|
NGUYỄN MẠNH TRINH
TỪ "THÂN PHẬN" ĐẾN "LỤC BÁT"

Hoài
Khanh là một thi sĩ nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam. Nhưng
bên cạnh vóc dáng một thi sĩ, ông c̣n là một nhà khảo luận, một dịch giả,
một nhà xuất bản có uy tín, một chủ bút tạp chí văn học có ảnh hưởng
trong văn giới…
Hoài Khanh là bút hiệu, tên thật của ông là Vơ Văn Quế, sinh ngày 3
tháng 6 năm 1933 tại phường Đức Nghĩa, huyện Hàm Thuận, tỉnh B́nh Thuận.
Thuở nhỏ ông học chưa hết chương tŕnh tiểu học th́ trong nước có cuộc
kháng chiến chống Pháp, ông và cùng một số bạn bè rời bỏ trường học vào
chiến khu tham gia kháng chiến dù tuổi c̣n quá nhỏ.
Sau năm 1954, ông trở về Sài G̣n và làm nhiều nghề để tự mưu sinh. Ông
tự học, trau giồi sinh ngữ, hầu hết kiến thức đều do trường đời chứ
không phải trường học. Ông từng là chủ bút tạp chí văn học Giữ Thơm Quê
Mẹ do nhà Lá Bối xuất bản. Ông cũng là người điều hành nhà xuất bản Ca
Dao, một nhà xuất bản đă in được những tác phẩm có giá trị. Trước năm
1975, ông đă về mở một trại chăn nuôi ở Biên Ḥa ven bờ sông Đồng Nai
như một hành động ở ẩn xa lánh những phiền phức của đời sống ồn ào phức
tạp ở Sài G̣n. Hiện giờ, ông vẫn c̣n sống đạm bạc ở cuộc đất cũ đó ở
tuổi với tuổi già gần tám mươi... Sống một cuộc đời lam lũ nông dân cuốc
đất trồng khoai như cái tên nói lái mà bạn bè thân t́nh với ông hay gọi.
Hoài Khanh là Hành Khoai.
Tác phẩm đă xuất bản của ông về thi ca: Dâng Rừng 1957 ; Thân phận 1962
; Lục Bát 1968 ; Gió Bấc ; Trẻ Nhỏ Đóa Hồng và Dế 1970 ; Hương sắc Mong
Manh 2006, (in ở hải ngoại).
Về truyện ngắn: Trí Nhớ Hoang Vu và Khói 1970. Về dịch thuật: Buông Xả
Thanh Thản, dịch Martin Heidegger ; Thế Giới Tính Dục, dịch Henry Miller
; Đâu Mái Nhà Xưa, dịch Hermann Hesse ; Quê Hương Tan Ră, dịch Chinua
Achebe ; Giáo Dục và Ư Nghĩa Cuộc Sống, dịch Krishnamurti ; Nghệ Thuật
Truyền Thống và Chân Lư, dịch Walter Kaufmann....
Mỗi một vị trí văn chương nghệ thuật của ông đều có nét khác biệt và đặc
sắc riêng. Nhưng theo tôi th́ chân dung một thi sĩ có lẽ thể hiện được
căn cốt và sắc diện văn chương nhất của ông. Thơ của ông có khi là chung
những nỗi niềm của thời đại Việt Nam chiến tranh, khi mà sự có mặt của
hơn 500 ngàn lính Hoa kỳ hiện diện trong đất nước gây ra nhiều biến
chuyển trong đời sống toàn dân. Như nhà văn Phạm Công Thiện đă viết,
Hoài Khanh là một người thi sĩ cô đơn...
“Tôi muốn đuổi anh đi ngay, tôi muốn đuổi một h́nh ảnh hăi hùng ; Tôi
muốn được thanh b́nh trong tâm hồn trong những tháng ngày này bởi v́ đây
là h́nh ảnh bi đát của Đời, của con người, của một kẻ bị đày giữa băi
đất hoang tàn của nghĩa địa trần gian. Nh́n nét mặt Hoài Khanh, tôi thấy
sự Chết, tôi thấy Bệnh hoạn. Đau khổ. Quàn quại. Khắc khoải. Ray rứt.
Xao xuyến. Hăi hùng. Hoang liêu. Cô đơn ; tôi thấy sự Chiến bại, sự thất
vọng của con người. Nghe sự im lặng của Khanh tôi cảm thấy Thượng đế,
tôi cảm thấy Quỷ ma. Tôi cảm thấy Tiếng nói của một ngàn đêm, hai ngàn
đêm, triệu ngàn đêm, tiếng nói của muôn triệu ngàn đêm vọng về hiu hiu
trong ḷng nhân thế...”
Đây là một đoạn trong bài đề tựa tập thơ Thân Phận “Nỗi cô đơn của Hoài
Khanh” của Phạm Công Thiện. H́nh như ông muốn nói đến con người thi sĩ
suy tư về cuộc đời, với một chút tiềm ẩn nỗi niềm của người muốn phá
phách bằng chữ nghĩa qua cái không gian thi ca bàng bạc song hành giữa
mộng tưởng và thực tại. Thơ của Hoài Khanh tràn đầy suy tư về thân phận
con người …
Khi nhắc đến tên tuổi thi sĩ Hoài Khanh, tôi nghĩ đến doạn văn trong Thi
Nhân Việt Nam của Nguyễn Tấn Long và Phan Canh ”Khi nói đến Hoài Khanh
hẳn có người đă nhớ ngay đó là một nhà thơ ôm cột đèn giữa phố mà ngỡ là
đang ôm Em trong ṿng tay” Rồi người ta lại liên tưởng đến những vần tâm
t́nh mà thi nhân đă ghi lại cho quê hương:
”Tôi lớn lên ven bờ sông Cà Ty
Với giữa hai triền núi Cú và Tà Dôn
Lưu luyến nh́n biển cả gọi hồn đi tám hướng...”
H́nh ảnh một chàng si t́nh ôm cột đèn để tưởng tượng đang ôm người t́nh
sao mà gần gũi đời sống đến thế. Con phố đông đảo người qua lại mà chỉ
có một chàng cô đơn. Và, quê hương bản quán chàng thi sĩ, với những địa
danh quen thuộc của xứ Phan Thiết có ảnh hưởng ǵ không tới tâm tư của
chàng...
Tôi nghĩ h́nh như thiên nhiên phong thủy cũng có ảnh hưởng nhiều đến tâm
tư t́nh cảm con người. Ma B́nh Thuận đă nổi danh trong ngôn ngữ Việt Nam
v́ cái không gian tạo dựng từ những tủi hờn vong quốc của người dân
Chiêm Thành tồn tại từ bao nhiêu đời và không khí của u uẩn của những
nỗi niềm khó ngỏ bằng lời cứ ám ảnh măi con người. Thơ của Hoài Khanh là
thơ của những tháp Chàm cô độc trên những triền cát trắng xoăi dài tới
biển khơi. Thơ và người đă lớn lên từ những triền núi thẳm sâu với tầm
nh́n hướng vọng về biển cả xa xôi. Thơ và quê hương của ông h́nh như có
những liên quan siêu h́nh mà người đọc thơ ông có thể mơ hồ cảm thấy.
Nhà Thơ Hoài Khanh là người chăm sóc bài vở cho tạp chí văn nghệ Giữ
Thơm Quê Mẹ. Tạp chí này ra mắt số đầu tiên vào năm 1965 do nhà Lá Bối
in và phát hành. Tạp chí có sự công tác của những cây bút lẫy lừng thời
đó như Phạm Công Thiện, Nhất Hạnh, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu Tường, Vương
Hồng Sển, Sơn Nam, Dương Nghiễm Mậu, Vơ Hồng, Kim Tuấn,... Chủ trương
của tạp chí có khuynh hướng Phật giáo, đi trở lại về nguồn cội để chống
lại ảnh hưởng của thời thế chiến tranh. Tuy có tuổi thọ khá ngắn ngủi
nhưng cũng có ảnh hưởng văn chương ở thời kỳ đó và cả sau này. Nếu quan
niệm rằng những tạp chí văn chương đă phản ánh nhanh nhất và chân xác
nhất bộ mặt văn học hiện tại th́ những nhà nghiên cứu văn học sử không
thể nào bỏ qua sự nghiên cứu về tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ này. Nó như một
phần biểu hiện tâm tư của một thời đại văn học đầy biến động lúc góp mặt
trên trường văn trận bút…
Nhà thơ Hoài Khanh c̣n là người chủ trương nhà xuất bản Ca Dao đă in và
giới thiệu được nhiều tác giả và tác phẩm có giá trị và nhiều ảnh hưởng
đến văn học Việt Nam đă in được nhiều tập thơ, nhiều tập văn xuôi có giá
trị. Riêng về bộ môn khảo luận, với chủ trương mở rộng cửa để đón nhận
những tư tưởng mới với những cuốn dịch thuật về triết học, về Thiền học
hoặc những tác giả thời danh trên thế giới, nhà xuất bản này được xem
như là một cơ sở xuất bản có uy tín từ kỹ thuật in ấn đẹp, tŕnh bày
trang nhă, nôi dung lại đứng đắn phong phú chọn lọc. Giới trí thức và
nhất là lớp tuổi trẻ sinh viên học sinh là những thành phần độc giả
chính yếu của nhà xuất bản và là tầng lớp đông đảo nhất của nền văn học
miền nam suốt hai mươi năm.
Hoài Khanh cũng c̣n là một dịch giả đă chuyển ngữ nhiều tác phẩm chọn
lọc từ văn chương của nhân loại. Không những là dịch giả mà c̣n là người
giới thiệu những danh tác của văn chương nhân loại. Ông chọn lựa tác
phẩm để dịch với sự thận trọng và thích thú của một người t́m được sự
học hỏi trong công việc dịch thuật. Trước khi đi vào tác phẩm ông t́m
hiểu về tác giả và phác họa lại những nét chính yếu để từ tác giả có thể
t́m được những nét đặc thù của tác phẩm. Những bài giới thiệu ngắn nhưng
cô đọng được viết như những phụ lục đă giúp cho người đọc dễ dàng thu
nhận hơn những ư tưởng và thông điệp mà các nhà văn lớn của thế giới
muốn diễn đạt. Những tác phẩm mà Hoài Khanh chọn lựa để dịch đều không
phải là những cuốn sách của thị hiếu độc giả nhưng lại là nhu cầu bức
thiết cho những người muốn t́m hiểu về văn chương thế giới.
Những tác phẩm mà ông đă giới thiệu và chuyển dịch sang Việt ngữ với
danh sách khá dài. Như ông đă dịch “Krishnamurti cuộc đời & tư tưởng“ từ
nguyên tác của René Fouère. Như “Thế giới Tính Dục” từ nguyên tác của
Henry Miller. Như “Quê Hương Tan Ră" dịch cùng với Nguyễn hiến Lê từ
nguyên bản của Chinua Achebe. Như "Buông xả thanh thản" dịch từ nguyên
tác của Martin Heidegger. Như “Đâu mái Nhà Xưa”, “Đôi Bạn Chân T́nh”, "Hành
Tŕnh sang phương Đông” từ nguyên tác của Hermann Hesse, “Tuổi trẻ và Cô
đơn” từ nguyên tác của Rskine Caldwell, “Con đường thuốc lá“ từ nguyên
tác của William Sormeset Maugham, ”Mozart cuộc đời và nghệ thuật” từ
nguyên tác của Percy Young, “Tchaikovsky cuộc đời và nghệ thuật” của
Percy Young, “Beethoven một phiến tài t́nh thiên cổ lụy" từ nguyên tác
của JohnWilliam Navin Sullivan... ông c̣n là người dịch nhiều thi tuyển
và giới thiệu nhiều chân dung thi sĩ từ thi ca trẻ đến thi ca Châu Phi.
Tôi thích những bản dịch mà ngôn ngữ đượm nhiều chất thơ đă làm cho bản
dịch gần gũi với nguyên tác hơn. Thí dụ cũng có nhiều người đă dịch
Hermann Hesse. Nhưng ở bản dịch của Hoài Khanh tôi thấy được nét thơ
mộng và lăng mạn của những vần thơ khiến sự cảm nhận khi đọc tăng thêm
phần thú vị. Cũng như khi đọc những bài thơ dịch từ các thi sĩ nổi tiếng
trên thế giới, tôi có cảm tưởng đi gần với những thông điệp mà thi sĩ
muốn bày tỏ. Đó là những cảm nhận sơ sài của một người đọc và chưa phải
là nhận định đúng mức. Tôi đọc những bản dịch của Hoài Khanh và có cảm
giác đang đi trên một con đường khá thú vị của thi ca mà tôi trân trọng
và thực t́nh yêu mến...
Hai tập thơ đă làm cho Hoài Khanh nổi tiếng là Thân Phận và Lục Bát in
vào những năm thệp niên 70. Lúc ấy tôi đang ở tuổi 20 và cũng đă đọc thơ
Hoài Khanh trên các tạp chí văn nghệ. Tôi khoái thơ lục bát của ông v́
nó mang lại một phong vị thơ khác với những người viết trước và viết sau
ông. Thơ của ông có một chỗ riêng. Những cuốn sách của nhà xuất bản Ca
Dao th́ lại làm tôi gần gũi với thi ca ông thêm nhiều hơn. Những cuốn
sách nhỏ dày chỉ hơn 200 trang của những tác giả thời danh viết về văn
chương về triết học ngắn nhưng hàm xúc đă làm tôi say mê và trong cái
cảm giác háo hức đi t́m kiến thức để có một căn bản học thuật. Có những
cuốn sách về Krisnamurti, về Hoelderlin, về Nietzsche, về thi ca, về
thiền đă mở ra nhiều cánh cửa cho tôi bước vào. Tôi cũng rất thích những
loạt bài đăng trên tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ về thi ca Phi Châu. Lúc đó,
thi ca của một châu lục ấy đă lôi cuốn rất nhiều cho một câu học tṛ
nhiều bỡ ngỡ với thi ca thế giới như tôi.
Về sau này, thời gian gần đây, tôi đọc lại Hoài Khanh với suy nghĩ khác.
Cái cảm giác náo nức thời tuổi trẻ đă không c̣n khi đọc. Thay vào đó, là
những cảm giác của người đă trải qua nhiều ngơ quanh trong cuộc đời và
thấy ẩn tàng đâu đó trong ngôn ngữ trong h́nh tượng thi ảnh có một thế
giới khác, lăng đăng, mù không. Thơ gợi lại suy tư. Thơ bỗng nhiên có
khi là h́nh bóng gần cận khuôn dáng của ḿnh. Những bài lục bát làm tôi
nhớ lại một thời yêu thi ca và đọc thơ như là một cách để trường hành
theo đoạn đường dài muôn dặm từ Nguyễn Du cho đến bây giờ. Đọc lại những
bài như “Ngồi Lại Bên Cầu” hay “Nhớ Nguyễn Du", từ những vần lục bát đến
thơ tám chữ, tôi lại bùi ngùi và hồi nhớ lại một thời thanh xuân của
ḿnh. Bây giờ, đă qua tuổi sáu mươi, sao ḷng ḿnh vẫn c̣n rung động…
Thi sĩ Hoài Khanh c̣n sống tại Việt Nam, và đời sống tuổi già đạm bạc.
Tôi chỉ nghe kể chuyện lại. Như nhà thơ Thành Tôn khi về Việt Nam có ghé
thăm anh ở Biên Ḥa có kể về nơi chốn mà anh đă về sống ẩn dật từ mấy
chục năm qua. Như bức thơ email mà thi sĩ Hoài Khanh gửi cho anh Phạm
văn Nhàn đăng trên Thư Quán Bản Thảo với tâm t́nh của một bạn văn nghệ
tâm sự với người cùng quê mà cũng đồng điệu của ḿnh.
Tôi xin mượn lời một tác giả viết về Hoài Khanh, tác giả Thích Phước An:
“Dường như càng về già th́ Hoài Khanh càng sống trọn vẹn hơn với cái
“Ṿm vô biên” ấy, cái ”trong tinh thể bội phần chiêm bao” ấy. Đặc biệt
là nơi ẩn dụ sông Hằng, ḍng sông mà khi c̣n tại thế ít nhất một lần đức
Phật đă dừng chân lại… Đọc đoạn kinh Đức Thế Tôn đi đến con sông Hằng,
tôi nhớ đến bài Dấu Chân Từ Phụ của Hoài Khanh:
“cái ǵ hễ mất là c̣n
hễ không là có hễ tṛn là lăn
ngày xưa có một dấu chân
bước qua băi cát sông Hằng nhẹ tênh”
Hôm đến Biên Ḥa thăm Hoài Khanh khi ngồi nói chuyện trong pḥng khách
nh́n lên vách tôi thấy ông có treo h́nh của Đức Phật xa hơn chút nữa là
h́nh của Martin Heidegger. Tôi nh́n hai tấm h́nh và tự nghĩ rằng chắc
bây giờ ông không c̣n buồn v́ những ḍng sông kia vẫn chảy xa mù nữa đâu.
Và chẳng phải ông đă t́m lại được cội nguồn của một ḍng sông rồi đó hay
sao?”
Phần nhiều mọi người đều nh́n Ḥai Khanh như một thi sĩ. Nhưng trên bộ
môn văn, ông cũng có những đóng góp đáng kể. Ông viết văn với cố gắng
trong phong thái dung dị gần cận đời thường nhưng lại chất chứa nhiều
suy niệm ẩn tàng bên trong. Những nhân vật của ông h́nh như lẩn khuất
những câu hỏi của vấn nạn cuộc đời trong hoàn cảnh của chiến tranh, của
quá khứ và thực tại trộn lẫn. Đọc tập truyện ngắn của ông, thấy được một
đời sống mà chiến tranh như bóng đen âm u đang bao trùm đất nước.
Đó là tập truyện “Trí nhớ hoang vu và Khói” của ông do nhà xuất bản Ca
Dao in năm 1970. Tập sách mỏng chỉ hơn 100 trang gồm bốn truyện ngắn:
Cho Ḷng Thở Than, Thành Phố Đi Rồi, Thắp Một Ngọn Đèn và Trí Nhớ Hoang
Vu và Khói. Không gian và thời gian của truyện cũng như các nhân vật
truyện đều phảng phất ảnh hưởng của chiến tranh của những mầm mống bất
an cho con người cho xă hội. Dù nhân vật đang ở đâu, nơi chốn nào, thành
phố hay thôn quê, cũng có những ưu tư của thời thế, dù không trực tiếp
nhưng bàng bạc. Có lẽ cái nh́n về thực tế đời sống quá bi quan như vậy
nên ông đă rời bỏ đời sống xô bồ phức tạp ở Sài G̣n để về sống coi như
ẩn dật ở Biên Ḥa.
Theo cảm nhận của riêng tôi, h́nh như thơ văn của ông cũng đều có chung
một vấn nạn và hành động viết như Roland Barthes định nghĩa là một "phong
cách đề xuất câu trả lời rơ ràng rành mạch về cuộc đời” Đời sống có ngàn
muôn câu hỏi nhưng viết văn hay làm thơ cũng chỉ có một mục đích suy
tưởng về cuộc đời, về chính con người nghệ sĩ và chính cả xă hội đang
sống. Thơ của ông như bảng lảng một không gian khác song hành với cuộc
sống c̣n văn th́ thực tế hơn trong cảm nhận của người cầm bút…
Tôi đọc bài thơ Ngồi Lại Bên Cầu của Hoài Khanh và tập truyện ngắn cùng
tên của nhà văn Trần Phong Giao, thư kư ṭa soạn tạp chí Văn và chủ
trương nhà xuất bản Giao Điểm. H́nh như Trần Phong Giao có một biệt nhăn
nào đó với Hoài Khanh và đặc biệt lắm mới lấy nhan đề của một bài thơ
Hoài Khanh làm nhan đề tập truyện ngắn của ḿnh. Dù rằng trước đó với
bút hiệu Phong Nhă trong mục điểm sách của nhật báo Tự Do ngày chủ nhật
24 tháng Năm 1962, Trần Phong Giao đă có nhận định khá nặng nề về tập
thơ Thân Phận của Hoài Khanh.
Nhà văn họ Trần viết: ”vẫn trong những câu lục bát thi điệu cố hữu của
dân tộc, tôi đă t́m thấy dấu vết thứ hai của existentialisme in hằn trên
tâm hồn Hoài Khanh. Chịu ảnh hưởng sâu đậm của triết thuyết hiện sinh,
Hoài khanh đă nh́n đời một cách vô cùng lệch lạc. Một sa mạc mênh mông,
một tinh cầu giá lạnh, một gịng sông bơ vơ, một nghĩa trang sầu thảm đó
là thế giới dưới mắt người thơ...
…Trong mấy năm gần đây chúng ta được nghe nhắc nhở nhiều tới triết
thuyết hiện sinh. Không phải hiện sinh của Heidegger hoặc Kierkegaard mà
gần gũi hơn của Sartre và Camus. Và nói tới Sartre là chúng ta thường
liên tưởng ngay tới vai tṛ triết gia vô thần của ông. Hoài Khanh chịu
ảnh hưởng của Sartre rất nhiều. Phải chăng anh là một nhà thơ vô thần?
Trước hết chúng ta thấy Hoài Khanh nói nhiều tới Thượng Đế. Hai chữ
Thượng Đế viết hoa song lại không xác định rơ là Jesus, là Mohamed, là
Thích Ca Mâu Ni…”.
Riêng trong ư nghĩ của tôi nếu t́m dấu vết trực tiếp của Sartre trong
tập thơ Thân Phận của Hoài Khanh th́ không t́m thấy được rơ ràng. C̣n
ảnh hưởng gián tiếp th́ tùy cảm quan của mỗi người. Theo bức thư của
chính Hoài Khanh gửi nhà văn Phạm văn Nhàn cũng có nhắc đến Trần Phong
Giao và chính ông Trần đă xác định với ông cũng chỉ là những ngộ nhận đă
qua…
Tôi chỉ là một người đọc thơ và đi t́m những thích thú của thơ cho tôi.
Thành ra, có rất nhiều chất chủ quan và nhiều cảm tính. Tôi thích thơ
Hoài Khanh v́ cái thể cách của thơ ông và cái không gian thơ chất chứa
trong ngôn ngữ. Tôi mường tượng thấy một vũ trụ khác, tôi phảng phất
nh́n những hiện tượng có chút xa lạ với đời thường nhưng lại có gần cận
kỳ lạ với tâm tưởng tôi. Những ḍng sông, không c̣n là những ḍng nước
thực tại mà với tôi nó như những nguồn đời hoặc xuôi hay ngược đều có
chung một nguồn cội. Nó nhắc nhở đến một ḍng nhân sinh nhiều bến đỗ. Và
con người, nhỏ bé biết bao trong thân phận của ḿnh. Suy niệm về thượng
đế, về con người, hay về chính cái Tôi của ḿnh dẫn đến một câu hỏi khó
trả lời mà Hoài Khanh đă giải đáp trong thi ca.
Đọc trong Thư Quán Bản Thảo có bức thư của thi sĩ Hoài Khanh nhắc về cô
nữ sinh viên Văn Khoa Phạm kim Thịnh. Ông đă viết và đề nghị với Thư
Quán Bản Thảo đề cập đến trường hợp bức thư của cô Phạm Kim Thịnh và
việc từ chối cuộc phỏng vấn của cô và không đi gặp mặt cô ta lần sau để
khi hay tin sau biến cố 1975 cả gia đ́nh cô dùng ghe vượt biển đă bị
cướp giết chết khiến ông rất ân hận.
Chuyện cô Phạm Kim Thịnh xin phỏng vấn nhà thơ Hoài Khanh là v́ trong
học tŕnh cử nhân chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm do giáo sư Thanh Lăng
hướng dẫn có chương tŕnh giúp các sinh viên đi thu thập tài liệu về các
nhà văn nhà thơ Việt Nam hiện đại. Cô Thịnh gửi thư đến xin phép phỏng
vấn với các câu hỏi đính kèm nhưng ông từ chối. Và sự việc ấy đă gây cho
ông áy náy và ân hận cả một thời gian dài. Chính trong những lần thư từ
bằng email hoặc điện thoại với các thân hữu ở cả Việt Nam và ở hải ngoại
ông đều nhắc tới nỗi ân hận của ḿnh.
Hoài Khanh được nhắc nhở nhiều trong những ghi nhận của văn học sử của
hai mươi năm văn học miền Nam. Có nhiều cây bút phê b́nh văn học uy tín
đă viết về vóc dáng thi sĩ này. Thí dụ như Bùi Giáng trong ”Đi vào cơi
thơ”. Như Trần Tuấn Kiệt trong ”Thi ca Việt Nam hiện đại”. Như Nguyễn
Tấn Long và Phan Canh trong ”Thi Nhân Việt Nam”. Như UyênThao trong ”Thơ
Việt hiện đại”. Như Nguyễn Đ́nh Tuyến trong ”Những nhà thơ hôm nay”. Như
Cao Thế Dung trong ”Văn học hiện đại: thi ca và thi nhân”… Nhiều nhiều
lắm. Thành ra có dư luận cho rằng v́ Hoài Khanh không ở trong phe nhóm
văn nghệ nào trong sinh hoạt văn học thời kỳ đó nên chưa được chú ư đúng
mức. Theo tôi, cả danh sách những tác phẩm phê b́nh văn học trên cùng
với những bài khác trên các tạp chí văn học của Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ,
Tam Ích,... th́ Hoài Khanh không phải là một vóc dáng thi ca mờ nhạt.
Trái lại, đó là một vóc dáng thi ca được yêu mến của giới thưởng ngoạn
và góp nhiều công tŕnh vào sự nghiệp văn hóa của dân tộc.
Nhà thơ Bùi Giáng viết trong ”Đi vào cơi thơ” phác họa vài nét về chân
dung thi sĩ :
”Từ Dâng Rừng tời Thân Phận, Hoài Khanh đi một bước riêng biệt choáng
váng trong ḍng lục bát của ông. Ông không bị ảnh hưởng nào g̣ bó. Ông
chỉ chịu ảnh hưởng của trời, của gió, của sương, của ḍng sông, bến
quạnh quê hương.
Thỉnh thoảng cố nhiên ông bị vướng lụy trong bầu khí hậu văn nghe của
hiện t́nh đất nước chia năm xẻ bảy, ông gượng gạo viết vài bài khổ nhọc
không có cách điệu bồng bềnh bất tuyệt trầm hùng của ông. Nhưng đó là
trường hợp hy hữu thôi. Riêng biệt những bài xuất thần bi ca của ông th́
quả thật vô song bát ngát”
Nhà phê b́nh Đặng Tiến đă nhận định về tập thơ đầu tay Dâng Rừng như sau:
”Hoài Khanh của Dâng Rừng là một chàng trai vui tươi hư hửng với những
buổi mai hồng hẹn ḥ một hoàng hôn ngập nắng...
Niềm vui dễ dăi ấy đă t́m đến những vần điệu cổ điển, cổ điển đến thành
khuôn sáo. Đọc Dâng Rừng sẽ bắt gặp những lời những ư những cảm xúc
những vần điệu tiền chế.
Tâm hồn dễ dăi như vậy, kỹ thuật làm thơ khuôn sáo như vậy, thi phẩm đă
không tạo cho Hoài Khanh một chỗ đứng nào cả”.
Nhưng Bùi Giáng th́ viết ngược lại, viết trong kinh ngạc: ”Anh chưa quá
hai mươi tuổi anh làm những vần thơ mà Nguyễn Du, Nguyễn Khắc Hiếu tái
sinh nghe được phải lạnh ḿnh trước cái vĩ đại hồn nhiên của một tài hoa
chưa ráo máu đầu. Cái vẻ ngây thơ thăm thẳm của lời thơ chỉ những thiên
tài xuất chúng mới có được. Những ”làm ơn che khuất”, những ”ngọn xiêu
gió thành, những ”chỉ đau ḷng lệ, những "tôi c̣n ǵ nữa là tôi’, những
”rằng không dù cũng vâng lời thành không”, những "rung ḷng dưới lối em
đi”, những ”lời kỹ nữ đă vỡ v́ nước mắt”, những "gió bao lần từng trận
nhớ thương đi”... chính chúng là dấu hiệu, là bằng chứng tuyệt đối của
thiên tài.”
Tập thơ Thân Phận. Là thơ của một người cô đơn sống lạc lơng trong đời
mang theo những vết hằn tâm thức lưôn nhức buốt không thôi. Thân phận.
Là những bài thơ của một người luôn suy niệm để trả lời một câu hỏi viết
để làm ǵ và ta sống hôm nay cho ai và ta hiện hữu có điều ǵ ư nghĩa.
Có thể Thân Phận là những bài thơ nối tiếp ḍng thi ca đă có tự ngàn xưa.
Viết về Thân Phận, một sinh viên ở Huế là Cao Quảng Văn đă viết: ”ông
tưởng tượng thế nào Niềm Vui của tôi khi đọc được Thân Phận? Một ngạc
nhiên thích thú của một người vừa “đắc thân” sau nhiều năm tháng “vong
thân” Tôi đă dẹp hết sách vở (mặc dù mai mốt vào thi) đốt đèn bạch lạp
nh́n ra trăng sáng bên ngoài, nghe tiếng ri rỉ, van vỉ, giun dế và ngâm
thơ cho một ḿnh nghe, chỉ v́ sợ người nghe thấy.
Mỗi bài thơ là một khúc t́nh ca đằm thắm, một bi ca nồng nàn là một giai
âm thanh sắc. Trọn tập thơ, cả mấy chục bài cả mấy ngàn câu. V́ câu nào
cũng ư vị đáo để cả. Tắt một lời, Thân phận là một khúc bi ca dài đă làm
cho thời gian ngắn lại,”
C̣n tập Lục Bát th́ sao? Có ǵ đặc sắc như Thân Phận? Thơ lục bát của
Hoài Khanh có khác biệt so với những người làm thơ trước, đồng thời hay
sau. Thơ từ ca dao, từ Nguyễn Du đă thành âm điệu quen thuộc trên sáu
dưới tám và người làm thơ sẽ rất dễ dàng bị vướng vào những khuôn sáo để
thành nhàm chán. Trước Hoài Khanh, như Cung Trầm Tưởng, như Hoàng Anh
Tuấn,... đồng thời như Viên Linh, Trần Đức Uyển, và sau như Nguyễn Tất
Nhiên, Hoàng Trúc Ly,... mỗi người đều có những phong thái riêng để
thành những sắc thái riêng biệt mỗi người mỗi vẻ mỗi khí hậu, mỗi thế
giới riêng. Thế giới của Lục Bát Hoài Khanh theo Tuệ Sỹ là nơi chốn của
tiếng ru đồng vọng về từ ḍng truyền thống thi ca xa xưa và lời ru hời
thăm thẳm thiên thu của mẹ...
Tôi là người đọc và tôi t́m được nhiều bài sáu tám tôi thích và tôi cảm.
Có những câu thơ gợi lại những nỗi niềm riêng về nơi chốn cũ về mối t́nh
xưa:
“Chim bay tàn bóng sa mù
thôi sương ở lại đền bù tuổi tôi
nằm đây lạnh suốt mặt trời
hoài thương quá khứ đă ngùi phiêu linh
phố xưa hồn đẫm lệ ḿnh
sông xưa triều đă lênh đênh mấy mùa...”
Trong tập Thân Phận, tôi thích bài Ngồi Lại Bên Cầu. Những câu thơ mà đă
có rất nhiều người xưng tụng. Như Đặng Tiến, như Trần Tuấn Kiệt. Như Bùi
Giáng. Như Nguyễn Tấn Long. Và đăc biệt như nhà văn Trần Phong Giao đă
mượn hai câu thơ cuối để mỡ đầu cho tập truyện ngắn cùng tên Ngồi Lại
Bên Cầu của ḿnh:
“Rồi em lại ra đi như đă đến
ḍng sông kia cứ vẫn chảy xa mù
ta ngồi lại bên cầu thương dĩ văng
nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu.”
Thơ của ông cũng nói về chiến tranh trong một thời kỳ mà cường độ chém
giết đă ở mức cao nhất. Hoài Khanh làm thơ về t́nh yêu. Về suy niệm thân
phận con người. Về những ư thức siêu h́nh. Về một con người cô đơn bi
quan. Về một khung trời thi ca mênh mang của một kiếp người chịu thua
mạng số. Và thơ của ông h́nh như lúc nào cũng ngấm ngầm những phá phách
của một người tuy không muốn mà phải chiều theo sắp xếp của Thượng đế
trên cao. Và, với chiến tranh, ông bôi đen tâm tư với nỗi buồn rầu bất
lực. Thí dụ như bài thơ “Những chiều tiếng súng” trong tập Thân phận:
“Tay tôi bóp những chiều tà
với cồn phố cũ với ga ven rừng
với ngày tháng ở sau lưng
yêu em ḷng thấy vô cùng đớn đau
cung quanh c̣n có ǵ đâu
nghe ầm tiếng súng đời sâu dưới mồ”
Nguyễn Mạnh Trinh
Nguồn:
http://phusaonline.free.fr/ButViet/NMTrinh/2011/254_hoai-khanh.htm
Trang Hoài Khanh
art2all.net
|