|
Đào Thái Sơn
KHÁI LUẬN VỀ THƠ TỨ
TUYỆT

Thơ tứ tuyệt là một thể thơ có từ xa
xưa và ngày nay các nhà thơ vẫn tiếp tụng sử dụng nó để sáng tác, kư thác tâm sự
của ḿnh. Với sức sống mănh liệt như thế nhưng cho đến nay tên gọi của nó vẫn
chưa được ngă ngũ, vẫn có nhiều ư kiến khác nhau về tên gọi đứa con của nghệ
thuật này.
Theo Dương Quảng Hàm th́ tứ 四là bốn, tuyệt 絕 là đứt, “ lối này gọi thế v́ thơ tứ
tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài thơ bát cú mà thành”. Theo cách hiểu này c̣n
có cả Trần Trọng Kim và Trần Đ́nh Sử, nhưng Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức c̣n
giải thích thêm “ Tuyệt là cắt, là dứt nhưng là dứt câu, dừng bút để trọn một ư
bài thơ, sau khi viết câu thơ thứ bốn. Bởi v́ một câu chưa thành thơ, hai câu
mới thành một vế đối liên, ít nhất bốn câu mới có vần, khi đó mới thành bài
thơ”. Cách hiểu của các vị trên đây về thơ tứ tuyệt coi như là cơ bản được nhiều
người chấp nhận nhất.
Bên cạnh đó th́ một số người lại giải thích bằng một cách hiểu khác.
Theo Bùi Kỷ th́ “ Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt. Chỉ
trong bốn câu mà thiến thâm, ẩn hiện, chinh kỳ, khởi phục, đủ cả cho nên gọi
tuyệt”. C̣n Phan Văn Nhiễm th́ lại hiểu tuyệt là tuyệt vời “ thơ bốn câu gọi là
tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi là tuyệt cú, tức là bài thơ hay tuyệt vời, v́ chỉ
có bốn câu 20 từ hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ư tứ của một đề tài theo đúng
luật lệ của thơ Đường”.
Có thể nói các nhà nghiên cứu ai cũng có lư cho cách phân tích biện giải của
ḿnh. Điều đó càng chứng tỏ sự phong phú, phức tạp và rất kỳ diệu của thơ tứ
tuyệt.
Nếu hiểu theo cách thứ nhất th́ ta có một số cách cắt bốn câu của một bài bát cú
để thành một bài tứ tuyệt như sau ( theo niêm luật của một bài bát cú).
Cắt bốn câu đầu thành bài thơ ba vần và hai câu cuối phải đối nhau : “ Xông
pha bốn cơi bể chông gai / Vùng vẫy mười phương bụi cát bay / Phép nước gọi là
tơ chỉ buộc / Sức này nào quản búa ŕu lay”.Cắt bốn câu giữa thành một bài
thơ hai vần và cả bốn câu phải đối nhau : “Lởm chởm vài hàng tỏi / Lơ thơ mấy
khóm gừng / Vẻ chi là cảnh mọn / Mà cũng đến tang thương”. Cắt bốn câu dưới
thành bài thơ hai vần và hai câu đầu phải đối nhau : “ Vắt vẻo sườn non trạo
/ Lơ thơ mấy ngọn chùa / Hỏi ai là chủ đó / Có bán tớ xin mua”. Cắt hai câu
đầu và hai câu cuối thành bài thơ ba vần và cả bốn câu không phải đối nhau, cách
này nhiều người sử dụng nhất : “ Từ thuở thuyền đưa khách thuận dầm / Trông
chừng bến cũ biệt mù tăm / Cảm thương chiếc lá bay theo gió / Riêng nhớ t́nh xưa
ghé đến thăm”. Cắt câu 1-2 và câu 5-6 thành bài thơ ba vần và hai câu cuối
phải đối nhau : “ Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi / Chốn nghiêm thăm thẳm một ḿnh
ngồi / Tép miệng năm ba con kiến gió / Nghiến răng chuyển động bốn phương trời”
Nếu hiểu thơ tứ tuyệt theo cách thứ hai và mở rộng thêm th́ một bài thơ không
dứt khoát phải làm theo cổ tuyệt hay luật tuyệt mới gọi là tứ tuyệt, mà chỉ cần
một bài thơ ngắn có bốn câu làm theo thể thơ ǵ cũng được, miễn hay là tứ tuyệt.
Cách hiểu này không phải không có lư mà c̣n có sự thông thoáng, mở rộng. Chẳng
hạn khi ta đọc một bài lục bát bốn câu của Đồng Đức Bốn “ Chăn trâu cắt cỏ
trên đồng/ Rạ rơm th́ ít gió đông th́ nhiều/ Mải mê theo một cánh diều / Củ
khoai nướng cả buổi chiều thành tro” hoặc một bài khác của Trần Lê Thanh
Loan “ Thượng Đế cho em vài sợi nắng / Dệt tơ xuân cho cánh én an b́nh / Và
bất giác én xa miền rung cảm / Đưa em về với cơi Phúc Sinh” th́ rơ ràng đây
là những thi phẩm rất “ tứ tuyệt” ! Có thể nói rằng một bài thơ hay cần phải súc
tích, không cần phải dài ḍng kể lể mà phải có sự cân đối, lời ít ư nhiều, với
đặc tính này th́ thơ tứ tuyệt rất đảm bảo. Thơ càng ngắn th́ sức khái quát phải
càng cao mới tạo ra được một tiểu vũ trụ của nó. Một bài thơ tứ tuyệt hay phải
lựa chọn được những khoảnh khắc dồn nén của đời sống tinh thần, những hiện thực
của tâm trạng, những phút thăng hoa của tâm linh…Phải dồn nén biểu cảm để tính
khái quát của triết lư đạt tới cao độ. Thơ tứ tuyệt nên gợi không nên tả và điều
đó cần được nghe nh́n qua những cánh cửa như : quá khứ – hiện tại, t́nh – cảnh,
sống – chết, thực – mộng, động - tĩnh…và thông qua đó người đọc sẽ cảm nhận được
nét bản chất một quy luật hay một chân lư cuộc sống. Cụ thể hơn một bài thơ tứ
tuyệt hay cần phải đảm bảo ba vấn đề chính đó là thi đề, thi tứ và thi ư. Thi đề
là đề tài của bài thơ. Với thơ tứ tuyệt th́ thi đề cần phải trang trọng, vĩnh
hằng, con người trong đó thường nhỏ bé, hữu hạn trước cái vũ trụ không cùng. Thi
tứ là vấn đề biểu hiện xuyên suốt bài thơ được tạo bởi thứ ngôn ngữ khái niệm,
khái quát chấm phá và điều này là vấn đề tất yếu để lượng thông tin nghệ thuật
trong từng câu chữ đạt đến sự vi diệu của nó. Tứ thơ tứ tuyệt thường thông qua
các phạm trù lấy tối tả sáng, lấy động tả tĩnh, lấy không gian tả thời gian và
song đó là nhân vật trữ t́nh hữu hạn ch́m sâu trong vô hạn để từ đó trào dậy giá
trị nhân bản của nhân sinh. Thi ư là ư của thơ, đối với tứ tuyệt thường có hai
tầng, tầng nổi và tầng ch́m được sắp xếp một cách hài ḥa theo thứ tự : khai –
thừa-chuyển – hợp
Nói tóm lại thơ tứ tuyệt không xa lạ với người yêu thơ. Về quan niệm thơ tứ
tuyệt là ǵ c̣n tùy vào quan điểm phân tích của mỗi người khác nhau, miễn sao
hợp lư là được. Làm thơ tứ tuyệt không khó lắm, nhưng để có một bài tứ tuyệt hay
là cả một công tŕnh nghệ thuật. Làm thơ đă vậy cảm nhận được nó cũng không phải
là chuyện dễ dàng ǵ. Chính v́ vậy mà xưa nay không ít cuộc tranh luận xảy ra về
một vấn đề được coi là cũ. Âu đó cũng là chuyện ngàn đời của thế giới văn
chương.
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi lệ hạ
Đăng U châu đài ca – Trần Tử Ngang
Tạm dịch : trước không thấy người xưa, sau không thấy ai tới, nghĩ về cơi trời
đất vô cùng, ḷng đau thương nước mắt rơi
Nghiệm văn đạo quán 8/11/2010
Đào Thái Sơn
trang đào thái
sơn
art2all.net
|