c̣n ghen
với kẻ tài t́nh th́ trách chi một Hoạn Thư đă kém tài sắc lại bị cướp
chồng.
Con người, sản phẩm ngẫu nhiên, không thể có tương quan nào với ngoại
nhân và ngoại cảnh. Con người là kẻ tử tội cô đơn. Cô đơn với
người khác: Viên ngoại không hiểu nổi cô con gái “mua năo chuốc sầu”
từ những giấc mơ, Vương Quan và Thúy Vân không hiểu nổi người chị dư
nước mắt, Kim Trọng không hiểu nổi những bậc tiêu tao của cung đàn bạc
mệnh th́ làm sao khách làng chơi hiểu nổi Thúy Kiều, dù kẻ ấy có là Thúc
Sinh hay Từ Hải? Sự cô đơn trong ngoại cảnh Nguyễn Du đă làm nổi bật
trong mười lăm năm lưu đày xa xứ. Thật ra, người ta có thể bị lưu đày
trong pḥng ngủ của người yêu, nhưng cảnh ngộ chân trời góc bể bơ vơ
là một kư hiệu giữa Thúy Kiều với khung cảnh Lâm-truy Vô-tích,
Châu-Thai, Tiền-đường, không có một liên hệ nào cả. Cát vàng cồn nọ
bụi hồng dặm kia, toàn là những nọ với kia xa lạ, ghẻ
lạnh, hững hờ. Nhưng cho đến địa ngục thiên đàng là đâu Thúy Kiều
c̣n không biết đến th́ nói ǵ Vô-tích với Lâm-truy! Dĩ nhiên là Thúy
Kiều vẫn nuôi dưỡng trong ḷng h́nh ảnh của quê hương và hy vọng ngày
về, nhưng mười lăm năm cay đắng đă dạy cho nàng quê hương con người chỉ
có hư vô. Chính bài học đó, đă khiến Thúy Kiều do dự khi phải rời
am mây của Giác Duyên trở về hiên Lăm Thúy.
Vận chuyển biện chứng giữa hiện hữu và hư vô tạo tâm trạng lưu đày
như một hợp đề: ư thức lưu đày là một ư thức không có tương quan.
Giật ḿnh ḿnh lại thương ḿnh xót xa… Khi sao phong gấm… Giờ sao tan
tác… Mặt sao dày dạn… Thân sao bướm chán… Phút giật ḿnh là phút
bừng tỉnh của ư thức trước một thế giới vô nghĩa. Con người lạc loài, xa
lạ, chia ĺa khỏi ngoại cảnh, và tự tra tấn, tự đọa đày để ngụy tạo một
ư nghĩa cho hiện hữu.
Như vậy, những đoạ đày thân xác chỉ là cơ hội cho con người tư
duy; cảnh Kiều bị đánh đập tàn nhẫn, cảnh máu rơi thịt nát tại nhà Tú
bà, tại phủ đường, tại nhà Hoạn bà là những cái cớ, cũng như khối đá của
Sisyphe là cái cớ cho sức lao tác vô ích. Những cái cớ để nói lên rằng,
trong một thế giới phi lư, con người là một thân phận nhục nhă.
Những trận đ̣n là mối ô nhục của thể xác, cũng như bài học vành ngoài
bảy chữ là ô nhục của tri thức, cũng như tiếng đàn tại nhà Hoạn Thư
trước mặt Thúc Sinh là ô nhục của t́nh cảm. Con người là mối ô nhục lớn
nhất của tạo hóa, con người phải quỳ lạy Tú bà, phải chừa ngay đến “tấm
ḷng trinh bạch”, phải câm miệng trước những phản bội của Sở Khanh, con
người thanh lâu hai lượt thanh y hai lần phải đàn hát giữa đám ma
chồng, con người đó là hiện thân của những nhục nhă của kiếp người.
Không phải riêng Nguyễn Du hay Thúy Kiều, mà của con người biết vâng dạ
nói chung.
Chịu tất cả những đoạ đày, con người hiện hữu là kết quả của một t́nh
trạng tha hoá thảm khốc. H́nh ảnh con người tha hoá điển h́nh là
kẻ sớm đưa Tống Ngọc tối t́m Tràng Khanh. Làm đĩ, Nguyễn Du đă
khơi gịng ư thức đĩ thơa cho văn chương Việt Nam. Sau này, cô gái giang
hồ sẽ đầy dẫy trong tác phẩm Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương và
sẽ mang tên Siu trong Mặc Đỗ, tên Huệ trong Nhật Tiến, tên Kim, Ngân
trong Thảo Trường, tên Tư trong Thanh Tâm Tuyền và hàng chục tên khác
trong Dương Nghiễm Mậu. Làm người tức là làm đĩ với cuộc đời, không hơn,
không kém, cũng như làm vua là làm đĩ với chính trị, viết văn là làm đĩ
với nghệ thuật, trốn đời là làm đĩ với tôn giáo. Luân lư xă hội chỉ kết
tội những kẻ làm đĩ bằng thể xác, nhưng bản án này không dựa trên một
biện chứng duy lư nào vững chắc cả, ngoài sự pḥng ngừa vệ sinh công
cộng. Nói như thế để chứng tỏ sự tha hóa của ư thức cá nhân, ư thức dân
tộc và ư thức văn minh. Thực chất là của cái hỗn tạp gọi là văn minh,
xây dựng trên một giải đất phù sa của những “con Rồng cháu Tiên” là ǵ
nếu không là một sự tha hoá? Huyền thoại con Rồng cháu Tiên là mặc cảm
của những kẻ h́nh thành qua những cuộc ái ân bất ngờ và ngắn ngủi. Sự
tha hóa đă bắt đầu từ khi trứng rồng không nở ra rồng mà nở ra làm người
ta, chứ không phải khi Kiều bán ḿnh cho Mă Giám Sinh. Đoạn trường
Tân thanh không phải chuyện của nhà họ Vương, của Nguyễn Du, hay của
xă hội Việt nam cuối thế kỷ XVIII, mà là chuyện của một sinh vật gọi là
người.
Thúy Kiều là một cô gái lầu xanh với đầy đủ cái vinh cái nhục, cái đẹp
cái xấu của con người làm đĩ. Không nên trách hai hàng nước mắt hai
làn sóng, nửa đám ma chồng nửa tiệc quan v́ đó là sở trường của cô
gái làng chơi. Kiều có yêu Thúc Sinh cũng chỉ là yêu bằng thứ t́nh
càng sâu nghĩa bể càng dài t́nh sông, chữ sâu và dài hiểu
theo nghĩa đen nhất (có lẽ Freud đọc câu này sẽ thú lắm). Và Thúy Kiều
chỉ đẹp tuyệt vời trong cảnh bèo nổi mây ch́m đó, bắt đầu từ khi
tŕnh diễn với Mă Giám Sinh. Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Sắc đẹp của nàng phát triển đến tột độ khi gặp Thúc Sinh tại lầu
Ngưng-bích:
Nguyệt hoa hoa nguyệt năo nùng
Đêm xuân ai dễ cầm ḷng được chăng.
Và Từ Hải v́ gặp Thúy Kiều ở Châu-thai mới phải mê mệt, điêu đứng, chứ
gặp ở hội Đạp thanh th́ không đến nỗi phải chết đứng giữa trận tiền. Như
vậy cái vinh và cái nhục là hai đứa con song sinh của một kiếp người bị
tha hoá, mà điển h́nh là kiếp gái giang hồ. H́nh ảnh cô gái giang hồ
trong văn nghệ hiện đại là ám ảnh vừa của sinh lư vừa của đạo lư, tượng
trưng cho những đ̣i hỏi của bản chất con người trước sự từ chối của thực
tế.
Con người vừa bị lừa gạt làm người vừa bị từ chối làm người,
đă phải chọn một thái độ ngụy tín. Thúy Kiều, con người Hoạn
bà gọi là phường trốn chúa lộn chồng đă đánh cắp chuông vàng
khánh bạc, đă dối Giác Duyên, đă lừa Từ Hải, đă dụ Hồ Tôn Hiến, con
người đó chỉ là sản phẩm của cuộc sống. Thái độ ngụy tín ấy, đặt vào một
thế giới bội phản là những thái độ tự nhiên, thường t́nh. Nếu luân lư
tạo ra cái xă hội của nó th́ xă hội cũng tạo ra cái luân lư của nó, hai
thứ luân lư uyên nguyên và luân lư hậu quả tương phản nhưng lại bổ túc
cho nhau, phản đạo đức, như vậy thái độ tín và ngụy tín chỉ là khía cạnh
của một nhân bản, nhân bản của con người vừa bị lừa gạt làm người và từ
chối làm người.
Nói tóm lại, con người trong Đoạn trường Tân thanh là con người
phi lư, nô lệ, cô đơn, nhục nhă, lưu đày, tha hóa, gian dối.
Truyện Kiều là ư thức bi đát của thân phận làm người. Nhưng giá trị
Truyện Kiều không dừng lại ở ư thức bi đát đó.
Nghệ thuật không thể cứu rỗi con người trong lịch sử, trong xă hội, mà
chỉ nhắm tạo cho con người một quê hương khác. Từ thảm trạng của thân
phận, nghệ thuật tạo nên chiến thắng của con người. Nghệ thuật tạo vẻ
đẹp cho những ḍng nước mắt, và biến nỗi thống khổ của nhân loại thành
tiếng hát vô biên. Bằng những chiến công oanh liệt. Nguyễn Công Trứ
không cứu nổi con người thế kỷ XIX, mà bằng những bài hát nói ông đă
dựng lên giá trị con người. Nguyễn Khuyến không phục vụ chúng ta bằng
cách tăng gia sản xuất nông phẩm, mà phục vụ chúng ta bằng những trời
thu xanh vô tận. Cũng như Delacroix, Courbet phục vụ nhân loại bằng hội
họa chứ không phải bằng cách tham gia nền Cộng ḥa hay phong trào Công
xă Pháp.
Sáng tạo được vẻ đẹp của những kiếp đoạn trường, Nguyễn Du đă tạo một
niềm tin mới cho những con người, tạo ư thức của những giá trị cao cả
tiềm tàng trong cuộc sống.
Nghệ thuật hóa thảm kịch thân phận là khơi nguồn vui vô tận cho con
người xét dưới khía cạnh đó, cái đẹp là vinh dự của kẻ thất bại, và nghệ
thuật là một chiến thắng.
Như vậy vũ trụ thi ca của Truyện Kiều là một vũ trụ khác, không
chịu những quy luật của không gian và thời gian; mà chỉ chịu khuôn khổ
của ngôn ngữ. Điều đó không có nghĩa thơ là sản phẩm của ngôn ngữ; cũng
như hội họa không phải là sản phẩm của màu sắc; và kiến trúc không phải
là sản phẩm của gạch ngói.
Ngôn từ có công dụng của nó, nhưng thi ca sử dụng ngôn từ vào một đối
tượng khác, nghĩa là sáng tạo một ư nghĩa mới cho ngôn ngữ. Nghĩa là
ngôn từ đă thay đổi yếu tính khi đi vào thế giới của thi ca, cũng như
màu xanh, đỏ trong một họa phẩm từ bản chất, không c̣n là màu xanh, đỏ
của những ngọn đèn đường ở các ngă tư.
Vũ trụ Truyện Kiều là một chân trời rộng. Thảm cỏ non phải
xanh rợn chân trời, con đường khuya phải ngất tạnh mù khơi,
màu của rừng thu phải là màu quan san, khung trời thương nhớ phải
gợn áng mây Tần xa xa, đến túp lều cỏ bên sông Tiền đường cũng
phải là một gian nước biếc mây vàng chia đôi … Nhăn tuyến Nguyễn
Du càng xa hun hút, linh hồn ông c̣n tê lạnh trong niềm run rẩy của một
linh hồn nhỏ bé. Thế giới rộng là một thế giới trống và lạnh, khiến con
người phần e đường xá phần thương dăi dầu, nhưng vẫn bị quyến rũ,
lôi cuốn. Nguyễn Du ném nhăn tuyến giang hồ vào không gian, và chính
nhăn tuyến đó đă vạch đường chân trời cho bước chân lưu lạc của nàng
Thúy.
Vũ trụ rộng và trống gồm có nhiều dặm cát đồi cây. Sự hoang vu
của cát vàng cồn nọ là h́nh ảnh một trái đất từ chối cuộc sống,
một trái đất mà con người chỉ đi ngang qua chứ không dừng lại. H́nh ảnh
những băi cát mênh mông của miền duyên hải Trung Việt đă ăn sâu và tiềm
thức Nguyễn Du. Chiều rộng của những băi cát là vũ trụ khách thể, xa lạ
và đối lập với con người.
Bên cạnh đó, những rừng thu từng biếc chen hồng là một thiên
nhiên chấp nhận cuộc sống, nuôi dưỡng cuộc sống trong giới hạn thời gian
nhất định. Những dặm vi lô hiu hắt, những bờ liễu loi thoi,
rừng phong quan tái là môi giới giữa con người và vũ trụ, trong
vận chuyển biện chứng của thiên nhiên. Nhăn quan Nguyễn Du phân biệt
trong vũ trụ đâu là địa phận con người. Cảnh màu xanh tơ liễu bên cầu,
gió cây trút lá, mấy ngàn dâu xanh xuất hiện trong
Truyện Kiều những giờ chia phôi, những lúc tâm hồn phân tán, những
lúc bước chân ngập ngừng ở biên giới của trần thế và hư vô. Nguyễn Du
muốn thu nhận cả chân trời nhân loại bằng cái nh́n phơi trải trong h́nh
ảnh non phơi bóng vàng, cái nh́n đo lường kích thước cuộc sống
ngày ngày thăm thẳm chân trời đăm đăm. Một cái nh́n, xác định vị
trí, tầm sống và biên giới, để sống trọn vẹn tầm sống của ḿnh từ vị trí
là bản ngă đến biên giới là mệnh số.
Phải nói là nhân vật Nguyễn Du mở thao láo đôi mắt để nh́n suốt qua thế
giới hữu hạn. Đôi mắt, làn thu thủy nét xuân sơn sáng suốt và trong
suốt, cắt đậm ngoại cảnh trên nền hư không: cành lê trắng điểm,
lửa lựu lập loè, giếng vàng đă rụng một vài lá ngô. Ánh
sáng phải trong trẻo dưới bầu trời đầu thu biêng biếc:
Trông chừng khói ngất rong thưa
Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng
Điều đó không có nghĩa là trong Truyện Kiều không có ảo giác của
thị quan. Cũng có ảo tưởng vàng gieo ngấn nước, thành xây khói
biếc, hoa lê lại gần, sen vàng lăng đăng… Nhưng Nguyễn
Du nhận thức những ảo giác đó không phải như một thực tại, mà như một ảo
giác. Cái nh́n của ông soi mói đến tận ngó ư tơ ḷng, nhận định
rơ rệt những thực tại bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây. Do đó
những đêm truyện Kiều là những đêm sáng, v́ nhân vật t́m những
điểm sáng để nh́n thao láo: nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời…
Lối ṃn cỏ nhạt màu sương…
Trăng là ư thức của bóng tối và là lương tri của Thúy Kiều. Thứ lương
tri bắt Thúy Kiều phải thấy trăng mà thẹn; lương tri bừng tỉnh
giữa hôn mê với ánh trăng, ở chung với ánh trăng như vẻ non xa
ở lầu Ngưng-bích, trằn trọc với ánh trăng nửa soi gối chiếc
những đêm vật ḿnh thao thức. Bầu trời nàng Thúy có hai ánh trăng: trăng
của dĩ văng soi kỷ niệm để t́m những cái mốc của thời gian, trăng của ư
thức hoài niệm; và ánh trăng thứ hai soi con đường đang đi tới, soi
những dặm cát đồi cây, những ánh trăng ngàn ngậm gương để
rọi vào ư thức dự phóng, để vạch lối thoát trong không gian. Thế giới
Nguyễn Du lúc nào cũng trong suốt. Ánh nắng buổi chiều là cái nh́n ra
không gian, ánh trăng khuya là cái nh́n vào nội giới. Hai tia sáng hội
tụ vào ư thức giúp Kiều nhận định rơ rệt chân tướng của định mệnh.
Bây giờ rơ mặt đôi ta
Biết đâu rằng nữa chẳng là chiêm bao,
Không phải Thúy Kiều bi quan tin bói toán, tin ma quái mà nói như thế;
từ cái thực tế một dày một mỏng nàng có thể suy đoán kết quả mối t́nh
với Kim Trọng, nhưng nàng vẫn yêu. Nghệ thuật là chiến thắng của một
nhân loại biết yêu mà không cần tin ở t́nh yêu.
Thúy Kiều chọn kiếp xương trắng quê người là để thí nghiệm cái
hữu hạn trong tầm sống con người. Thái độ dấn thân vào số mệnh là cần
thiết để thí nghiệm giá trị con người qua giá trị của hồng nhan. Đêm
khuya thân gái dặm trường: Hồng nhan là một thử thách của thân phận
làm người trong thời gian và không gian. Nguyễn Du đă chấp nhận cuộc thử
thách và đẩy Thúy Kiều vào con đường bạc mệnh.
Ma đưa lối quỷ đưa đường
Lại t́m những lối đoạn trường mà đi
Không ma không quỷ nào cả, đoạn trường là con đường Thúy Kiều tự chọn,
và tự chọn một cách b́nh tĩnh. Đoạn Trường Tân thanh là một con
đường, bắt đầu từ con đường sang nhà Kim Trọng xăm xăm băng lối vườn
khuya rồi đến một xe trong cơi hồng trần… Lối ṃn cỏ nhạt…
Mịt mù dặm cát… Con đường di chuyển bao nhiêu ư niệm nhắm mắt
đưa chân… phận bèo bao quản… buộc yên quảy gánh…
gươm đàn nửa gánh… lên ngựa chia bâu… bụi hồng nhẹ cuốn…
Những h́nh ảnh vó câu, bánh xe, tràng đ́nh, đoản
đ́nh, quan san, quan tái… đều đồng quy v́ hợp đề
con đường. Con đường vừa là một phương tiện vừa là một cấm đoán: ở
đâu có con đường là ở đó con người có thể đi tới, nhưng không thể tách
ra khỏi một lối đă vạch sẵn. Con đường do đó vừa giải phóng vừa câu thúc
con người, vừa phát huy nhân tính, vừa hủy diệt cá tính. Con đường là
phương tiện tự thức mà cũng là phương tiện tha hoá.
Đường c̣n là lối là nẻo; lối ṃn cỏ nhạt…
xăm xăm đè nẻo Lam-Kiều. Nhưng đường là một trong những đường, có
thể chấp nhận một sự vật đồng dụng trong khi lối có tính cách độc đạo:
trước một lối, con người tưởng là chọn lựa nhưng kỳ thật là bị chọn, lối
là giải pháp nhưng là một giải pháp duy nhất. Vậy cần phải hỏi lại
Tam-hợp Đạo-cô: có lối nào mà không là lối đoạn trường?
Lối là một trong những đường, nhưng đường không phải là một trong những
lối. C̣n nẻo là những cơ hội mong manh, khiêm tốn, những đơn đạo
phiêu lưu; nẻo có thể vắn tắt, đợi những người thoát ly vội vă… Và tất
cả đường, nẻo, lối, dặm… đều đưa con người ra khỏi một giới hạn bằng
cách g̣ bó con người vào giới hạn khác, vượt biên giới ngang để ḍ theo
biên giới dọc. Đó là h́nh ảnh tầm sống hữu hạn của con người.
Nguyễn Du muốn nh́n thấu suốt giới hạn đó để làm chủ bước chân, dù những
khi cũng liều nhắm mắt…, muốn chủ động trong phạm trù thụ động.
Từ ư hướng đó, vũ trụ Nguyễn Du sợ những âm thanh. Mỗi lần có tiếng động
trong Truyện Kiều là một lần tai ách: sai nha bỗng thấy bốn bề
xôn xao khi qua biến. Tiếng người đâu đă mái sau dậy dàng khi
Sở Khanh rẽ lối, âm thầm khốc quỷ kinh thần khi Ưng, Khuyển ra
tay. Những âm thanh dù nhẹ nhàng như tiếng chim, cũng trở thành nhức
nhối với Nguyễn Du: Con oanh học nói, quyên nhặt nhạn thưa, nghe chim
như nhắc. C̣n thiên nhiên th́ đến với thính giác trong cơn đùng
đùng gió giục, ầm ầm tiếng sóng. Thúy Kiều bị âm thanh ám ảnh đến
nỗi phải hốt hoảng khi vó ngựa Từ Hải khải thắng trở về… Giai đoạn ầm ĩ
nhất Truyện Kiều vang dội bóng cờ tiếng la, trống trầu đại
doanh, om tḥm trống trận, rập ŕnh nhạc quân. Những âm thanh không
khốc hại nhưng cũng không êm ái. C̣n tiếng đàn Thúy Kiều? Phải nói những
tiếng sắt tiếng vàng chen nhau là những âm thanh người ta nghĩ
đến chứ không phải là nghe thấy. Sở dĩ trong Truyện Kiều tiếng
động chống lại con người v́ thính giác là cơ quan thụ động, không muốn
nghe cũng phải nghe. Nguyễn Du chỉ chấp nhận ngoại giới đó. Ngoại giới
chỉ dành cho con người một khoảng biên tế hữu hạn, th́ ngược lại con
người cũng chỉ dành cho ngoại giới một cái lẽ tương tự.
Nói tóm lại Đoạn Trường Tân Thanh là thí nghiệm hữu hạn của Nguyễn-Du
và nghệ thuật là chiến thắng trong thí nghiệm đó…
Trong địa phận do Định mệnh kiểm soát con người dựng lên một Định mệnh
khác là nghệ thuật. Nghệ thuật biến thân phận con người thành một niềm
vui mới, dựng cái đẹp lên trên oan khiên của cuộc sống. Nguyễn Du cướp
lại quyền tự do trong tay Thượng đế khi nói được câu Đục trong thân
vẫn là thân. Nguyễn Du bôi xoá quyền uy thời gian khi nói được rằng
hoa tàn càng lại thêm tươi, Trăng tàn mà lại thêm mười rằm xưa.
Vẻ đẹp của nụ hoa hàm tiếu là chiến thắng của thiên nhiên; vẻ đẹp của
đoá hoa đă ĺa cành là chiến thắng của con người là nhiệm vụ của
nghệ thuật. Hiểu theo nghĩa đó, trước những từ chối của số mệnh, nghệ
thuật là một chiến thắng. Trong lúc Việt nam kỷ niệm Tố-Như, th́ thế
giới tổ chức kỷ niệm Dante. Tôi thấy một t́nh cờ có nhiều tương quan và
dồi dào ư nghĩa. Dante và Nguyễn Du, đối với chúng ta là lịch sử, là của
một thế giới vật chất khác. Cả hai đều sống chung số phận cùng quẫn của
những thiên tài bị ngược đăi. Dante một người t́nh tuyệt vọng, một học
giả dang dở, một chính trị gia thất bại, một tông đồ bị chối bỏ, một
người yêu nước bị xua đuổi. Cũng không hơn ǵ Nguyễn Du. Nhưng nghệ
thuật của họ đă vươn ra khỏi vùng trọng lực để tổng hợp biện chứng của
thực thể và siêu thể, của thời gian và vĩnh cửu. Nghệ thuật của họ dựng
nên một thái dương hệ song song với vũ trụ để vạch chiều hướng cho những
hành tinh mới. Tác phẩm của họ là một sự nghiệp luyện kim để gạn lọc
vàng thau; từ khoáng chất của thực tế, họ đă dùng nhiệt lượng tinh thần
lấy ra kim loại và tiếng nói của họ ngân vang, cứng rắn và bất diệt như
một chất hợp kim chói sáng.
Giá trị truyện Kiều là ánh sáng của nó chứ không phải là thành tố
của nó. Ánh sáng đó là niềm tin của ngôn ngữ, của con người, bên ngoài
vĩ tuyến của định mệnh và kinh tuyến của lịch sử. Địa dư mới của tâm hồn
có đạo lư và pháp luật riêng, cho phép một cô gái lăn lóc mười lăm năm ở
chốn lầu xanh được dơng dạc nói lên:
Chữ trinh c̣n một chút này
Nói một cách dơng dạc, tự hào, đanh thép v́ đấy là tiếng nói của nghệ
thuật, của chiến thắng.
Và chiến thắng chính là cái ǵ c̣n lại khi vị tướng quân chết đứng giữa
trận tiền; cũng như vẻ đẹp là cái c̣n lại khi một cành hoa đă tan tác
giữa đường, chung thủy là những ǵ c̣n lại khi người đàn ông đă chắp nối
tơ thừa, tiết trinh là những ǵ c̣n lại khi người đàn bà đă bị vùi dập
trong chốn thanh lâu, và t́nh yêu là những ǵ c̣n lại khi con người đă
quên nhau, hạnh phúc là những ǵ c̣n lại sau khi con người đă oan khổ.
Để nói rằng nghệ thuật là những ǵ c̣n lại khi định mệnh bị bôi xoá.
[1]Nguyễn Du et le Kiều, 1965, tr. 73
[2]Tạp chí Nghiên cứu Văn
học số 1, năm 1963, tr. 32.
[3]Trương Tửu, Truyện Kiều
và thời đại Nguyễn Du, 1956.
[4]Nguyễn Du et le Kiều,
1965, tr. 74
[5]Chữ của Mộng Liên Đường,
Hoài Thanh trích dẫn.
[6]Lịch sử Văn học V. N.
Sơ giản, 1961, tr. 233, của Văn Tân và Nguyễn Hồng Phong.
[7]Bách khoa, số 209,
tr. 25.
[8]Vũ Hạnh, trong bài diễn
thuyết về Kiều ngày 5-9-65 tại trường Quốc gia Âm nhạc, trích đăng
Bách Khoa số 209.
[9]Truyện Kiều đă được
dịch ra: Tiếng Pháp: Thu Giang, Paris 1915, Crayssac, Hà nội 1926.
Nguyễn Văn Vĩnh Hà-nội 1942. Xuân Việt, Xuân Phúc, Paris 1961. Nguyễn
Khắc Viện, Hà-nội 1965. Tiếng Anh: Lê Xuân Thủy, Saigon 1961. Tiếng
Trung Hoa: Hoàng Giát Cần, Bắc-kinh 1959. Tiếng Nhật: Aoi Komatsu, Tokyo
1949. Tiếng Tiệp: Gustav Franck, Prague 1957. Tiếng Đức: Franz Faber et
Inère, Bá-linh 1965. Tiếng Ba-lan: Maria Kurecka (trích dịch). Ngoài ra
c̣n có những khảo luận bằng tiếng Nga của Nikouline (1959), tiếng Ư của
Coedes (1957) v.v…
Bản kê khai c̣n nhiều thiếu xót này chỉ nhắm gợi một ư niệm về sự phổ
biến của tác phẩm trên thế giới.