Hà Nguyên Lăng 

Về Bát Nhă Tâm Kinh


Bát Nhă Tâm Kinh là một bản kinh cô đọng tinh yếu Phật Pháp. Nỗ lực thâm hiểu Tâm Kinh là rút ngắn, thu gọn được một phần nào biển tu học bao la hầu ngộ nhập giác tâm của người theo Phật Đạo. Dẫu biết việc diễn kinh là một việc vô cùng khó khăn, người viết cũng cố gắng tối đa diễn bày những điều bản thân tâm đắc hầu tạo ra cơ duyên hy vọng được những bậc giác trí, cao minh chỉ giáo. Theo chiều hướng đó, người viết xin tŕnh ra thiển ư: Bản kinh có thể ví như là một tiết lộ đáp án của một đề toán, kèm theo hướng dẫn phép giải làm thế nào để giải đúng đáp án đă cho. Kế đó là định giá sự quan trọng thiết yếu to lớn không có ǵ có thể so sánh bằng của đáp án. Sau cùng là sự cổ vơ để người giải toán nỗ lực tối đa hầu đạt đến kết quả mong muốn.

Đề toán :Cần phương tiện ǵ để dứt sạch nghiệp khổ ?

Đáp án cho sẵn: Đó chính là Trí tuệ siêu việt bao la vượt lên tâm trí chuyên đề phân biệt đối đăi thường tục (Bát Nhă Ba La Mật Đa).

Hướng dẫn cách giải: (Dù Bản Kinh không nhắc đến v́ tính cô đọng của nó, nhưng nên hiểu lư đương nhiên pháp môn nào cũng cần đến Giới+Định+Huệ hầu giải trừ nghiệp lực, định tĩnh tâm trí lăng xăng để có thể có đủ năng lực thực hành vững và sâu vào việc soi xét thực tại). Muốn có được trí tuệ siêu việt vượt lên tâm trí chuyên đề phân biệt đối đăi thường tục ( Bát Nhă Ba la Mật Đa), người thực tâm tu hành phải vận hết ư chí khí lực b́nh sinh soi xét thực tại để thấy cho bằng được cái tâm trí thường tục lăng xăng phân biệt, đối đăi : có không; đúng sai, khổ vui; c̣n mất, xấu tốt, thiện ác… đều dẫn đến sự sai lầm. Cái tâm trí đó chia chẻ thực tại vốn là một tổng thể bất phân ly_một là tất cả, tất cả là một. Cái thấy biết của tâm trí đó chỉ là vụn vặt, phiến diện y như thầy bói sờ voi ! Sự sai lầm của tâm thức là hoặc chấp cái tôi sống c̣n là thật; hoặc chấp cái tôi chết đi sẽ không c̣n ǵ nữa là thật. Từ đó sinh khởi mọi chướng nghiệp, tạo tác khổ đau không dứt :Khổ đau v́ muốn cái tôi thường c̣n nhưng không thể; Tạo tác nghiệp v́ nghĩ cái tôi chết là hết, là trở thành hư vô nên sống buông lung trong đường ác. Trong khi sự thật cái tôi (ngũ uẩn) có+ không đó cũng như vũ trụ vạn vật, kể cả hư không_ cùng đồng có một bản tính duy nhất : không tướng (Ngũ uẩn giai không, chư pháp không tướng). Trong Không Tướng: CÓ là cái ǵ đó có h́nh thể có khối lượng thuộc về vũ trụ vạn vật hữu h́nh, hữu thể (vạn pháp) có thể được ví như sóng và KHÔNG là tướng thường hằng của vạn pháp được ví như nước. Mới thoạt nh́n th́ sóng khác với nước, nhưng thực chất sóng và nước là một_ không sai, không khác. Cũng giống như sóng CÓ chỉ là bề mặt nổi cộm lên nhất thời của KHÔNG TƯỚNG, ví như nước, vốn mang tính tổng thể và thường hằng, nên CÓ và KHÔNG vốn không sai không khác (Sắc tức thị không, không tức thị sắc). Một số không nhỏ người đọc kinh BNBLMĐ thường nhầm chữ KHÔNG trong từ KHÔNG TƯỚNG là không chi, hư vô, hoặc hư không. Từ đó họ hiểu nhầm Ngũ Uẩn Giai Không là năm thứ kết hợp thành cái tôi (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đều ‘sẽ’ là không chi, hư vô hoặc hư không! Mà, thực ra Không Tướng là ‘ bộ mặt căn cơ muôn thuở ‘, là bổn tính của tôi và của vũ trụ vạn vật kể cả hư không (chư pháp, vạn pháp). Không tướng là thực tướng của chư pháp vốn không có khởi đầu không có chung cục, chưa từng sinh ra, chưa từng chết đi, không dơ không sạch; không thêm không bớt (Thị chư pháp Không Tướng : bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm). Để rơ thêm ư nầy ta có thể cho một vài ví dụ :

1. _Hư không qua con mắt trần của ta, ta cứ tưởng là không chi nhưng khoa học hiện đại cho biết trong hư không không những chứa đựng vô vàn phân tử, nguyên tử, tích chứa hằng hà sa số hạt lượng tử chuyển dịch, hoán chuyển, kết hợp phân tán một cách sinh động. Hư không là một mạng lưới hạt lượng tử vĩ đại vô cùng tận vẫn co cụm và trướng nở theo chu kỳ có thể tính trước. Nên, hư không không thể gọi là KHÔNG CHI mà hư không cũng phải được liệt vào cái ǵ gọi là CÓ, và nó cũng chỉ là’ sóng’ trong ‘nước’ KHÔNG TƯỚNG _ một tổng thể vĩnh hằng.

2._ Một vật thể đặc hay một h́nh hài của một sinh vật dưới mắt thường th́ là một khối rắn, đặc, liền lạc, dính chặt theo đó là một cái ǵ gọi là CÓ. Nhưng nếu dùng một thấu kính cực đại để quan sát th́ đó chỉ là một chùm hạt mờ nhạt với những khoảng trống, hở, cách khoảng giữa những hạt của nó, mà những chuỗi que lượng tử âm thanh, ánh sáng đủ loại di chuyển qua lại xuyên suốt qua những khoảng trống, hở đó một cách dễ dàng. Chùm hạt mờ nhạt đó nằm lẫn trong vô vạn hạt lượng tử khác trong hư không, theo đó người quan sát không thấy sự dính chặt, không thấy được đường biên của vật thể hay h́nh hài đó với vùng không gian quanh nó. Nói rơ hơn nó cũng giống với, chan ḥa với môi trường chung quanh nó. Nó cũng chỉ là sóng trong nước y như hiện tượng sóng và nước mà mắt thường có thể quan sát được, nghĩa là CÓ chính là KHÔNG (Sắc tức thị không, Không tức thị sắc. Sắc bất dị không, Không bất dị sắc).

3._Một sinh thể được gọi là CHẾT theo nghĩa là không c̣n tồn tại, thực tế, sinh thể đó chỉ là một tổng hợp hạt lượng tử và những hạt lượng tử đó vẫn vĩnh viễn tồn tại hiển hóa, chuyển dịch, kết hợp không ngừng sau khi sinh thể đó bị gọi là ‘chết’, nên thực tướng (hay không tướng) của vạn pháp không hề TỬ.

4._Một sinh vật mới được sinh ra có sự sống th́ trước đó đă là một bào thai trong bụng mẹ. Trước đó phải là tinh trùng và noăn sào sống. Và, trước đó nữa là những cell sống và v, v. . Nếu trong vô thủy nó không phải là một sự sống th́ không thể có một liên diễn sống cho đến khi mắt thường thấy một h́nh hài sống lọt ḷng khỏi bụng mẹ nên thực tướng (hay không tướng cũng thế) không hề có SINH. Từ một vài ví dụ rơ nét đó, ta có thể thấy được cái tâm trí thường tục ôm chặt, chấp chặt cái tôi là c̣n hoặc mất, là có hoặc không dẫn đến chấp vào giác quan, ngoại cảnh, cảm nhận của cái tôi là thực là hoàn toàn sai lạc. V́ không ngừng chấp chặt cái tôi, tâm trí đó không thấy biết đúng thực rằng tất cả thân tâm, giác quan, ngoại cảnh và những tầng lớp(phạm trù, giới) cảm nhận thấy biết đó đến đi, huyễn hóa không ngừng. Khi hội đủ điều kiện th́ chúng xuất hiện, khi thiếu hay mất đi yếu tố kết hợp th́ chúng hóa chuyển. Tự chúng không có tính đặc thù, thường trụ hay nói cách khác chúng đều vô tự tính( ví như sóng không có đặc tính ǵ riêng biệt, tính của nó đồng với KHÔNG TƯỚNG ví như tính nước : Dẫn đến Cái tôi vô tự tính = vô ngă; _ Giác quan vô tự tính = vô nhăn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ư ; _ Ngoại cảnh vô tự tính = vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ; _ phạm trù (hay cơi, vùng, phạm vi bao gồm) thấy biết vô tự tính = vô nhăn giới, năi chí vô ư thức giới. (Chỗ nầy xin được mở một dấu ngoặc để lưu ư quư bạn đọc:Có nhiều bản dịch đang lưu hành đă dịch vô nhăn giới, năi chí vô ư thức giới có nghĩa: cái thấy là vô cùng vô tận, không có giới hạn, cho đến cái biết cũng vô cùng tận, không có giới hạn. . . Nếu b́nh tâm đọc kỹ bản kinh chính viết theo tiếng Hán Việt, dù kém tiếng Hán Việt quư bạn cũng có thể dễ dàng t́m thấy lối dịch đó là chệch choạc, hoàn toàn đi lạc mạch văn, bất nhất với những câu đi trước đó! Trong khi GIỚI trong các từ ghép NHĂN-GIỚI và Ư-THỨC-GIỚI có nghĩa: cơi, vùng, phạm trù, phạm vi bao gồm… _không dùng một ḿnh mà dùng thành từ ghép như thế giới, học giới, báo giới, nhăn giới, ư thức giới v. v. , ví dụ : trong nhăn-giới có tầm nh́n xa, nh́n gần, thiên nhăn, thần nhăn…, trong ư-thức-giới bao gồm cả mạt na thức và a lại da thức…, theo nghĩa nầy chúng ta dịch vô nhăn- giới, năi chí vô ư-thức-giới là những tầm mức thấy là vô tự tính, cho chí những tầm mức biết cũng là vô tự tính nốt là hợp lư nhất v́ có như thế nó mới theo sát đúng mạch văn vô sắc, vô thanh, vô hương… đă được viết trước đó. Tiếp theo, cũng đúng theo mạch văn đó, từ chỗ bản tính cái tôi là vô ngă, dẫn đến những ư niệm về mê muội, về già chết, về cảm nhận đời là khổ, nguyên nhân đau khổ, cách diệt khổ, con đường hạnh phúc vô h́nh trung trở thành không thực và không cần thiết, bởi v́ những thứ đó đều là sóng, là bóng ảnh; cũng thế cái kiến thức thu góp và cái đạt thành mong ước cho cái tôi vô tự tính đó hoàn toàn vô tích sự. (Vô vô minh, diệc vô vô minh tận; năi chí vô lăo tử, diệc vô lăo tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí, diệc vô đắc). Xin mở thêm một dấu ngoặc :(Trong nhiều bản kinh Phật viết:”Vô minh là Niết Bàn” thật khó nghĩ bàn. Nhưng nếu hiểu VÔ MINH ví như sóng và NIẾT BÀN ví như nước theo như văn ư nêu trên th́ VÔ MINH và NIẾT BÀN không sai không khác qua cái nh́n rốt ráo đến tận căn để: Vô Minh chỉ là bề mặt nổi cộm nhất thời của KHÔNG TƯỚNG thường hằng).

Chính vào thời điểm tâm trí thường tục không c̣n chỗ nào để nương tựa, không c̣n ǵ cần để thu góp, tích chứa, bảo giữ, không cần ǵ để mong cầu thành đạt (dĩ vô sở đắc cố), người tu học cần có một quyết định hết sức sáng suốt là buông xuống hết, không bám víu vào đâu hết ( ưng vô sở trụ). Tâm trí tự nó sẽ băng hoại, toang vỡ ( thuật ngữ PG gọi là buông ḿnh vào con thuyền không đáy hay nhảy vào hố thẳm) _ và, chính ngay khi đó, khi tâm trí u mê băng vỡ như lớp mù vừa tan th́ ánh sáng Trí tuệ siêu việt không ngăn ngại vô phân biệt rạng tỏ (sống lại với một tâm thức mới mẽ thần thông tự tại = nhi sinh kỳ tâm). Qua trí tuệ siêu việt vượt qua giới hạn tâm trí bệnh hoạn phân liệt (Bát Nhă Ba La Mật Đa), Bồ tát không c̣n tâm trí chướng ngại, rối loạn dứt bỏ mọi mộng tưởng tham luyến điên đảo, dễ dàng tiến đến chỗ tuyệt đối không c̣n tác nghiệp (vô tác) _cả nghiệp ác cũng như nghiệp thiện, không c̣n thối chuyển đọa lạc vào cảnh giới muội mê, khổ ải (cứu cánh niết bàn). Cũng qua trí tuệ siêu việt đó chư Phật thành tựu được minh trí tĩnh giác toàn hảo, thông suốt vô hạn (đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề).

Định giá đáp án: Trí tuệ siêu việt không ngăn ngại, vô phân biệt (bát nhă ba la mật đa) theo đó có một khả năng phi thường, thần kỳ trừ diệt tận gốc khổ đau do tâm trí thường tục mê muội nhầm lẫn, phân biệt, cố chấp gây ra nên nó chính là một thần chú siêu đẳng.

Cổ vơ cho quyết tâm giải đúng đáp án: Phần sau rốt của bản kinh là sự thúc giục hăy dồn tất cả ư chí năng lực, quyết tâm vượt qua bên kia sự trói buộc, muội mê, sai lầm của tâm trí thường tục, hăy chết đi cái tôi chấp trước_để, cái trí siêu việt giác tĩnh (bát nhă ba la mật) hiển lộ, cái chân tâm thực tánh thường hằng rạng tỏ. Đó chính là ư nghĩa có tính cổ vơ của câu: Yết đế ! Yết đế ! Ba la yết đê ! Ba la tăng yết đế! Bồ đề, tát bà ha ! được xem như một câu thần chú có khả năng hộ tŕ làm tăng sức mạnh tu tiến để thành tựu trí tuệ siêu đẳng được gọi là Bát Nhă Ba La Mật Đa nầy.

Hà Nguyên Lăng

 

________________

Tự bạch: Theo thiển nghĩ, muốn tránh cái sai sót trong tu học th́ phải mạnh dạn viết ra những thu hoạch. Qua đó, hy vọng sẽ có những bậc minh trí sẵn ḷng chỉ giáo. Trong nổ lực tối đa dù với khả năng kém cỏi, người viết cố gắng dùng lời lẽ b́nh dân, dễ đọc dễ hiểu nhất, tránh những thuật ngữ Phật học khi có thể, hoặc đặt thuật ngữ trong ngoặc kép_ chỉ để dùng như một đối chiếu với những câu chữ đă được viết theo câu chữ thông thường và không viết theo lối dịch sát bản văn. (Mà, cũng xin được thưa rơ, thực ra người viết cũng không thông thạo Hán văn nên không có khả năng dịch thuật, chỉ nhờ qua tụng đọc TÂM KINH và nghiền ngẫm soi xét bản kinh lâu năm trong khi ngồi thiền nên có được một chút thu hoạch ít oi. Thêm nữa, cũng bởi, e ngại bài viết của ḿnh chưa hoàn hảo nên người viết không dám mạo muội thêm phần giáo đầu như chính kinh đă viết: Bồ Tát Quán Tự Tại tuyên thuyết như thế. . như thế…nhỡ diễn kinh không đúng theo kim ngôn của ngài th́ thật là đắc tội.
Ngưỡng mong quư vị cao minh, thượng trí, đắc đạo vui ḷng chỉ giáo những chỗ sai sót, ngu tối.
Chân thành cảm tạ.
 

hnl

 

 

 

trang hà nguyên lăng

art2all. net