PHAN THỊ HIỆP THÀNH

 

Tháng tư di tản

 

 

 

Anh Trưởng đòan có máy bay nên lìa khỏi tổ chức rồi. Chỉ còn lại anh phó tổ chức.

 

Anh ta là một thẩm phán kế vị Chúng tôi phải theo lệnh, mặc dù chồng tôi chưa về. Anh S. cho biết vì chồng tôi chưa về nên phải đi chuyến xe sau. Tôi chậm lại một chút để đưa hành lý với hy vọng chờ chồng về. Nhìn ngả tư đường thấy chồng tôi đang khấp khiểng chống gậy trở về, tôi mừng qúa báo tin anh S. biết, anh bảo tôi lên ngồi xe, ra lệnh chạy. Tôi ngồi xe đầu, nhìn lui, thấy chồng tôi đang lên xe cuối, xe thứ tư của đoàn. Tôi hoàn hồn. Thế là khỏi lo cảnh lạc chồng.

 

Đoàn xe lam chạy thật nhanh, để đến một bờ biển khác trước giờ giới nghiêm.  Chúng tôi nhìn chừng từng chiếc xe để ra hiệu cho tài xế chạy chậm lại, khi thấy xe mình vượt qúa xa các xe khác. Một chiếc trong đoàn gây tai nạn, chúng tôi gấp rút sang một chiếc xe khác. Chúng tôi đến điạ điểm con tàu vừa đúng giờ giới nghiêm bắt đầu có hiệu lực.

 

Trên lưng tôi là một bị đồ thật lớn, áo quần đeo trên hai vai. Trước ngực là con tôi, 11 tháng tuổi. Trên thắt lưng là ít tiền đem theo.  Người tôi cứng nặng không nhúc nhích nổi, mà sao tôi thật nhẹ nhàng bò lên con tàu. Chúng tôi sắp đặt hai tốp, tôi đi trứơc, theo sau là chồng tôi, kế đến là em trai tôi  H. 17 tuổi, vì có sức khỏe tốt hơn. Tốp sau kế liền là bạn chị tôi, chị NM, em trai út R.14 tuổi, rồi chị tôi V. Phải chia ra tốp nhỏ để tiện gíup đỡ và kiểm soát nhau. Gia đình vào được trong lòng con tàu, tôi thấy yên tâm phần nào, nhưng bước đường còn nhiều cam go quá.

 

Chỉ không đầy 10 phút khoảng 100 người đã lên chuyến canô nhỏ này, để chạy ra vịnh, nơi con tàu thật đang đậu chờ đợi. Ra đây thì trên tàu đã đầy ắp người, chuyến canô tôi ra là chuyến chót. Người ta chở cả tủ lạnh, bếp nấu đi theo. Chúng tôi tìm một chỗ bên mạn tàu  để ngồi. Xung quanh nứơc biển bao la, thấy con tàu mình nhỏ bé làm sao và thân phận mình mong manh làm sao!

 

Tàu còn neo, ít lâu sau được tin bến đá chúng tôi vừa rời cách đây 15' đang bị đánh nặng và áp lực đối phương vô cùng mạnh. Hôm đó là 28 tháng tư năm 1975.

 

3 giờ chiều tàu tôi nhổ neo. Trên tàu có cả gia đình ông Thị trưởng thành phố và ông hàng xóm khách sạn. Hướng đi là Singapore, nhưng tàu đi cận duyên vì rất sợ gặp tàu Hải Quân Việt Nam chận bắt thì tất cả phải vào tù. Có thấy tàu Hải quân ở xa nhưng họ không thấy chúng tôi, nghe nói như vậy.

 

5 giờ chúng tôi ăn cơm tối bằng cơm bới với cá hộp. Đó là bưã cơm đầu tiên cuả chuyến đi vô định. Đêm bao la vô tận. Thân phận mình nhỏ bé, mong manh làm sao, chúng tôi ngồi hỏi thăm nhau vì có nhiều gia đình mình không biết.

 

9 giờ tối, có lệnh của viên thuyền trưởng, là một thiếu tá hải quân, là nứơc vào tàu vì bơm nước bị hư. Tất cả thanh niên phải xuống bong tàu tát nước. Tát cả mấy tiếng đồng hồ, phần vì ngột, đói, nhân số nam ít, mọi người đã đuối lắm rồi. Chồng tôi cũng xuống hầm tàu tát nước. Có lệnh tất cả moị người phải sẵn sàng trong tư thế báo động, lo giữ những cái phao để cứu mạng.

 

 

1

 

Tôi đã buộc con tôi chặt trên lưng. Chị V. bàn để cột cháu trên lưng chị vì chị biết bơi. Có gì tôi chết, con tôi sống thì cũng đỡ hơn, tương lai dành cho nó. Mấy em tôi đi tát nước vừa mới lên. Các cậu đang uớt lạnh và mệt đuối, cho biết chồng tôi cũng sắp xỉu nhưng chưa chịu rời hầm tàu. Tôi lo, nhưng không quan tâm lắm, lo con nhiều hơn. Trên tàu đã bắt đầu chộn rộn lắm.

 

Có tiếng kêu gọi cầu nguyện. Tiếng bà vợ ông thị trưởng cầu Quán Thế Âm Bồ Tát và chúng tôi cầu nguyện theo. Tôn giáo ai nấy cầu, thật to, với tất cả lòng thành, tất cả lo sợ. Dưới hầm báo cáo nước ngập, không thể đứng để tát nữa. Viên thuyền trưởng cho biết tàu đang quay lại chỗ khởi hành để mua bơm nước. Đàn bà vẫn tiếp tục cầu nguyện. Thanh niên, nam giới lên boong và nằm nhoài ra đó, như xác chết. Đây là một con tàu buôn nhỏ chở hàng, chẳng có đèn đuốc gì trên boong, rất tối không thấy được gì. Tôi kêu chồng, nghe có tiếng trả lời bình an, tôi về chỗ cũ có cái phao và cho chồng biết mình ngồi ở đó.

 

Con tàu lắc lư lắm rồi. Mọi người đã nôn mửa. Tôi mửa ướt cả tóc. Con tôi đã thay mấy cái áo đang còn vất đó, không còn áo nữa. Tôi không ngồi nổi nữa, nằm nhòai xuống với con, cháu khóc qúa sá. Tiếng cầu nguyện mỗi lúc mỗi to, rồi lại dừng, rồi lại tiếp. Hai em tôi nằm nhoài dưới chân tôi, riêng chị tôi đang còn đủ sức ngồi.

 

Viên thuyền trưởng cho biết có thấy ánh sáng cuả một chiếc tàu khác và anh còn đang phân vân không biết đó là ánh sáng cuả tàu Hải quân VN, hay tàu cướp, hay tàu buôn. Nếu ra tín hiệu mà gặp hai tàu đầu thì kể như đời tàn. Anh đang bàn có nên liên lạc với anh phó tổ chức đồng thời tàu chúng tôi đang hứơng về phía đó.  Với tất cả thận trọng, các anh chưa liên lạc. Càng đến gần, anh cho biết tàu naỳ có đèn trang bị rất lớn, chắc chắn không phải tàu haỉ quân VN, nên quyết định bắt liên lạc. Tàu bên kia đã trả lời. Cám ơn Trời Phật, lại là tàu Mỹ, thế là bớt lo phần nào. Anh đánh tín hiệu tàu chúng tôi lâm nguy, cần giúp đỡ.

 

Họ trả lời :

- Chờ.

 

Tàu chúng tôi vẫn lái đến gần. Chiếc tàu lớn kia bỏ chạy. Chúng tôi lo quá, không thấy đèn đuốc gì trên biển cả nữa. Gần bờ, sóng lớn, tàu dồi quá. Không biết nước đâu trong dạ dày mà mửa ra nhiều quá vậy.

 

Anh thuyền trưởng đánh tín hiệu SOS, bên kia không trả lời. Chết, tàu bị mất liên lạc rồi, làm sao đây. Cố gắng trong tuyệt vọng, anh bắt liên lạc được với một tàu khác. Tàu này cho biết có được báo cáo về chiếc tàu cuả chúng tôi và họ đang theo dõi. Chúng tôi mừng lắm. Lúc đó là 2 giờ sáng ngày 29 tháng tư năm 1975. Tàu kia lại chạy nhưng chỉ trong một chu vi nào đó mà thôi. Mỗi lần tàu kia chạy gần, chúng tôi mừng, nhưng khổ nổi, sóng lại lớn hơn, tàu nhỏ cuả mình nhồi lên, nhồi xuống, lại nôn mửa nhiều hơn, người ta nằm nhoài, nằm lăn trên sàn tàu như những xác chết trên tàu ma.

 

Chúng tôi cố đến gần tàu này. Đây là tia hy vọng sống cuả chúng tôi. Chúng tôi đã đến gần được để tàu kia có thể thấy tàu chúng tôi đầy đàn bà, trẻ con, không có gì nguy hiểm, đúng là một tàu tỵ nạn. Chúng tôi bắt đầu nói tiếng Anh và họ trả lời.  Đây chỉ là một anh lính thuỷ thủ trên tàu, họ không có quyền gì, nhưng làm chúng tôi tin tưởng phần nào. Họ bảo chúng tôi chờ. Tàu kia vẩn đi theo chu vi cuả họ, lúc gần, lúc xa. Thế là mọi người thức suốt đêm. Trời đã mờ sáng, chúng tôi có thể thấy mờ mờ bọt nước biển. Một đêm dài đã qua, mừng như thóat đựơc sự tăm tối vô cùng của cuộc đời.

 

 

 2

 

 

Sáng 29 -4-1975.

 

Đang còn nứơc sôi trong bình thủy, lấy một ít mì sợi ngâm cho con ăn. Tội nghiệp cháu đói quá, ăn ngon vô cùng. Lo dọn dẹp áo quần nhớp vì mửa hồi hôm, một mùi hôi kinh sợ vô cùng. Thức ăn dưới bong tàu bị nước ngập hết rồi. Tin tưởng sẽ đựơc cứu vớt, làm tôi gỉam bớt lo lắng, loay quay đã gần 12 giờ trưa chưa có gì ăn.  Được lệnh cho lên tàu, mừng qúa. Mọi người lại cầu nguyện cám ơn.

 

Theo lệnh, tất cả đồ đạc phải vất lại, trừ áo quần, chỉ đựơc đem theo tối thiểu trong một xách rất nhỏ cho mỗi cá nhân. Mừng qúa, chẳng thiết gì nữa. Tôi lo mang theo mấy bình sữa cho con, mấy gói mì khô chị V đem theo và mấy bi-đông trống đựng nước. Tiểu gia đình tôi chỉ thu tóm trong một xách tay nhỏ, vừa chồng tôi xách mà thôi. Chúng tôi thay áo quần dơ vất bỏ, để thấy sạch sẽ hơn khi lên tàu khác. Dĩ nhiên người, tóc vẩn còn hôi mùi mửa, vì chưa tắm gội. Lương thực gồm mấy bao gạo và thức ăn dự trữ phải bỏ lại với con tàu, tiếc lắm.

 

 

Tàu Kimball

 

Lên tàu lớn chúng tôi đựơc soát xét lại rất kỷ lưởng. Áo quần, được  tháo tung từng cái một. Thuốc men đem theo phài vất bỏ hết. Đó là điều làm tôi lo sợ nhất vì con tôi đang bệnh. Lên tàu cũng không phải dễ. Từ chiếc tàu chở hàng đến chiếc tàu Kimball người ta chỉ có 2 thanh gổ để làm cầu. Đi phài rất chậm và cẩn thận, vì chòng chành  trên sóng nên 2 thanh gỗ cứ lúc lắc hoài rất dễ bị té xuống biển. May thay chồng tôi đi qua được bình an.

 

Thuốc  đau đầu, trụ sinh, đau bụng bị vất bỏ hết. Cuối cùng quá nài nỉ và khì đi mua thuốc có toa bác sĩ, anh lính Mỹ để cho tôi giữ lại thuốc đó. Thật cám ơn anh ta không biết mấy. Lên đựoc tàu này rồi, chúng tôi được lệnh ngồi xếp hàng trên boong chờ kiểm soát. May mắn thay có nước uống. Chúng tôi uống và dự trữ trong bi-đông nhựa.

 

Lên và kiểm soát mọi sự đâu vào đấy đã khoảng 3 giờ chiều. Buổi cơm chiều họ cho ăn sớm. Ăn ngon quá, đói đã gần 24 giờ rồi. Cơm nấu thật mềm. Họ cho cơm nhiều lắm. Kinh nghiệm cuả lần trước, chúng tôi cất cơm và cá, để dành cho ngày sau.  Mỗi gia đình đều để dành lại phần cơm cuả mình.

 

 

 

3

 

Tối lại, gió biển mát, an tâm vì mình đang ở tàu lớn, không sợ đắm, tôi tắm, giặt giyạ áo quần cho con và mọi người. Nhìn mây nứơc mỗi người có một tâm sự. Trưóc khi đi ngủ, tôi thấy ở xa có những ánh đèn cuả các tàu khác. Biển về đêm lập lòe với những ánh đèn đẹp vô cùng. Các anh bạn chỉ cho chúng tôi hướng Vũng Tàu, thành phố vẩn còn lập loè ánh điện. Đi ngủ sớm vì mệt qúa rồi. Giấc ngủ dài, không mộng mị.

 

 

30-4-1975

 

Sáng nay các anh lính lại cho uống sữa tươi. Tôi không dám cho con uống, vì con còn đau bụng và thay sữa hay làm trẻ con đau bụng, nhất hạng là con chỉ mới 12 tháng.

 

6 giờ sáng có lệnh bắt chúng tôi phải tụ lại một góc chiếc tàu, không đựơc ở toàn boong và được lựa chọn ở trên bong hay dưới hầm. Chúng tôi lựa ở trên boong cho thóang, tuy mưa ứơt. Trưa đựợc ăn cơm tử tế. Nhưng chiều nay, khoảng 3 giờ, đươc tin Saìgòn mất và tàu có lệnh cho cứu trợ người tỵ nạn. Hèn gì hồi sáng chúng tôi phải dồn lại. Chúng tôi được lệnh di chuyển sang một tàu khác, mổi lần di chuyển giữa 2 chiếc tàu thì rất dễ sợ. Cuối cùng chúng tôi lên một chiếc tàu lớn hơn. Họ ra lệnh chúng tôi ở môt chỗ.

 

 

Di tản. USS Hancock

 

Khoảng 4, 5 giờ chiều, đứng trên boong tàu, tôi thấy trực thăng bay ra phiá biển rất nhiều. Rồi những chiếc ghe nhỏ đầy ắp người trực chỉ phía có tàu Mỹ đậu. Mọi người chúng tôi bắt đầu đổ xô hai bên mạng tàu để xem cảnh di tản ồ ạt. Đến khoảng 6 giờ chiều sau khi cơm nước xong, chúng tôi thấy những người đâù tiên lên tàu. Họ ăn mặc sang trọng lắm. Họ cho biết đựơc trực thăng chở từ Saìgòn ra một tàu lớn đậu ngoài khơi Sài gòn và sau đó đựoc canô chở đến tàu chúng tôi. Họ cho biết ở tàu lớn đó có giường nệm trải ra trắng và cam nho ăn thả cưả. Họ còn đem theo cam nho khi đến tàu này. Mổi lúc người lên một đông. Tôi cố tìm một gương mặt quen thuộc nhưng chẳng thấy. Càng về khuya, sóng người càng ồ ạt lên tàu. Một đêm rộn ràng không ngủ đựơc. Đã khuya lắm, cũng 1 hay 2 giờ sáng rồi, chúng tôi đi ngủ để lấy sức cho ngày mai.

 

Chúng tôi thức giậy sớm như mọi ngày.  Lấy nứơc nóng đựng vào bình thuỷ và bi-đông xong, thì đánh răng, rửa mặt và đi cầu.  Đi cầu là điều làm tôi sợ nhất. Chiếc tàu cao bao nhiêu thì thấy ngợp bấy nhiêu. Rất lo sợ. Ngưòi ta đóng những tấm ván nhỏ ra ngoài thân chiếc tàu và cho đi tiêu thẳng vào biển.  Ngồi thấy nứơc sâu thăm thẳm phía dưới tôi sợ lắm. Cứ sợ gió thổi mạnh, mình ốm nhỏ, chỉ 75 pounds thôi, lỡ vô ý rớt xuống biển sẽ không ai biết. Tôi sợ nên vịn chặt lắm. Đi tắm cũng ngoài thân tàu như đi đại tiện vậy. Rất dễ sợ.

 

 

 

4

 

 

Sóng người vẩn lên ồ ạt. Những chiếc canô có cắm cờ Trung Hoa Quốc Gia và những chiết ghe không có cờ gì hết đang đi rất nhìều từ hứơng bờ biển đi ra. Có nhiều chiếc ghe  mui trần chở đầy ắp người  đang neo ở bên cạnh tàu chúng tôi  cũng gần nửa ngày rồi nhưng chưa được lệnh đi lên. Chỉ có người đi từ canô cuả Mỹ là đựơc lên mà thôi. Thời gian trôi qua vưà như gấp rút vưà như chậm chạp tùy theo tâm trạng thay đổi từng lúc trong tôi. Người lên tàu đã đông lắm rồi. Họ đựoc lệnh xuống các hầm tàu ở tầng dưới. Hầm tàu đã đầy ắp không còn chổ, đa số là những người làm cho cơ quan Mỹ. Nghe nói có đến khoảng 2000 người rồi.

 

Đã có lời rao cần người phụ giúp nhà bếp và y tá. Trong đòan chúng tôi anh sinh viên y khoa năm thứ 5 đã đi giúp rồi. Tôi lo đi giặt áo quần và giờ ăn đã đến. Lo chia người đi lấy phần cơm. Vì qúa đông, cơm nấu đã khó lắm. Cơm nhảo vô cùng và cho ăn với cá hộp mà thôi. Phần cơm đã gỉam xuống. Như mọi lần, chúng tôi chỉ ăn cầm hơi và để dành lại một ít phòng khi không có cơm tối.

 

Khoảng 2 giờ chiều trời đổ mưa. Chúng tôi phải leo xuống hầm tàu vì con tôi còn quá nhỏ không thể chịu đựng được mưa gíó. Thang leo làm bằng dây thừng, đan thành những ô vuông khá rộng, thả dài theo bề ngang của thân tàu, thành ra leo lên hay xuống có thể cả mấy trăm người cùng một lúc. Khó nhất là bứớc từ trên boong xuống nấc thang đầu tiên vì khoảng cách qúa rộng. Tôi phải nằm dài trên boong, rồi mới thả hai chân cho đụng chạm vào nấc thang đầu tiên của sợi dây thừng, thấy bảo đảm có thể leo xuống, chị V. mới chuyền cháu bé cho tôi. Trời mưa hoài, leo lên leo xuống rồi cũng quen.

 

Xuống dưới hầm tàu, một mùi tanh hôi kinh khủng vì người quá đông. Có lẽ người ta đái vải đâu đó. Hôi qúa sức, tôi gần xỉu với mùi hôi này. Trông mưa tạnh để lên trên. Mưa không làm gián đoạn sự cứu vớt những người lên tàu, người ta mổi lúc một đông hơn.

 

Cơm tối chiều nay đã bị giới hạn. Mỗi người chỉ đựợc vừa một chén thôi, với nước và ít cá tuna. Ăn sao ngon quá không ai chừa lại một hột. Con tôi, bé C, còn đau bụng, tôi cũng cho ăn một ít cơm cầm lòng vì mì sợi khô đã hết.

 

Ở trên tàu đã hai hôm rồi. Vẫn tiếp tục cảnh sống ngày thường. Sóng người dồn đến đông quá. Nghe đâu đã lên đến 5000 người. Phần cơm lại bớt lần. Tuy còn gạo trong kho, nhưng nhà bếp không đủ sức nấu cho số nguời khổng lồ như vậy. Mổi người chỉ đựơc một vắt cơm và cho ăn ngày hai bữa vào lúc 9 giờ sáng và 4 giờ chiều. Buổi ăn sáng đã bị cắt.

 

Đói.  Khổ nhất là khi trời mưa. Càng mưa gió càng lạnh. Và có người lợi dụng cảnh đó để ăn trộm vặt. Ai nấy ngồi co ro vì lạnh, không để ý đến đồ đạc thì một chiếc chíếu hay tấm poncho bị mất rất dễ dàng.

 

 

5

 

 Có cô xinh đẹp mở bị ( túi) áo quần cuả tôi, may tôi thấy kịp. Khi bỏ tàu nhỏ, chúng tôi mang theo đựơc 2 chiếc chiếu và chính nó đã giúp chúng tôi suốt đoạn đường di tản. Chúng tôi do kinh nghiệm một đêm ở tàu nhỏ quá lạnh, nên khi lên tàu lớn, chúng tôi 200 người mang theo lều và các anh đã dựng lên tàu che đở gíó, nắng, khí lạnh. Những gia đình khác tội nghiệp hơn bị xông mưa và nắng gió, nhất hạng là trên sân tàu bằng sắt gặp ánh nắng mặt trời rất là nóng.

 

Ngủ buổi tối cũng vui lắm và khó khăn lắm. Gia đình tôi 7 người mà chỗ ngủ chỉ rộng bằng một tấm nệm. Nằm phải nằm ngửa, rút chân lại mới vừa. Cái khổ là chúng tôi ở trên boong tàu, ai đau bụng cũng phải trèo lên boong mới ra ngoài phóng uế đựơc. Đêm tối, một ngọn đèn leo lét treo trên cột buồm không đủ sáng trên boong. Người đi chẳng thấy mình và chẳng thấy đừơng muốn như đạp trên người mình thật nguy hiểm. Chúng tôi có con nít cũng đông nên sợ lắm, lỡ người ta dẫm lên con mình khi mình đang ngủ, thành ra khi có ai vừa bước lên phần đất chúng tôi là la lên báo động. Họ và mình đều qúa cực. Nhưng đêm nào cũng như đêm nào, cũng có người đi phóng uế khuya và có người bị dẫm lên khi đang ngủ.

 

Riêng gia đình anh S, đông lắm, 22 người, nên chổ ngủ không đủ. Tối đến anh S treo một cái võng trên chỗ ngủ cuả tôi. Bé C nằm giữa cha mẹ cho ấm, cái đít của anh S luôn luôn chạm đầu tôi, nếu nửa đêm tôi phải dậy thay áo quần cho cháu vì đái dầm. Chồng tôi không thể ngủ chỗ của tôi vì quá hẹp. Ban ngày anh cất võng thì tôi treo võng lên cho con tôi nằm.

 

Đã mấy ngày trên tàu. Hôm nay sinh nhật thứ 28 của tôi. Chẳng có qùa cáp gì, nhưng tinh thần rất an ổn, yên tâm, vì biết mình khỏi chết và sẽ đến đựơc bến bờ tự do. Đó là món quà vô cùng quí giá, để đến nổi, mình bỏ lại tất cả đằng sau mà ra đi. Con tôi vẩn còn đau. Thuốc đem theo uống đã hết rồi. Tôi đi xuống bệnh xá xin thuốc và rất tin tưởng con tôi sẽ lành vì thuốc Kaopectin rất công hiệu.

 

Trên đường về lại chỗ, tôi gặp lại thầy Diên, giáo sư Tóan của tôi thời Trung Học. Ông cho biết đi một mình đến bến Nguyễn Huệ Sàigòn thấy tàu Hải Quân VN ông lên, bỏ lại vợ và 4 con ở Sàigòn. Ống nói ở lại chết tất cả, nên ông đi mong tìm cách giúp đỡ gia đình về sau.  Tôi gặp lại một người bạn cũ ngồi cùng bàn thời trung học là Trần thị Dung. Dung đi cùng với chồng làm tại USAID Saìgòn, chưa có con. Dung cho biết có mẹ Thanh Duyên ở Canada cũng đi trên tàu này. Tôi không thấy bà. Duyên cũng là bạn thân của tôi thời trung học. Ngoài ra trên chiếc tàu to lớn ấy, tôi chẳng thấy quen ai nữa cả.  Tôi về cho con uống thuốc. Đúng như tôi tin tưởng, thuốc này làm con tôi gỉam đi cầu và bắt đầu thèm ăn.

 

 

 

6

 

 

Cơm tối đựơc ăn sớm. Mỗi người chỉ đựơc nắm cơm với cá tuna mà thôi. Đói quá đã mấy ngày rồi mà sóng người vẩn tiếp tục lên, tuy không còn ồ ạt lắm, cho thấy đói sẽ còn kéo dài. Chúng tôi không biết sẽ ở trong tình trạng đói và nằm chờ tại chỗ bao lâu.

 

Áo quần giặt hằng ngày đựơc xếp cất vào gói gọn gàng. Người tôi bắt đầu yếu đi vì đói. Giấc ngủ đến ngon vô cùng.

 

 

5/2/1975--5/5/1975

Tàu vẫn nằm chờ tại chỗ để vớt người tỵ nạn. Tôi để ý thấy người ta không có con nhỏ như tôi, hoặc là con lớn hơn hoặc đang có thai, thế là đỡ lắm.  Đồ ăn dự trữ cho baby của tôi chỉ còn 3 hộp sữa SMA. Tội nghiệp con tôi đau bụng không dám cho uống sữa.

 

Tối nay có cảnh hổn độn. Nghe đâu phía cuối tàu có người tống tiền một người mới lên lấy được 6 lượng vàng. Có người phát giác vì người bị tống tiền ngồi khóc qúa sá. Dường như người đàn ông kia nói phải đưa cho ông ta 6 lượng vàng mới cho đi tàu này, người kia tin lời, đưa vàng. Nội vụ đổ bể, nghe đồn ông ta bị quăng xuống biển để cảnh cáo những người khác lợi dụng thời cơ.

 

Hôm nay người ta cho biết có thể đổi tiền lấy dollar. Giá đổi rất cao, 5000 đồng VN đổi đựơc 1 đồng US. Cũng nghe đồn rằng, vì những người làm cho cơ quan Mỹ khi đến Hoa Kỳ sẽ được đổi tiền, vì thế họ lợi dụng cơ hội này để kiếm thật nhiều tiền VN.

 

Hôm nay vẫn như mọi hôm, chỉ đưoc ăn một nắm cơm thôi với nứơc cá tuna. Tôi cảm thấy đuối sức lắm rồi, em trai tôi nhường phần cho tôi, cảm động qúa. Tôi từ chối vì em cũng đói như tôi.

 

 

6/5/1975 và về sau.

 

Bây giờ tôi đã lẫn lộn ngày tháng không còn nhớ rõ nữa. Chỉ nghe nói rằng tàu sẽ nằm chờ  thêm vài hôm để vớt người tỵ nạn. Có điều mừng nhất là con tôi đã lành bệnh phần nào.  

 

 

 Subic Bay, Phi Luật Tân

 

Buổi chiều có lệnh hạm đội khởi hành đi Philippines. Chúng tôi ra đứng ở bờ tàu nhìn về quê hương. Có ngừơi chỉ cho tôi hướng Vũng Tàu. Tôi nhìn kỹ, thôi thế là hết, từ đây quê hương thật sự xa vời, quê hương chỉ còn trong ký ức mà thôi, bỏ lại đàng sau một đau đớn thương nhớ quê hương khôn nguôi. Đau lòng nhưng không khóc. Tàu chạy rất nhanh, nước bể chảy cuồn cuộn.... như tâm trạng tôi đang giao động vô cùng.

 

Tàu ngày nghỉ thả neo một chỗ, đêm đi. Tàu đi nhanh lắm. Biển cả bao la, mới thấy an tâm vì mình đưọc đi trên tàu lớn.

 

 

 

 7

 

 

Nghe đâu chiếc tàu của tôi là một chiếc trong đòan chiến hạm thứ 7. Có khoảng 7000 người tỵ nạn trên chiến hạm này.

 

Gần bờ biển Phi Luật Tân, về đêm ngư phủ đi đánh mực và lưới tôm, tàu họ thắp đèn điện sáng trưng rất đẹp.

 

Chen chúc 7000  người trên một chiếc tàu, cảnh ngủ buổi tối vẫn là khổ. Chân tôi luôn luôn tê cứng vì không nhúc nhích đựơc, không duổi thẳng được vì hai em trai đang nằm dưới chân tôi, 17 tuổi và 14 tuổi.

 

Đi mất 2 ngày 3 đêm, chúng tôi cập bến Subic Bay tại Phi, một sáng đẹp trời có nắng.

 

Bây giờ chờ xuống tàu. Chúng tôi kiểm điểm hành lý không vất bỏ một cái gì.  Cẩn thận gói chặt hai chiếc chiếu lại, đây là những vật rất cần cho giấc ngủ. Tôi đeo một bị vải tự may lấy trên lưng, trong đựng những thứ cần thiết như bình thủy, sưã bột, bình sữa, thức ăn khô, chén, aó quần con, cũng đủ nặng. Trước ngực ôm con.

 

Sợ lạc nhau khi xuống tàu, chúng tôi chia hai tốp như khi lên tàu, để dễ kiểm soát. Chị V, chị NM, em trai R, đứng một dãy. Tôi, chồng tôi, em trai H một dãy khác, song song nhau. Chồng tôi tay xách bị nhỏ đựng đôi dép, cái võng, cái poncho, một ít đồ lót, tay kia chống gậy. Chồng tôi đã nằm liệt trong bệnh viện 10 tháng, tuy đã 5 năm rồi, anh vẩn chưa lành, đi không vững, luôn luôn khập khiểng trên cái gậy. Em trai lớn, một tay xách cái echolac đựng áo quần cuả cậu, tay kia xách một valise nhỏ đựng aó quần tốt của chúng tôi và chiếc chiếu cột cẩn thận trên valise này. Em tuy 17 tuổi nhưng trông rất nhỏ như 14, 15 thôi. Chị tôi xách valise áo quần chị, trên vai mang xách vải đựng đồ cần thiết khác. Em út R xách một chiếc chiếu khác và bị vải đựng áo quần và những thứ cần thiết khác trên vai. Chị NM thì hoàn toàn không có gì hết, ngoại trừ cái bót đầm cuả chị, vì khi đi thăm chị V, chị V rủ đi thì chị M cũng đi luôn.

 

Chúng tôi đứng cạnh thang xuống tàu chỉ khỏang 7 thước tây thôi, nhưng phải đợi gần 4 tiếng đồng hồ mới lọt qua được cửa kiểm soát để xuống thang.

 

Một người lính Mỹ tử tế bồng con tôi cho tôi xuống thang rồi mới chuyền baby cho tôi ẳm sau. Tốp tôi đi xuống trứơc, tốp chị tôi xuống sau. Chúng tôi chờ chị 20 phút rồi, mà chị chưa xuống được. Có lệnh phải đi, chúng tôi theo những người khác đi về vùng đất của đảo. Đến một ngã ba, sợ lạc nhau, chúng tôi ngồi chờ dứơi một gốc cây. Đến khi gia đình chúng tôi gặp nhau 7 người thì đi bộ thêm khoảng một cây số thì gặp người cứu trợ.

 

Tại đây tôi gặp những người Việt đeo trên áo bảng "Tôì nói tiếng Việt" giúp. Họ mời chúng tôi ăn cam. Ngọt ngào làm sao. Quí gía làm sao. Chúng tôi nhịn đói và đi bộ suốt cả sáng nay. Tôi tỉnh người sau khi ăn mấy miếng cam. Người hứơng dẫn đưa chúng tôi ra dãy nhà để kiểm soát.. Tại đây, tất cả đồ nhà binh phải bỏ lại, tôi phải vất bỏ cái poncho thân yêu đã giúp chúng tôi ấm trong những ngày di tản. Thuốc men đem theo phải vất bỏ lại tất cả. Họ cho biết từ đây trở đi sẽ đựoc cứu trợ, đừng lo lắng nữa.

 

 

 

 

Chúng tôi quyết định vất bỏ hai chiếc chiếu luôn. Sau khi đựơc kiểm sóat cẩn thận từng xách tay một, từng áo quần một, chúng tôi đựơc người hướng dẫn đưa đến nhà ăn. Đuôi làm qúa dài, nhưng chúng tôi đợi không lâu lắm. Diã đồ ăn thịnh soạn qúa. Sau những ngày đói, thấy một dĩa ăn đầy thức ăn, chúng tôi mừng lắm. Ngồi trên một chiếc chẹ đặc biệt của Phi, dưới tàng cây, chúng tôi ăn ngon vô cùng. Con tôi cũng thèm ăn lắm, và ăn rất ngon. Tôi rất mừng. Ăn xong chúng tôi đi đến vùng trại, chị V đi với chồng tôi làm thủ tục nhập trại, tôi ngồi chờ dưới tàng cây.

 

Phong cảnh trong vùng này đẹp qúa. Những cây keo cao cho bóng mát rượi làm tôi thấy dịu trong người. Tôi về trại, ngoài sức tưởng tượng của cảnh chạy giặc. Những tấm nệm trải ra trắng, sắp thứ tự trong căn lều lớn. Lều tôi ngủ đủ chổ cho khoảng 30 người. Chúng tôi dùng 3 tấm nệm, một cho hai em trai, 1 cho hai chị, một cho tiểu gia đình tôi.

 

Người lần lựơt đổ vào trại. 3 giờ chiều tôi thấy người ta đã làm đuôi đi ăn. Tôi gội đầu tắm rửa cho con, giặt aó quần, chồng tôi ở nhà coi đồ đạc và ngủ, hai em đi quanh quẩn đâu đó xem các trại khác cùng chị V. 4 giờ chiều chúng tôi làm đuôi đi ăn. Đây là cái đuôi dài nhất trong đời tôi, cong tới cong lui vẫn chưa thấy dứt. Đợi cũng mất hai tiếng mới tới phiên mình. Lấy phần cơm, chúng tôi tìm một bàn nhìn ra biển ngồi. Thức ăn ngon, phong cảnh đẹp, tôi thấy khoan khóai trong người. Tôi không thấy có gì trở ngại với đồ ăn Mỹ cả. Thế nhưng đối với vài người khác chắc họ không thích, thấy có vài diã cơm nằm trong sọt rát. Tôi tiếc quá. Họ chẳng nghĩ lại những ngày đói gì cả.  Thời gian ở lại Subic Bay là thần tiên đối với tôi. Ngày ăn no, đêm ngủ ngon, phong cảnh đẹp, không còn gì bằng.  Những giờ phút lo nghĩ đựơc quên đi. Quân đội Mỹ và Hồng Thập Tự cưú trợ chu đáo quá.

 

Chúng tôi ở lại đây 2 đêm, 2 ngày. Cũng không gặp thêm người quen nào. Sáng nay tôi đi khắp vùng trại để xem phong cảnh và xem diện tích trại. Tôi gặp chị của Khanh. Chị cho biết cả gia đình chị đi đưọc hết, nhưng vì pháo kích ở Tân Sơn Nhất qúa nặng nên lạc Khanh. Chị và 2 em đến trước, gia đình còn ở trên tàu khác. Khanh làm cùng sở với tôi ở Luật sư Nguyễn Ngọc Hà và chúng tôi có thổ lộ cho nhau về chuyện di tản, vì Khanh là người Bắc di cư.

 

 

Đi Guam

 

Vài quân nhân Mỹ cho biết chúng tôi sẽ đi Guam sau khi đến Subic Bay ở Phi Luật Tân.

 

Tôi hỏi Guam như thế nào? Anh cho biết rất nóng và không có cây. Chị V. sốt ruột, muốn đi cho mau đến Mỹ, nên chị tìm mọi cách để có thể rời Phi càng sớm càng tốt. Chồng tôi muốn ở lại Phi thêm vài bữa, nhưng không thành vấn đề nếu chúng tôi đến Mỹ sớm. Chị đã hỏi thủ tục giấy tờ để sang Mỹ.

 

  

 

9

 

 

Đêm thứ ba, khi đang ngủ, một giờ sáng người lính Mỹ phụ trách khu vực  trại chúng tôi ở đến thức giậy để đi Guam. Tuy được thông báo từ chiều sẽ đi tối nay, nhưng không biết mấy giờ. Vô cùng sung sướng vì biết chắc chắn được đi Mỹ. Người nào muốn đi các nước khác phải khai báo. Chúng tôi đi theo người quân nhân, đến nơi, làm giấy tờ thật lâu và ngồi chờ. Bà nhân viên Hồng Thập Tự thấy tôi có con nhỏ bà cho cháu một bình sữa đầy đem theo đi đường. Tôi cảm động vô cùng.

 

5 giờ sáng có máy bay. Tất cả mọi người được đi trên chuyến bay được lệnh đi hàng một ra biển. Tại đây có canot đưa chúng tôi ra phi trường.

 

Khỏang 6 giờ sáng xuống canot, sau đó được xe đưa đến phi trường. Chúng tôi được phát thẻ ghi số 41J, thế giấy lên máy bay. Khoảng chừng 7 giờ, được phép lên phi cơ C130 ngồi sắp hàng 5 giữa sàn.  Tôi phải giữ con, máy bay lắc lư làm tôi chóng mặt qúa, ôm cháu muốn rớt ra. Ngồi hai vợ chồng dựa lưng vào nhau cho đỡ mệt, tôi nhắm mắt, ôm chặt con cho nó đỡ sợ. Cũng không qúa tệ, chỉ một hồi máy bay bay và hết nôn mửa.  Chuyến đi tốt, ăn sáng trên máy bay. Đó là chuyến bay 41J. Khỏang trưa không biết mấy giờ, chúng tôi đến Guam. Được tiếp đón ở phi trường và ăn trưa tại đó. Làm giấy tờ nhập nội và ở lại đây chờ xe bus đưa về trại. Lần đầu tiên tôi đi tiểu trong một phòng vệ sinh của Mỹ. Qúa sạch làm tôi không ngờ. Tôi có ấn tượng tốt về đời sống Mỹ

  

 

Guam

 

Đến chiều, khoảng 2, 3 giờ xe bus đưa chúng tôi về trại. Đường đi rất xa. Hai bên đường có nhiều loại cây tương tự ở Vietnam, còn nhà ở thì hoàn toàn khác hẳn, làm rất thấp. Có chạy ngang phố, nhưng phố không rộn rịp như Sàigòn. Vàì người đã đi Mỹ cho biết phố Mỹ cũng tương tự phố ở Guam. Đến khỏang 6 giờ chiều chúng tôi đến trại. Trời bắt đầu tắt nắng. Có lệnh phải chích ngừa cho trẻ con. Phương pháp chích rất lạ và rất nhanh, không thấy ống kim đâu hết.

 

Đường đi toàn đất bụi đỏ, nhớp lắm. Đến mờ tối, chúng tôi đến lều. Chán nản lắm vì ở đây rất nhớp, so với Subic Bay, Phi Luật Tân. Ghế bố đầy bụi, trong lều ghế bố để ngổn ngang trên đất đỏ. Chúng tôi phải đi làm đuôi ăn vì nhà bếp sẽ đóng cửa. Đuôi dài lắm. Cơm cũng không ngon như ở Phi, được Navy bảo trợ tốt hơn nhiều.  Cơm nước xong chúng tôi đi tắm. Rất nhiều người chờ buồng tắm. Đây là một hòn đảo trơ trụi, đất đỏ, chẳng thấy cây nhiều, thỉnh thoảng có thấy vài cây dương liểu, nhưng không có bóng mát bao nhiêu. Trong lều sức nóng còn hực ra, chúng tôi phải vén lên cho thóang. Có vài người ở cùng lều đang sưả soạn dọn đi.  Chúng tôi chùi rửa ghế bố để chuẩn bị ngủ; một ngày đi đường mệt nhọc, chúng tôi nằm xuống ngủ liền.

 

 

 

10

 

 Sáng hôm sau dậy sớm đi ăn sáng, thế mà cái đuôi đã quá dài rồi. Sau lưng thì dài vô kể. Người vẫn tiếp tục đổ đến Guam. Cứ nhìn cái đuôi chờ ăn thì biết.

 

Hôm nay có một số thanh niên đến ở cạnh lều, có giọng dễu cợt, sợ họ làm ẩu, chúng tôi sợ lắm. Tìm một lều mới chúng tôi dọn đi.  Lều này sạch sẽ hơn nhiều, vì dưới lều là một con đuờng nhựa, chứ không phải đất bụi đỏ.   Ở đây chờ bao giờ loa trung ương kêu mới đựơc đi sang lục điạ Hoa Kỳ. Ngày nào cũng ngóng mà chẳng nghe kêu. Buổi tối ngủ trong lều lạnh lắm, ban ngày thóang hơn vì có luồng gió nóng thổi vào.

 

Ở đây mất thì giờ nhất là việc đi ăn.  Đuôi dài qúa mà đứng dưới nắng lâu quá, cơm cho ba bữa, chỉ lấy hai bữa thôi. Buổi chiều 4 giờ phải đi sớm làm đuôi mà chờ cả  mấy tiếng mới đến phiên mình.  Đi hoài quen mặt nhau, về sau một số người thấy tôi có con nhỏ nên nhường cho đứng trước. Đứng chờ tôi có thấy anh Bác sĩ Sang, ở Mang Cá Huế, nhưng không nói chuyện đựơc vì đứng quá xa.

 

May 9-1975.

Hôm nay có công ty đến mua vàng. Giá 170 dollars. Giá vàng cao hơn hôm qua 10 dollars. Tôi bàn với chồng bán một lượng cho có tiền tiêu và mua một vali nhỏ, một cái dù che  cho con khỏi nắng. 

 

May 11-1975.

Giá vàng hôm nay lên 190 dollars một lượng, Chị NM bán một lần 10 lượng vì sợ qua đến Mỹ không ai mua vàng.

 

May 12-1975

Tôi ở lại Guam 3 đêm, 3 ngày thì nghe loa gọi số chuyến bay 41J. Bây giờ trở đi mỗi con số rất là quan trọng. Chúng tôi đi trình Immigration. Tại đây phải đứng chờ bên ngòai thật lâu, và bây giờ mới có dịp quan sát khu tạm cư, thật rộng lớn quá như một thành phố. Rất nhiều đường thẳng góc nhau. rất nhiều trại của Hồng Thập Tự lo việc thuốc men. Tôi xin thuốc đau đầu, đau bụng và sữa cho con tôi, làm đuôi ở đây cũng lâu lắm. Cuối cùng cũng đến phiên tôi.  Rất mừng đã có sữa bú  cho cháu.  

 

Mẹ con tôi trở về gốc cây dương liễu chờ vào làm thủ tục Immigation. Chờ từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa vẫn chưa vào được. Khỏang 1 giờ trưa thì cái đuôi đến phiên tôi. Và từ ngày hôm nay, gia đình chúng tôi đựơc nhập cảnh Hoa Kỳ. May 12, 1975 thật là một ngày trọng đại. Chúng tôi lựa đi Florida.  Sau khi xong thủ tục chúng tôi đựoc đi ra sau lưng lều IMS để chờ máy bay. Tại đây có 4 trung tâm tỵ nạn để mình lựa: California, Texas, Virginia, Florida. Chúng tôi lựa Florida vì trung tâm này chỉ nhận 5000 người tỵ nạn mà thôi và được bảo trợ bởi Không Quân, một binh chủng mà tôi hằng mến mộ.

 

 

 

11

 

Dưới sức nóng thiêu đốt của vùng xích đạo, chúng tôi chen chúc dưới một căn lều toả sức nóng hực xuống vì vùng trại không có cây. Một số nhắm mắt ngủ vật vờ chờ đi. Một số đi… Một số từ lều IMS vừa đến đây.

 

Bây giờ chúng tôi đựơc lệnh ra khỏi vùng lưới, đi hàng một đến chờ xe bus, chưa biết đi đâu. Đi bộ khoảng 1 mile chúng tôi đến một căn nhà khang trang hơn, ngồi chờ xe bus tại đó. Lần này chúng tôi được đưa về trại tạm cư ở vài hôm, được ở trong nhà chứ không phải trong lều vải nóng. Đến nơi khi trời hoàng hôn.

 

Sau khi được chỉ chổ ở, tôi đi tắm, thay aó quần và giặt phơi ngoài trời, tôi đi lấy đồ ăn. Cho con ngồi trong swing, nó thích lắm, trên đầu tôi, những bóng dừa cao làm tôi nhớ quê hương vô cùng.  Đặc biệt ở đây, tắm tập thể, đó là lần đầu tiên trong đời tôi tắm như vậy, một ít e thẹn khi mới bước vào.

 

Tối đến có một số người đựơc gọi đi máy bay. Chúng tôi dời về những chiếc giường của họ để được gần trung tâm hơn. Tối nay chồng tôi chỉ cho tôi ông Trần Văn Lắm từng làm Đại Sứ ở Úc Đại Lợi mà chồng tôi có quen với con gái cuả ông. Giường nệm trắng sạch sẽ, êm ái lắm, tôi muốn nhào xuống ngủ, nhưng không được. Số người tới, người đi quá rộn ràng.  Có một gia đình trẻ đến ở bên cạnh giường tôi, họ ăn mặc sang trọng lắm, tôi hỏi được biết họ đi máy bay thẳng từ Saìgon sang đến Guam. Có một số được chở thẳng từ Saìgòn sang đây và được ở trong khách sạn dưới phố. Nhưng muốn sang lục điạ Hoa Kỳ thì phải vào ở lại đây chờ máy bay.

 

Khoảng 9 giờ tối chúng tôi được loa gọi đi máy bay. Sắp đồ đac, thay áo quần tử tế nhất mà tôi có vì đoạn đường gian nan cũng hết rồi, chúng tôi đi về trung tâm. Sau khi được dặn dò, kiểm soát kỷ lưõng, chúng tôi được hướng dẩn đến một trại khác để chờ máy bay. Đi bộ khoảng nửa giớ, tôi tay bồng con, tay xách đồ, chồng tôi khập khểnh với cái gậy, chúng tôi đến sau cùng.

 

Đây là một căn nhà rộng, có nhiều tấm nệm để sát nhau sẵn sàng cho người tỵ nạn. Chúng tôi đựơc ngủ tại đây cho đến khi nào có người thức dậy đi thì sẽ đi. Tôi ngủ chợp đi một hồi thì nghe có tiếng nói lao xao, vùng tỉnh dậy thì thấy mọi người đang lần lượt dậy để đi máy bay. Bây giờ khoảng 12 giờ đêm. Hành lý sẳn sàng, chúng tôi đựoc hướng dẫn đi cân. Tại đây tôi chú ỳ đến một gia đình có những vali rất lớn, họ có đến 4 vali như vậy, tôi tự hỏi làm sao họ có thể mang đi như thế đựơc. Trong số những người cuả gia đình ấy tôi nhận ra một ông thẩm phán cuả toà án quân sự. Đồ đạc của chúng tôi chẳng có gì quí gía và chỉ một xách đồ nhỏ nên chẳng nóng lòng đi cân, tôi đề nghị với chồng tôi gởi đi cho khỏi xách.

  

 

 

12

 

 

Đi đảo Wake

 

Ngồi chờ ở đây một hồi thì chúng tôi được lệnh đi hàng một ra máy bay. Phi đạo thắp đèn sáng cho máy bay đáp xuống. Chúng tôi đựơc lên một máy bay C130. Rất tốt, lần này có chỗ ngồi hai bên thân tàu. Có 4 dãy tất cả cứ mỗi bên hai dãy, đối diện nhau, ở giữa chất hành lý. Bây giờ chắc khoảng 3-4 giờ sáng.

 

Khác mọi lần đi máy bay quân sự trong nứơc, phải chờ rất lâu, chúng tôi vào đủ, cửa máy bay đóng lại và nghe tiếng động cơ nổ. Mọi người lắc lư, nhắm mắt gật gà ngủ.  Máy bay đã cất cánh. Anh quân nhân đi phân phát thức ăn sáng cho mọi người. Buổi điểm tâm ngon lắm, đầy đủ. Ăn xong người ta lăn ra ngủ. Tôi ôm chặt con vào lòng, dỗ cháu ngủ. Cháu đã ngủ rồi, hai em trai đã ngủ rồi. Mọi sự xem có vẽ tốt đẹp.

 

Bay được một hồi khoảng 1 giờ, tôi nghe như có tiếng mưa rào, máy bay chao lắm. Nói với chồng về nhận xét của mình, chồng tôi cũng công nhận máy bay chao, nhìn ra bên ngòai trời bắt đầu hừng sáng, không có mưa, chúng tôi đang bay trên bờ biển. Tôi lo qúa. Chuyến bay chở 200 cô nhi đã bị chết cháy. Số phận chuyến bay này ra sao đây? Tôi nói chồng tôi hỏi người phụ phi công đang đi tới và đựơc biết một động cơ bị chết. Tôi nghĩ sống đến đây rồi, không lẽ máy bay bị rớt chết thì phí quá. Bay thêm một hồi máy bay nghiêng lắm làm một số thức dậy. Có tiếng nói bằng English, yêu cầu thắt dây an toàn và ngồi yên tại chỗ. Máy bay bay trở về để đổi chuyến bay khác.

 

Chúng tôi được lệnh xách hành lý xuống.  Đây là một hòn đảo nhỏ, có một phi trường khá lớn. Ra khỏi máy bay tôi thấy nhẹ người. Không khí bên ngòai làm tôi dễ chịu hơn ngồi trong máy bay. 

 

Tôi thấy có một chiếc C130 nằm sẵn ở đây. Chờ khỏang một giờ đồng hồ tại phi đạo, chúng tôi được lên chiếc C130 này. Chiếc này không có ghế ngồi. Chúng tôi đựơc lệnh lên cưả sau đuôi. Xếp hành lý ở đuôi tàu và ngồi trên sàn tàu, cứ mỗi dãy 7 người. Sau một hồi lắc lư mắy bay nhẹ nhàng rời khỏi phi đạo êm ru lứơt gió. Không một lo lắng còn xâm chiếm tâm hồn tôi.

 

 

 

13

 

 

Hawaìi

 

Chúng tôi đến Hawaìi vào khỏang 2 giờ chiều, Có xe bus đưa từ phi đạo về nhà ga. Hành lý đươc chuyển riêng, sẽ nhận lãnh sau. Đến phi trường trên sàn nhà đầy những tấm nệm cho người tỵ nạn nghỉ. Ngồi uống nứơc và sau đó chúng tôi đựơc báo cho biết sắp hàng đi ăn. Mẹ con tôi qúa mệt, nằm trên nệm nghỉ lưng thấy êm ả qúa. Vì không ai nằm nên tôi cũng mắc cở không  dám nằm. Một số trẻ con 7, 8 tuổi nằm thôi. Chồng tôi mang về cho tôi một điã cơm, hai mẹ con ăn. Chưa biết bao giờ mới tiếp tục đi nữa. Thôi cũng được vì đây mát mẻ đủ tiện nghi.

 

Tại đây mấy bà Hồng Thập Tự đem áo quần ra cho. Tôi mừng qúa vì con tôi chỉ có 3 bộ áo quần thôi, mà cứ tình trạng này tôi không giặt được. Cháu là hành khách nhỏ nhất trên chuyến bay nên được mấy bà để ý. Tuy 12 tháng nhưng ốm nhỏ như con nít Mỹ 6,7 tháng thôi, chỉ 7 kg. Một bà mang cho con tôi một bộ áo quần màu đỏ, có nút gài ở chân để tiện cổi đi tiểu. Bộ áo quần rất đẹp, tôi ưng ý và mừng lắm tuy có hơi dài. Bà tìm cho tôi một cái áo đầm, nhưng cái nào cũng quá to. Cuối cùng bà tìm đựơc một cái áo màu tím trông rất vừa vặn. Sau đó bà đem cho con tôi một bộ đồ len màu vàng  rất đẹp, bên trong lót nỉ, bà bảo để giữ cháu được ấm khi đến Mỹ. Tôi cảm động vô cùng. Lòng nhân đạo chắc phát sinh khi người ta no đủ.

 

Đã 6 giờ chiều rồi, vẩn ngồi chờ tại Hawaì. Một bà cho biết tôi có thể đem con ra phiá sau có nôi cho bé ngủ, yên tĩnh hơn và có nurse giúp đỡ.  Tại đây có 2 trẻ con lứa tuổi con tôi. Bé lạ chỗ không ngủ đựơc và vì sợ, nên muốn mẹ đứng bên cạnh. Tôi rất thông cảm. Đứng với con khoảng 15 phút thì chồng gọi sửa soạn đi. Chúng tôi ra ngồi trứơc. Tại đây điểm danh từng người một. Có vài trục trặc nhỏ là nhân số hiện diện không phù hợp với danh sách. Cuối cùng mọi việc đâu vào đấy và những người đi Florida được sắp ngồi với nhau.

 

Ở phi trường người ta dán những chú ý ” Gia đình Nguyễn Văn Minh đã đến Guam bình yên”. Chị tôi cũng ghi “ P.T.H.V. và các em đã đến Hawaì ” Chúng tôi liếc khắp các chú ý chẳng thấy ai quen cả.

 

Chúng tôi ngồi chờ sau khi điểm danh xong thì được hướng dẫn ra ngoài. Trời Hawaì về đêm bắt đâu lạnh. Ở xa nhìn thấy thành phố thắp đèn long lánh rất đẹp. Tôi thầm nghĩ mới Hawaì mà đã đẹp như vậy chắc ở Mỹ còn đẹp hơn nữa.

 

Đứng ngoài phi đạo qúa lạnh, chờ không lâu chúng tôi được lên máy bay. Đây là chiếc C130. Cửa mở đầu và đuôi cho chúng tôi lên. Có 4 dãy ghế, cứ hai dãy ngồi đối diện nhau trên thân tàu.. Cũng không lâu tàu rời phi đạo và chúng tôi đựơc ăn sáng trên tàu.

 

Trong mắt tôi dứơi vũng đen sâu cuả đêm tối, muôn ngàn ánh sáng lập loè một vùng trời cuả Hawaì xa hoa lộng lẫy mờ lần  không còn thấy nữa. Có lẽ đã 9 giờ tối. Mọi người gật gù ngủ.  Một ngày dài trôi qua. Tôi để con tôi nằm ngủ giữa tôi và chồng tôi. Máy bay lên cao lạnh qúa. Tôi chẳng có mền, chỉ có một khăn lông rộng đắp cho cháu rồi nằm kế bên con, hai mẹ con ngủ say vô cùng trong hơi ấm của chiếc khăn lông.

 

Tôi mở mắt tỉnh dậy, chồng tôi vẫn ngồi trên ghế, cho biết trời sáng rồi. Nhìn qua cửa sồ, thấy mặt trời chưa mọc, phương đông đã băt đầu sáng. Xung quanh là màu xanh bao la cuả trời và biển. Tôi thầm câu nguyện cho chuyến đi an toàn.

 

Người phụ hoa tiêu đi phân phát thức ăn sáng . Cũng mất mấy giờ bay. Tôi không biết bây giờ là mấy giờ. Tôi muốn đi tiểu, nhưng vừa đứng dậy thì tiếng loa rao lên ai đâu ngồi yên đó cột giây an toàn, máy bay sắp đáp xuống. Vưà được lệnh ra khỏi thân tàu, không còn xấu hổ, tôi núp sau một thùng rác để gỉai quyết cái bụng, tôi không thể chờ nưã.

 

 

14

 

 

 

San Diego

 

Chúng tôi đặt chân xuống lục địa Hoa Kỳ lúc ấy khoảng 1 giờ trưa. Trời mù. Tôi cảm thấy lạnh. Đựơc hướng dẫn vào phi trường quân sự. Trên đường đi, tôi thấy xa xa rừng cây trụi lá và phía khác một dãy cây thốt nốt.

 

Phi trường sang trọng qúa, vào bên trong ấm hẳn. Điều làm tôi chú ý nhất là thảm trãi trên sàn nhà rất sạch. Xứ tôi nhà không trãi thảm. Chúng tôi được biết ở lại đây đến 4 giờ chiều sẽ có máy bay đi Florida. Tôi thấy có vài người cho con họ nằm giữa sàn. Tôi trải khăn lông cho con tôi nằm. Cháu ngủ ngon lắm. Tại đây người ta cho áo quần nhưng không cái nào vừa.  5 giờ chiều đi máy bay về Florida.

 

 

Eglin Air Force Base

 

Tôi không biết đã mất bao nhiêu tiếng đồng hồ, nhưng chúng tôi được ăn tối trên máy bay và ăn sáng mà vẫn chưa tới. Nhờ bay đêm nên đỡ sốt ruột, chúng tôi ngủ được trên máy bay. Khi đó nếu có chuyện gì xảy ra, thì cũng là một cái chết rất nhẹ nhàng mà thôi.

 

Đến Florida khoảng 1 giờ chiều. Tại phi trường có một linh mục Việtnam ra đón. Chúng tôi ngồi uống nước ngọt và chờ xe bus đưa đi. Chờ khá lâu thì được lệnh điểm danh, kiểm kê lại nhân số. Có vài quân nhân hướng dẫn đi làm giấy tờ. Từ đây hai tấm giấy quan trọng đó là tấm giấy ghi số chuyến bay và tấm giấy có ghi số Y-524. Chúng tôi phải làm thêm giấy tờ đẻ đựơc kiểm soát lại. Tại đây họ cho tôi một con số với những chữ EN-55107, số này được gọi là E number.Làm xong giấy tờ có người hướng dẫn ra phía sau căn nhà ngồi chờ xe bus. Được chích ngừa y tế tai đây và được cấp  giấy chứng nhận. Xe bus đã đến và đưa chúng tôi về trại.

 

Trên đường về, trời đã xế chiều. Tôi muốn xem thành phố nhưng chỉ thấy rừng bát ngát, xanh ngắt. Có vài người chỉ cho thấy phố, tôi hơi thất vọng vì quá nhỏ so với Saìgòn. Chạy rất lâu thì đến trại, có một số nhân viên ra đón tiếp.  Họ cho biết có thể ở trong bất cứ trại nào miển tối đa không quá 20 người một lều là được. Chúng tôi chọn dãy lều đầu căn thứ nhì. Địa chỉ A-7 Sect 12. Người đến trứơc chúng tôi không có bao nhiêu. Chúng tôi đựơc hướng dẫn ăn tối và nghe 11 giờ đêm sẽ có chuyến bay khác tới. Đến kiểm sóat tại trại một lần nưã, có người chất đầy echolac bạc dollars, được MP của Mỹ chở đi cất.  Về sau tôi gặp lại anh Bác sĩ Sang tại trại này, anh chỉ đi đựơc có một mình, vợ con ở lại. Tôi có gặp anh Luật sư Trí, kể như đàn anh cuả tôi tại trại này. Anh này độc thân, cũng đi một mình không có gia đình. Chị V. và em R. đi New York với người bảo lãnh là Bác sĩ Kohn. Có một số đòi về lại Việtnam trên tàu Thương Tín, nghe kể vậy.

 

Cuộc sống ở Eglin tốt, cho đến một ngày June 4,1975 chúng tôi đi làm giấy I-94 và đựơc phê "Cleared” và được phép đi làm việc. Từ đây chúng tôi được chính thức nhập nội Hoa Kỳ. Đọan đường chạy giặc của chúng tôi đã hết, nhưng trứơc mặt còn nhiều cam go khác sẽ phải đương đầu.

 

 

15

 

 

Ở trong trại khoảng 4 tuần, chúng tôi đựơc người bảo trợ lãnh ra ở nhà họ đi kiếm việc làm. Họ ở trong rừng. Ở nhà này khoảng một tuần hơn thì chồng tôi có việc làm tại một đài truyền hình ở Tupelo. Chúng tôi bắt đầu lại cuộc đời ở Mississippi.

 

 

Phan thị Hiệp-Thành

 

________

 

Links :

1. USS Midway Frequent Wind Operation

2. Tháng tư 1975

 

art2all.net