|
Hoàng Tá Thích MỘT CHUYẾN ĐI T̀M CỘI BỒ ĐỀ NGÀY XƯA
Những người đă có lần qua Ấn thường kể với tôi là con đường dẫn đến bờ sông Hằng lúc nào cũng đầy cả phân ḅ và những kẻ cùng đinh chân đất. Người ta đến đó để ăn xin và tắm gội hoặc trầm ḿnh trong ḍng nước để được giải thoát. Tôi vẫn chưa h́nh dung được một vùng đất thiêng liêng cho những kẻ hành hương, một nơi tham quan cho du khách muốn khám phá nước Ấn Độ lại có thể như thế.
Và tôi đến sông Hằng vào một buổi sáng tinh sương. Mặt trời chưa mọc, nhưng đường đă chật cả người chen chúc nhau vừa tránh xe cộ vừa cố gắng không đạp vào những đống phân ḅ rải rác khắp mặt đường. Ngoài những kẻ ăn xin và những đàn ḅ đủng đa đủng đỉnh một cách vô trật tự giữa đường, c̣n có rất nhiều du khách, những kẻ hành hương đến chờ đợi b́nh minh, xem mặt trời mọc trên con sông thần thánh đó. Nước sông đục ngầu đầy rác rến. Tôi đứng ở phía bờ tây. Dọc theo bờ là những thành quách lâu đài xưa cũ, nhưng h́nh như hoang phế, chẳng thấy người ở. Phía đông, nơi mặt trời sẽ nhô lên, bờ sông Hằng chỉ là những cồn cát mênh mông hoang dă. Du khách và những kẻ hành hương th́ thuê ghe, thả hoa trên sông để cầu nguyện và nh́n những người Ấn, hầu hết là tín đồ Ấn độ giáo trầm ḿnh một cách thiếu vệ sinh trong gịng nước đục ngầu bẩn thỉu. Thỉnh thoảng c̣n có những xác chết của người và thú vật lềnh bềnh trên sông chứ không chỉ là rác rưới, bởi v́ người ta quan niệm rằng vứt tro sau khi hỏa thiêu hay thả trôi xác xuống sông Hằng người chết sẽ thoát được kiếp luân hồi. Từ thuở xa xưa, Ấn Độ đă là một xứ sở nhiều tín ngưỡng và sông Hằng đă là một con sông thần thánh của người Ấn. Tôi nghĩ, chắc hẳn trên con đường theo những nhà tu khổ hạnh t́m đạo, đức Phật cũng đă thử tắm gội một lần trên con sông nầy. Nhưng dĩ nhiên là ngài không thể t́m thấy sự giải thoát như những con người vô minh kia vẫn c̣n mơ hồ trong suốt nhiều thế kỷ qua và măi cho đến bây giờ. Và ngài đă từ bỏ những lối tu khổ hạnh u mê sai lầm, tự ḿnh t́m ra con đường đạo để giải thoát cho chúng sanh. Ngày nay, trong hang đá mà đức Phật đă từng ngồi khổ hạnh, vua Asoka cũng đă cho làm một pho tượng của Ngài, chỉ c̣n da bọc xương để kỷ niệm.
Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn đă đi hơn cả trăm cây số, t́m Kiều Trần Như và những người trước đây đă từng tu khổ hạnh cùng với ngài để thuyết pháp và giải thoát cho họ tại vườn Lộc Uyển. May mà khu vườn nầy đến nay vẫn được chăm sóc kỹ lưỡng. Cây cỏ c̣n xanh tươi và những lối đi rất đẹp. Người ta dựng lại tượng đức Phật đang thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như làm cho không gian khu vườn nầy được chút ấm áp, nhất là ngôi tháp Dhamekh được xây từ thời vua Asoka làm cho Lộc Uyển trở nên thiêng liêng hơn. Ở đây, bộ kinh chuyển pháp luân được khắc vào bia đá bằng nhiều thứ tiếng. Nếu mấy trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt mà không có vua Asoka ghi dựng lại công đức của Ngài sau sự tàn phá của Hồi giáo th́ ngày nay chúng ta chẳng c̣n thấy được ǵ nhiều những nơi chốn đức Phật đă đi qua. Ngay như khu Kỳ viên mà Ngài Cấp cô Độc đă trả cả trăm ngàn đồng tiền vàng để mua lại của con trai vua Ba Tư Nặc để cúng dường cho đức Phật ở Xá Vệ Quốc, vốn là một Đạo tràng hưng thịnh lúc Đức Thế tôn c̣n tại thế hay khu vườn Lâm Tỳ Ni ở Nepal, nơi Hoàng hậu Maya sinh hạ thái tử Tất Đạt Đa, cũng chỉ c̣n những dấu vết tu viện, là những nền gạch, và một ngôi tháp của vua Asoka để lại mà thôi. Sách vở không thấy nói đến nhiều, nhưng nhà vua nầy đúng là một nhân vật đáng được xưng tụng.
Ở Nepal, một buổi chiều tôi đứng ở cửa đông thành Ca Tỳ La Vệ , tưởng như đang nh́n theo bóng dáng của Thái Tử Tất Đạt Đa cúi ḿnh trên con ngựa Kiền Trắc, vượt qua hào sâu, bỏ lại cung vàng điện ngọc vào đêm khuya khi mọi người c̣n an giấc. Con sông A Nô Ma giờ đây cũng không c̣n vết tích, nói chi đến cung điện thành Ca Tỳ La Vệ của Vương Quốc vua Tịnh Phạn ngày xưa. Tất cả c̣n sót lại chỉ là những nền gạch đổ nát giữa những gốc cổ thụ già nua. Hai mươi lăm thế kỷ qua rồi mà h́nh ảnh Thái tử Tất Đạt Đa như vẫn c̣n chập chờn mơ hồ đâu đó. Nhưng hai mươi lăm thế kỷ qua cũng không thay đổi được chút nào đời sống cơ cực của giai cấp cùng đinh ở Ấn độ, mới thấy tiếc thương cho sự hy sinh cao cả của Ngài.
Khắp nơi trên con đường từ Nepal (trước đây cũng thuộc Ấn độ) về Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) chừng một ngày đường, phần đông dân chúng sống trong những căn nhà vách đất. Ruộng mênh mông nhưng ít thấy lúa mà chỉ toàn mía lau. Ḅ là một loài vật thiêng liêng, không để ăn thịt, chỉ lấy sữa. Ḅ sống chung với người, cùng đẳng cấp với người. Riêng phân ḅ được làm thành từng bánh đắp lên phía ngoài tường nhà cho khô, đem làm chất đốt thay củi. Nếu không đến đây th́ không thể nào h́nh dung giữa thế kỷ 21, một đất nước như Ấn Độ lại có thể có cái cảnh ngay giữa nhà, những người phụ nữ ngồi chung quanh một đống phân ḅ, dùng tay đắp phân thành những bánh tṛn trước khi đem ra phơi nắng. Ấn Độ có rất nhiều cây v́ người ta không đốn cây. Không những thế, người ta vẫn tiếp tục trồng cây khắp nơi và được bảo vệ bằng những viên gạch sắp thành h́nh trụ rất công phu. Người Ấn Độ giáo cho là trong cây cũng có thần linh nên họ không đốn cây làm nhà, làm củi. Điều này làm cho khắp Ấn Độ, đầy những cổ thụ đẹp lạ thường. Có một điều lạ là bên cạnh những căn nhà lụp xụp, thỉnh thoảng cũng có những căn nhà gạch, nhưng chỉ xây dở dang bốn bức vách, chẳng có người ở. Hay là người Ấn ở giai cấp nghèo khổ nầy luôn luôn cam chịu số phận của những kẻ cùng đinh, không có quyền hưởng những tiện nghi sung sướng. Có lẽ như thế thật, v́ trên những gương mặt đen đủi kia, chỉ thấy sự nghèo khó, mà chẳng thấy được một nét khổ đau nào. Ngay cả áo quần của họ cũng nhiều màu sắc sặc sỡ vui tươi. Buổi sáng, mỗi người cầm một chai nước ra ngoài đồng làm vệ sinh, v́ không thể nào có giấy, và cũng chẳng có nhà nào có nhà vệ sinh. Người ta sống một cách rất…vô sản. Chết th́ hỏa táng hoặc quẳng xác và tro vào rừng. Họ tin rằng không có luân hồi và sau khi chết sẽ được lên thiên đường.Thảo nào đi qua ở đâu cũng thấy rất nhiều quạ, một loài có họ hàng xa của giống kên kên, chuyên rỉa xác người chết. Dân số Ấn độ hơn cả tỷ và có thể hơn một nửa có kiếp sống như thế. Giai cấp và tín ngưỡng là những lư do khiến nhà nước không cần phải bận tâm nhiều về việc cải thiện đời sống của người dân. Hai người lái xe cho chúng tôi đều thuộc giai cấp thấp kém. Họ không được quyền dùng máy lạnh trong xe. Giữa lái xe và khách được ngăn bằng một lớp kính, có cửa thông thương. Họ không được bước chân vào khách sạn. Không được quyền hưởng nhiều thứ khác, có lẽ kể cả quyền…tư duy và lư luận. Không có tư duy th́ không thể nào ngộ ra chân lư được. Đó cũng là lư do để giải thích tại sao Phật giáo không thể phát triển ở chính cái đất Đức Phật đă sinh ra và thành đạo. Lúc c̣n tại thế, Ngài đă cố gắng xóa bỏ sự bất công đó. Chung quanh Ngài, những đại đệ tử, phần đông cũng là những người thuộc giai cấp Bà la Môn cao quư. Nếu thời đó, những người cùng khổ không được phép đến gần một người Bà La Môn, th́ Đức Phật đă đi khất thực để cho phép những người cùng đinh được gần gũi. Ngài đă độ cho một kẻ gánh phân trước sự ngạc nhiên của mọi người. Thực ra, Ấn Độ cũng có những tỷ phú và nhiều kẻ giàu có. Ấn Độ cũng là một quốc gia cường thịnh, có nhiều ngành công nghiệp hàng đầu thế giới.Trong các thành phố lớn, xe cộ nườm nượp, nhà cửa chọc trời. Tuy nhiên, so với cả tỷ dân th́ đó chỉ là một thiểu số quá ít ỏi. Tôn giáo nào cũng có một đấng thần linh để ban phước hay trừng phạt tín đồ, trừ Phật giáo. Đức Phật không có phép lạ cho chúng sanh mà chỉ có thể dẫn lối cho chúng sanh t́m con đường giải thoát cho bản thân ḿnh. Đức Phật chỉ là một con người, nhưng là một con người đă giác ngộ. Thần linh th́ không phải là một con người, mà là một thứ Thượng đế đầy quyền lực ở một cơi nào đó có thể ban phát ân huệ cho tín đồ, làm chỗ dựa cho tín đồ. V́ vậy mà đối với những kẻ vô minh th́ thần linh vẫn đứng trên tất cả. Không thờ thần linh của họ, nghĩa là chống đối họ và đó cũng là lư do người Hồi giáo đă chủ tâm tàn sát Phật giáo từ xưa.
Hôm nay, tôi đến quỳ trước cây Bồ đề, bây giờ đă được rào lại bốn phía, mà ḷng thấy được vô cùng an ủi. Nơi đây vẫn là chỗ thiêng liêng cho phật tử. Ngày nào đêm nào cũng có hàng ngàn hàng vạn người đủ mầu da, quốc tịch từ khắp nơi đến tụng kinh quỳ lạy quanh cội bồ đề, nơi đức Phật đă ngồi bốn mươi chín ngày tham thiền và giác ngộ. Cây Bồ Đề cổ thụ nầy tuy chỉ là con cháu của cội Bồ Đề hơn hai ngàn sáu trăm năm trước, nhưng những tàng lá x̣e ra đến cả mấy chục thước, oai nghi mà hiền dịu lạ thường. Ngồi đây, lại nhớ đến người thiếu nữ ở làng Sujata, người đă dâng bát sữa cho đức Thế Tôn lúc ngài sắp kiệt lực. Chỉ một sự cúng dường nhỏ nhoi, nhưng công đức vô lượng, đến vua Asoka cũng phải cảm động dựng một ngôi tháp trong ngôi làng Sujata để tưởng nhớ công đức của nàng. Con sông Ni Liên Thuyền lúc chúng tôi đi ngang qua vào mùa khô nầy cũng chỉ là một dăy cát vàng chạy dài ngang qua ngôi làng của người thiếu nữ kia. Sau khi dùng bát sữa và được lại sức, đức Phật đă từ bờ sông đi đến ngồi dưới gốc bồ đề để tham thiền nhập định. Từ đó đến cội Bồ Đề cũng không phải gần lắm. Tôi nghĩ đến những chặng đường đức Phật đă đặt chân đến khắp nơi ở miền bắc Ấn này mà cảm khái. Ngay cả đỉnh Linh Thứu, bây giờ th́ con đường cho du khách tham quan, những kẻ hành hương lên núi, là một con đường lài lài lát đá, thỉnh thoảng có những bậc cấp, rất dễ đi, nhưng lên đến nơi cũng đă thấy ngút ngàn. Ngày xưa, thời đức Phật c̣n tại thế, chỉ có những con đường ṃn theo dốc núi, đầy những thú rừng rắn rết hiểm nguy. Đứng trên đỉnh Linh Thứu, bốn bề xanh ngát rừng núi và trời mây, thấy ḿnh có được cái duyên đứng ở một nơi linh thiêng mà ngày trước Đức Thế Tôn đă từng ngồi đây để thuyết pháp cho các đại đệ tử những bộ kinh cao siêu như Bát Nhă, và Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Cũng nơi đây, vua Tần Bà Sa La thường đến để gặp đức Phật, và cũng đi bộ leo lên đỉnh núi. Tôi đứng đây mà trong ḷng nẩy sinh không biết bao nhiêu là khái cảm lâng lâng.
Nhưng rồi đức Phật cũng phải rời cơi trần, bỏ lại đệ tử chúng sanh. Ngài cũng đă tiên đoán rằng đạo pháp cũng sẽ theo Ngài mà mai một dần dần, dù Ngài đă để lại rất nhiều báu pháp cùng những đệ tử xuất chúng có thể lưu truyền cho đời sau con đường giải thoát chúng sinh. Đức Phật đă nói : “Hăy tự ḿnh thắp đuốc lên mà đi!” Đứng trước biểu tượng nhập diệt của đức Thế Tôn mà cơi ḷng mênh mông một nỗi buồn man mác. Tưởng tượng ra ngày xa xưa đó, Ngài A Nan đă quỳ gối nơi đây cùng với một số đệ tử, khi hoàng hôn dần xuống. Đức Phật đă nói: “Đừng khóc” và tiếp tục giảng kinh cho đến lúc Ngài rời cơi Ta Bà, lên chốn Niết Bàn. Bây giờ, chúng Phật tử, sau khi hành lễ, chỉ có thể đắp một chiếc y lên pho tượng Ngài nằm, và đem chiếc y về cùng chia nhau để đặt lên bàn thờ như một dấu tích của xá lợi mà thôi.
Bỏ xa hoa đi vào gian khổ, t́m con đường giải thoát chúng sanh, Đức Thế Tôn như một đấng cha lành. Chỉ đến đây, đứng trên cơi đất nầy, mới cảm nhận được điều đó.
Phật tử khắp nơi trên thế giới, ai cũng một lần mong được có ngày đến thăm những nơi thắng tích nầy như một lần trở về quê hương vào cuối cuộc đời xa xứ. Ai ai cũng đă biết những nơi nầy qua sách vở. Nhưng một lần đă được đặt chân đến đây, cái cảm giác gần gũi với đức Thế Tôn không thể nào diễn tả được. Không có khoảng cách không gian, không có khoảng cách thời gian. Không phải ngước lên như để t́m một đấng thần linh ở một cơi xa xôi mơ hồ trên chin tầng mây. Đứng đây mà tưởng như đức Phật đang đâu đó cạnh ḿnh.
Nguyên Trí Hoàng tá Thích 25 tháng 11 năm 2010. Kỷ niệm chuyến đi mười ba ngày qua Ấn Độ
______ a2a : H́nh mượn từ internet và wikipedia.
Hoàng Tá Thích
|