Đặng Tiến

VŨ TRỤ THƠ  I

TẢN ĐÀ,

THI SĨ CỦA PHÔI PHA

 

Đặng Tiến qua nét vẽ Đinh Cường 1979

 

 

          TẢN-ĐÀ sinh ngày 24 tháng Tư năm Kỷ sửu (Thành Thái nguyên niên) nhằm ngày 23 tháng 5 năm 1889, tại làng Khê-thượng, huyện Bất-bạt, tỉnh Sơn-tây, Bắc Việt, ḍng dơi khoa cử xuất thân. Thuở nhỏ học chữ Hán với cha anh, rồi học Quốc ngữ tại trường Tân-quy ở Hà-nội. Thi rớt, thất t́nh, ông đâm thất chí. Sau lập gia đ́nh và bắt đầu viết báo. Thoạt hợp tác với Đông dương tạp chí nhưng không đủ mưu sinh. Từ chối theo học trường Hậu bổ dù đó là một đặc ân của nhà cầm quyền thực dân Pháp dành cho ông. Sáng tác tuồng cho các gánh hát. Rồi sau đó, lênh đênh suốt mười mấy năm trong làng thơ làng báo: chủ bút tạp chí Hữu Thanh (1921), thành lập Tản Đà thư điếm, chủ trương An-nam Tạp chí (1925), vô Nam kỳ viết giúp các báo Thần Chung, Đông Pháp, Thời báo, trở ra Bắc dịch thơ Đường cho tuần báo Ngày Nay, chú giải truyện Kiều, dạy chữ Hán, giữ mục thơ trên Tiểu thuyết Tuần san, viết mướn cho Phật học tạp chí Tiếng chuông sớm… Nghề thơ, nghề báo chẳng đủ nuôi sống gia đ́nh nên vào khoảng cuối đời, ông đă cho đăng báo quảng cáo xem số Hà lạc để kiếm thêm. Sau cơn đau dài, ngày 20 tháng Tư năm Kỷ măo (7-6-1939), Tản Đà từ giă cơi đời nhiều hệ lụy trong một căn nhà tồi tàn mang số 71 Ngă tư Sở, ngoại ô Hà-nội, để lại một vợ tám con cùng một gia tài phong phú cho nền văn học đất nước.

Thơ Tản-Đà, cho tới nay c̣n được nhiều người ưa thích. Được thế v́ thi sĩ đă bảo tồn được cái cũ, dung nạp cái mới. Và cũng v́, ngoài đặc tính thanh nhă bay bướm của ḍng thơ trữ t́nh, với những h́nh ảnh trau chau chuốt và âm điệu thanh tao, thơ Tản Đà c̣n kư thác trọn vẹn tấm ḷng khắc khoải, thiết tha đối với non sông đất nước trong thời bị trị…

*


Nguồn thơ nào mà không mang ít nhiều nhan sắc của phôi pha, nếu bản chất của thơ không phải chính là di tích của phôi pha… Tập thơ nào hay mà không u ẩn một cuộc tiễn đưa, một lời tống biệt?

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai [1]

Tản-Đà. Một ước vọng trường tồn. Ai nói trường tồn mà không nghĩ đến pha phôi? Ư thức hương nhạt màu phai do đâu mà có? V́ giấc mộng công danh sớm hăo huyền. V́ gia đ́nh ly tán, v́ sự nghiệp văn chương ba nổi bảy ch́m? Hay v́ mối t́nh đầu với người đẹp hàng Bồ? Hay chỉ là cái nh́n yếm thế tự nhiên của kẻ sống giữa những đổi thay lớn lao của thế cuộc? Chung quanh những giả thiết đó, chúng ta thử t́m về ngôn ngữ của Tản-Đà, t́m lại giữa vũ trụ đang tàn phai, một thân phận hư ảo bám quanh một triết lư phù du.

Những bài thơ hay của Tản-Đà, những tác phẩm đích thị là thơ, thường mang không khí ngậm ngùi của cách biệt, của úa héo trong một cuộc sống đang ĺa tan.

Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá rơi hàng xóm lá bay sang

Một ngoại cảnh úa héo và tan tác. Xác lá trong thơ Tản Đà mang theo niềm đau đớn chua xót rồi ngậm ngùi của nhiều giai đoạn từ ly. Rụng là chia ĺa, rơi là viễn cách, bay là sống lại, là trở về với kư ức, với một kiếp sống khác.

Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly.

Rơi rụng ở đây là vĩnh biệt ngàn đời trong kiếp sống dù có tuần hoàn cũng vẫn là duy nhất trong trần gian đang tự hủy. Ở đâu đó, ngoài trần gian th́ lá đào không rơi rụng rơi rắc. lối Thiên Thai vốn là cảnh tràng sinh, chỉ có sinh ly mà không tử biệt. Rụng là đau xé, là đoạn trường. Rơi là vết thương đang hàn gắn, bằng thời gian, bằng xa cách, bằng những ngọn thu phong.

Gió thu lạnh lẽo mây trời quang
Sân thu đêm khuya rơi lá vàng
Trăng tà ch́m lặn, nhạn kêu sương
Gối chiếc, chăn đơn, thiếp nhớ chàng

Tôi giữ lại cảm giác ch́m lặn của một chiếc lá rơi. U hoài của thiếp là niềm tự hoài trong gối chiếc chăn đơn. Sân thu chỉ là một khí hậu nhớ nhung, là một tâm cảnh đă ngoại hoá t́nh yêu của thiếp, trong đó kỷ niệm của chàng rơi dịu nhẹ, êm ái và thụ động. Có thể chỉ rơi bên hàng xóm. Chiếc lá không hồi sinh thảng thốt trong kư ức như một chiếc lá bay

Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay
Gió đưa người cũ lại về đây.

Người cũ trở về. Có khi chỉ là kỷ niệm trở về, lúc thực tế đă hoàn toàn úa héo, đă từ màu vàng luyến lưu nhựa sống đến màu hồng của vĩnh cách muôn đời.

Hồng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn ḱa ai vẫn đứng đông.

Từ lá vàng đến vàng bay mấy lá, thực vật chuyển thành màu sắc, chỉ c̣n là màu sắc theo thị giác nhập vào tâm cảnh, một nội giới nhạt mờ và hờ hững. Bỗng dưng sự phụ bạc hoà đồng với ngoại cảnh ĺa tan và tan và trở thành thi vị, hờ hững ở đây là một nguồn mỹ cảm v́ nó đă hoà hợp với những màu sắc tàn phai, ở cái phút trần gian ngất lịm.

Hồng bay mấy lá năm hồ hết.

Tuyệt diệu ở chữ hồ, yếu ớt như một hơi thở đang hấp hối, quyến luyến như đôi mắt ĺa đời, nhưng dịu dàng, chịu đựng, b́nh thản đến hững hờ. Thơ thẩn ḱa ai vẫn đứng trông cũng như một thế giới khác thơ thẩn bóng trăng chơi là một dáng điệu vu vơ, một tâm trạng mờ nhạt như được tiết chế để cùng phôi pha với hồng bay mấy lá.

Mấy lá là bao nhiêu lá? Vài ba lá, dăm bảy lá? Nhất định phải nhiều hơn

Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay.

Một chiếc lá bay mang theo một ư niệm, hay một cuộc đời, một giấc mơ. Có khi là sự hồi tỉnh, v́ mỗi chiếc lá có một giới hạn minh bạch, vẽ ra trong không gian một chu tŕnh nhất định. Tôi c̣n nhớ câu thơ thật đẹp của Vũ Hân, một thi sĩ tài hoa ít người biết đến:

Một lá ngô vèo qua cửa trúc
Giật ḿnh phấn mộng trắng canh thân [2]

Một chiếc lá đưa về thực tại minh mẫn – cái minh mẫn của Yên Đổ tựa gối ôm cần chẳng hạn – không như vàng bay mấy lá đưa vào cơi mộng, hay đưa đến biên giới một thực tại đang phôi pha, nhưng vẫn c̣n luyến lưu, ḥ hẹn. Mấy lá là một lượng số phiếm định lưu lại một hy vọng mơ hồ, có thể thẩn thơ hay hờ hững. Khác với

Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi.

Ở đây chỉ c̣n xác lá. Không c̣n tan tác gợi nhớ nhung thương tiếc. Nguyễn Công Hoan kể lại là Tản Đà rất đắc ư với chữ vèo [3] sắc bén đến tàn nhẫn, chứ không nhẹ nhàng như chiếc lá vàng trước gió trong thơ Nguyễn Khuyến. Chữ vèo ở đây gọn gàng, chóng vánh dứt khoát. C̣n lại là lá rụng đầy sân, nấm mồ của dĩ văng để tóc bạc thương thân. Khác với chiếc lá, mấy lá, ở đây đống lá là sự huỷ diệt vĩnh viễn, bất khả kháng.

Trong cảnh mây nước tan ĺa đó, tàn phai đưa tiễn tàn phai

Lá sen tàn tạ trong đầm
Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa
Sắc đâu nhuộm ố quan hà
Cỏ vàng cây đỏ, bóng tà tà dương.

Cây cỏ tiễn đưa nhau trong cùng một chuyến ra đi, khi ánh sáng và màu sắc cũng dặt d́u quyến luyến. Tản Đà chuộng tả những cảnh hoá sinh của trời đất, dù tin hay không tin ở tuần hoàn, giọng điệu lúc nào cũng u hoài

Giăng kia tṛn được mấy khi
Hoa kia nở được mấy th́ hỡi hoa
…Khúc sông bồi lấp nên cồn
Dâu xanh băi bể đá ṃn nước khe.

Tản Đà tả những tàn phai, không phải chỉ để nói lên ư tưởng phù sinh thấm thoắt, mà chính v́ những tàn tạ đó chứa chan một nét đẹp năo nùng

Hoa ơi! hoa hỡi! hoa hời
Đương ở trên cành bỗng chốc rơi
Nhị mềm cánh úa
Hương nhạt màu phai
Sống chửa bao lâu đă chết đời.

Cảnh vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết dĩ nhiên là một ước lệ của văn xưa; Tản Đà đă ra ngoài ước lệ, để cảm xúc lắng xuống chiều sâu của ngoại cảnh: cánh hoa tàn, ngoài giá trị tượng trưng, c̣n có cái vẻ đẹp thê thiết của nó

Nhị mềm cánh úa
Hương nhạt màu phai

Âm giai năo nuột gợi lại một sự chia phôi nào đó

Đá ṃn, rêu nhạt
Nước chảy huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời

Thế giới Tản Đà tàn phai nhưng không mong manh chợt biến; thơ Tản Đà quyến luyến, như muốn e ấp, giữ ǵn, rồi buông thả dần dần với thời gian. Giữa những phôi pha vẫn c̣n chút ǵ vương vấn. Danh hiệu Tản Đà cũng là một hẹn ước với trần gian. Cho nên hương chỉ nhạt mà chưa tan, như màu rêu c̣n lưu luyến vết chân. Màu tuy chưa phai mờ mà c̣n đợi chờ vĩnh biệt. Thơ Tản Đà chậm lại ở cái phút mong manh đó như một ngưng đọng, tŕu mến. Lúc phải rời tay, nhà thơ c̣n t́m cách hẹn ḥ, như trong “Thề non nước”.

Lời thề đó chỉ là niềm an ủi, một ảo giác thơ ngây. Giờ hội ngộ c̣n luôn là một vỗ về trong ly cách; mưa về nguồn ngàn dâu xanh tốt, chỉ là một hư tưởng, do lư trí lợi dụng địa lư thiên nhiên ngụy tạo nên để xoa dịu niềm xót xa trong vĩnh cách. Lời lẽ và t́nh cảm đẹp nhất của bài thơ thắm thiết nhất, sâu xa nhất không phải lời nhắn nhe mộc mạc ngây thơ ở đoạn cuối

Bảo cho non chớ có buồn làm chi

mà ở lời vĩnh biệt năo nùng ở đoạn đầu

Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô gịng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đă đầy tuyết sương
Trời tây ngả bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.

nếu chỉ tả cảnh Non nhớ Nước, nhất là để tŕnh bày quan niệm thiên địa tuần hoàn, hay lư thuyết tương đối, như giáo sư Nguyễn Đăng Thục đă có lần giải thích rất tinh tế trên tạp chí Luận Đàm cách đây non mười năm mà tôi tiếc là không c̣n giữ, th́ nhà thơ khó mà thốt lên những tâm t́nh thống thiết như thế. Tôi cho rằng không chỉ có Non nhớ Nước, mà c̣n người nhớ người, nhớ cảnh, nhớ đời, hay nhớ chính ḿnh cũng được. Một trăm nỗi nhớ mơ màng đó, tại sao ta không góp lại cho Người t́nh nhân không quen biết? Cái người không biệt mà ly trong tâm tưởng người thơ. Những chữ gịng lệ, xương mai, tóc mây, vẻ ngọc, nét vàng phải thể hiện t́nh người. Tản Đà thiên nhiên hoá nhân t́nh th́ đúng hơn là nhân cách hóa nước non. Ít ra, đó cũng là một cách nh́n, một cách hiểu. Và khi đă đặt cuộc sinh ly vào giới hạn một đời người, th́ quan niệm thiên địa tuần hoàn không giải quyết được ǵ hết. Nước có thể về với non, chắc chắn là về lại với non, chúng ḿnh làm sao biết c̣n về lại được với nhau? Chính Tản Đà cũng hoài nghi những giá trị vĩnh cửu

C̣n ai ai tỉnh ai mê
Những ai thiên cổ đi về những đâu.

Ngọn nước sông Hoàng Hà, trong nửa kiếp phù sinh, sẽ không c̣n bao giờ trở lại. Nước trong thơ Tản Đà là thứ nước đi đi măi, cũng như nhà thơ c̣n nặng gánh t́nh. Nước tượng trưng cho thời gian phôi pha, không những v́ không về cùng non. Nước là mạch sống của mạch đất, lương thực của thiên nhiên: nước là sự sống phát nguyên, chuyển hóa rồi huỷ diệt. Nước là thời gian trong cái lẽ sinh tử của con người, là trần gian, là nguồn sống đồng thời cũng là cơi chết. Nh́n suối tuôn róc rách ngang đèo là tự nh́n ḿnh và nhất là nh́n ḿnh đang sống, trong một nhăn quan hăn hữu v́ không dễ ǵ vừa sống vừa nh́n ḿnh sống. Nước là nguồn thi hứng bất tận của các nhà thơ Đông Tây, v́ là một vật chất môi giới, nuôi dưỡng mộng mị. Chất lỏng vừa thấm sâu vào ḷng vũ trụ, vừa buông thả cho phỉ t́nh người bơi lặn, nước là nguồn ân ái chan chan giữa người và vũ trụ. Nhưng ở Tản Đà, yếu tính của nước không phải ở tính chất đó, như trong mắt em là một ḍng sông của Lưu Trọng Lư, yếu tính của nước chỉ là sự luân lưu, một vận tŕnh miên viễn

Sông nước chảy núi mây bay

V́ chỉ là một hành tŕnh, cho nên nước, cũng như mây, chỉ có chuyển động mà không có h́nh thể, như là trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ của Bà Huyện Thanh Quan.

Đặc trưng cho vật chất vô thể là mây, c̣n phù ảo hơn cả nước, biến tan không vết tích, nước chảy mây bay trời ở lại. Nước và mây là thời gian mà cũng là không gian, một không gian bất hạnh, v́ nước mây là viễn cách

Bốn phương mây nước người đôi ngả
Hai chữ tương tư một gánh sầu

Mây nước ra đi th́ nhà thơ cũng ra đi, khi trời chưa nghỉ. H́nh ảnh quen thuộc Tản Đà để lại là một hành nhân thất thểu. Thơ Tản Đà là một thứ thi ca lang thang. Trần thế phôi pha nói trên phản ảnh một nhân-sinh quan xem kiếp sống như là bèo dạt hoa trôi. Quan niệm đó không có ǵ là đặc biệt trong lịch sử văn học, chỉ khác lạ ở chỗ Tản Đà sống trọn vẹn tư tưởng đó. Chu-Thần, Uy-Viễn cũng nói lên quan niệm phù sinh, những vẫn cố cùng trong định luật xuất xử. Tản Đà không cố cùng. Từ lối nh́n ngoại cảnh, lối sống, cách sáng tạo, cách xử thế đều theo hàm số phôi pha. Chuyện Thiên lương hay Dư đồ chỉ là cái ngông của nhà thơ, không phải của người thất chí. Những đại nghĩa ấy, thỉnh thoảng có nồng nàn th́ cũng chóng bay đi như hơi rượu. Tản Đà danh vọng chẳng là bao, nhưng sống nhẹ nhàng sảng khoái, như trong giấc mộng

Đời người như giấc chiêm bao
Trơ trơ là cái hoa đào gió đông

Tản Đà yêu giấc chiêm bao đó và sống trọn vẹn chân thành với phù thế, v́ ngoài ba vạn sáu ngàn ngày ra, không có sự cứu rỗi nào khác. Dù cho

Nước chảy ngày tháng đổi thay
Non sông ngày cũng một ngày khác xưa.

Ngoại cảnh là một tuồng ảo hoá. Tản Đà không than trách, không cay đắng, chỉ u hoài man mác. V́ chính tâm t́nh ḿnh, h́nh hài ḿnh cũng đổi thay, trách ǵ tṛ băi bể nương dâu?

Trông gương ḿnh lại ngợ ḿnh
Phải chăng vẫn giống đa t́nh ngày xưa.

Thái độ viên hoạt của nhà thơ cho ta cái cảm giác như Tản Đà đă t́m ra được cho ḿnh một giải pháp thích hợp giữa trần thế: đó phải chăng là lối sống trung dung giữa một xă hội đang băng ră? Tản Đà hờ hững với công danh nhưng không hờn giận số mệnh, sống giữa ḷng đời mà không hề tục lụy. Hai câu thơ gói ghém quan niệm khoan dung của nhà thơ:

Đời chưa duyên kiếp ai xanh mắt
Khách chẳng công danh cũng bạc đầu.

Ngay đến cái chuyện văn chương cũng không thoát khỏi ṿng hoá sinh của tạo vật

“Tạp chí” mười kỳ duyên đă nhạt
“An Nam” hai chữ mực hồ phai.

Nhạt phai là thế giới trong đó Tản Đà dàn bày một thế sống, quay chung quanh nghệ thuật hưởng thụ

Chắc có một phen đời khóc tớ
Đời chưa khóc tớ, tớ c̣n chơi.

Lối chơi thứ nhất của nhà thơ giang hồ như muốn đánh lận thời gian, bằng cách lẫn với đời quay như trong Xuân Diệu. Sự xê dịch làm cho người ta có cảm giác không mất th́ giờ, sống kịp với thời gian như trong một chuyến xe. Giang hồ là sống tham, sống vội. Đi bách bộ thoải mái hơn ngồi một chỗ v́ cái không gian thu được tạo ảo giác lấp đầy khoảng thời gian trôi qua. V́ muốn sống vội mà nhà thơ đă bỏ khói hương trừ tịch

Chơi xuân kể lại hành tŕnh
Ngày ba mươi tết hứng t́nh ra đi.

Định mệnh nhà thơ là một chuyến đi, chỉ dừng lại ở một quê hương là ngôi mả cũ bên đường. Ở mỗi nơi tạm trú, nhà thơ ghi lại những Thú ăn chơi trên lộ tŕnh đánh dấu thời gian, như những hương vị ẩm thực cũng là di tích của tàn phai. Nhà thơ đă giang hồ mê chơi quên quê hương v́ quê hương là một cơi về, một nấm mồ thời gian mà nhà thơ chưa muốn kư thác h́nh hài.

Lối đánh lận thời gian thứ hai là say:

Rượu say thơ lại khơi nguồn
Nên thơ rượu cũng thêm ngon giọng t́nh
Rượu thơ ḿnh lại với ḿnh
Khi say quên cả cái h́nh phù du.

Thơ và Rượu đều có thể có tác dụng giải thoát con người khỏi trần lụy. Say là sống ngoài đời. Để nh́n đời luân chuyển. Thơ và rượu khác nhau ở chỗ Thơ là một cố gắng của tri thức để nhảy vọt ra khỏi biên giới của thực tại c̣n Rượu là một trạng thái thụ động của cơ thể. Tôi không khỏi không nhớ đến những câu thơ của Hà Nguyên Thạch về tương quan giữa Thơ, Rượu và Cuộc Đời:

C̣n những chén rượu sầu chưa uống cạn
Nên ta làm thơ có nghĩa chờ say
Lúc say khướt sẽ quay cuồng hoài vọng
Chạy quanh đời nghe hồn nhẹ như mây [4]

Ra ngoài đời mới nh́n thấy chân tướng của cuộc sống, như Tản Đà đă nhận xét:

Mảnh h́nh hài quen giả trá xưa nay
Chúng sinh tưởng lúc này coi mới hiện.

Hơi men giải thoát con người ra khỏi những câu thúc của trần lụy, của thân thế phù du, tạo cho thần trí cảm giác đồng đẳng tề vật để nh́n suốt đến chân như. Phút thoát nghiệp trong hơi cay là một thứ cứu rỗi của Tản Đà trong trần thế phôi pha, cho nên nhà thơ vừa say sưa vừa tả cái say sưa một cách say sưa. Âu say sưa cũng là một cách tránh say đắm.

Nói tóm lại thơ Tản Đà là một thế giới trong đó tất cả đều biến thể kể cả vô thể. Giữa cảnh tàn phai của tạo vật, phải chăng nhà thơ - mỗi nhà thơ Đông phương là một triết nhân- đă tạo ra đời sống một triết lư phôi pha, đại để như tôi đă tŕnh bày? Không có ǵ chắc chắn cả. Thi giới và quan niệm sống của Tản Đà không nhất thiết phải làm thành một hệ thống suy cảm, dù chỉ trong vô thức, như tôi đă mô tả. Kỹ thuật biên khảo đ̣i hỏi tôi phải viết cho có mạch lạc. Nhưng cái mạch lạc đó có tính cách từ chương và giả tạo, thực chất của văn nghệ không mạch lạc một cách giản dị như thế. Tôi đi t́m một Tản Đà nào đó, không nhất thiết phải là Tản Đà duy nhất hoặc chân chính. Cũng không nhất thiết là Tản Đà của tôi. Dĩ nhiên là tôi không bao giờ nghĩ ḿnh có cái nh́n nhất quán và dứt khoát về Tản Đà, cũng như về bất cứ một nhà thơ nào khác.

Hoa lá đang tàn phai đâu đó cũng như mây nước đang ĺa tan, chỉ là một cái nh́n. Một cái nh́n đang phôi pha.

Và lời nói cũng phôi pha.

Fribourg, 24-8-1970
Đặng Tiến

 


[1]Thơ Tản Đà trích dẫn trong bài này dựa theo bộ Tản-Đà vận văn toàn tập của nhà xuất bản Hương Sơn, Hà-nội, 1952.
[2]Diễm Trang, Huế, 1956, không ghi nhà xuất bản, tr. 47.
[3]Tạp chí Văn Nghệ, Hà Nội, tháng 1-1963.
[4]Nguyệt san Tân Văn, Sài G̣n, số Xuân Canh Tuất (1970).
 

 

Trang Đặng Tiến

Art2all.net