|
Hoàng Tá Thích Rắc rối chuyện đời
Đọc trên diễn đàn Giao điểm,có một tác giả viết về chữ Bụt (Phật giáo).Ư ông ta là muốn độc giả thay v́ dùng chữ Phật như từ xưa đến nay th́ nên thay thế bằng chữ Bụt. Muốn thuyết phục th́ phải có lư lẽ, nên tác giả đă mất rất nhiều công phu nghiên cứu về gốc tích chữ Bụt, từ bên Ấn Độ, qua tận Trung Quốc cho đến Việt Nam. Nghĩa là từ chữ Phạn, chữ Pali, chữ Hán,đến chữ Anh, chữ Pháp, chữ Việt. Nào là Bụt bắt nguồn từ Bột Đà, Buddha, Boudha, có từ thế kỷ nàotừ đâu mà có…Xem ra rất nhiều công phu và mất nhiều thời gian với một bài nghiên cứu khá dài. Cuối cùngtác giả nói, nếu không đổi hẳn chữ Phật thành chữ Bụt th́ cũng nên dùng cả hai chữ song hành. Thế có nghĩa là không phải v́ chữ Phật có ǵ sai trái mà phải thay thế. Cũng không hiểu v́ lư do ǵ mà ông ta lại muốn thuyết phục mọi người dùng chữ Bụt thay chữ Phật cho thêm rắc rối. Để trả lời cho tác giả bài viết trên, có một vị khác viết một bài rất ngắn gọn. Ông cho biết chữ Phật là do Ngài Huyền Trang thời nhà Đường, sau khi vượt cả ngàn dặm qua Ấn Độ đem kinh sách Phật giáo về Trung Quốc th́ đă bỏ công dịch từ chữ Phạn và chữ Pali ra chữ Hán để hoằng pháp. Hai ngôn ngữ khác nhau ḥan toàn,và Phật Giáo cũng là một tôn giáo, một nguồn tư tưởng khá mới mẻ đối với Trung Hoa, nên trong quá tŕnh dịch thuật, ngài Huyền Trang đă phải “phát minh” ra một số từ, khoảng hai mươi bốn ngàn chữ. Chữ Phật trong chữ Phật Đà, lấy âm từ chữ Bột Đà mà ra là một trong mấy chục ngàn chữ đó. Chữ PHẬT gồm chữ NHÂN đứng trước chữ PHẤT. Chữ Phất có nghĩa là KHÔNG, theo thuật ngữ nhà Phật nghĩa là tánh KHÔNG. Một người có tánh không, nghĩa là người giác ngộ, th́ chỉ có ḿnh đức Phật. Như vậy,chữ Phật hay ho, đầy đủ ư nghĩa như thế, lại được dùng từ hàng mười mấy thế kỷ nay, tại sao lại phải thay bằng một chữ khác để gây ra lắm chuyện tranh căi? Ấy là phân tích chiết tự cho những người biết chút chữ Hán, c̣n đối với hầu hết những người theo đạo Phật, người ta dùng chữ Phật như một thói quen, chẳng ai nghĩ đến chuyện thay đổi làm ǵ. Trên đây là câu chuyện đối thoại chữ nghĩa giữa hai nhà nghiên cứu về ngôn ngữ, chẳng dám lạm bàn. Có điều thiển nghĩ, chữ Phật đă được dùng từ hàng thế kỷ nay, người ta đă quen như thế, thay đổi cũng sẽ chỉ đem đến nhiều vấn đề tranh căi mà thôi. Trong hàng ngàn hàng vạn người đang dùng chữ Phật th́ có lẽ chẳng có bao lăm người cất công đi nghiên cứu nguồn gốc chữ Bụt và chữ Phật, và nếu không v́ một lư do đặc biệt nào đó th́ cũng không phải chỉ có mục đích thuyết phục người ta thay thế chữ Phật bằng chữ Bụt làm ǵ. Thực ra, Phật đă là không, mà Bụt cũng là không. Ngôn ngữ chỉ là một h́nh thức để diễn đạt. Dùng chữ Bụt cũng được, chữ Phật cũng thế, miễn không gây ra chuyện tranh căi lôi thôi. Bụt hay Phật cũng từ Bột Đà ra mà thôi. Mọi chuyện rắc rối cũng đều chỉ v́ con người không chịu đơn giản mà ra. Trong cuộc đời lắm chuyện này, đôi khi phải t́m cách “đơn giản hóa” mọi vấn đề chút ít th́ có thể được thoải mái hơn. Như nói đến tiền bạc vật chất kẻ có người không, kẻ giàu người nghèo, nhưng nói đến hạnh phúc th́ ai cũng có thể có được hạnh phúc như nhau, dù người nghèo bị giới hạn phương tiện để hưởng hạnh phúc hơn đối với kẻ giàu có. Người đời thường có hạnh phúc vật chất trần tục. Kẻ tu hành có hạnh phúc tâm linh. Hạnh phúc như khí trời, ai cũng có thể thở được. Vua chúa, người giàu, kẻ nghèo cũng có chừng đó hạnh phúc, nhưng đôi khi người nghèo biết an phận mà lại dễ có hạnh phúc hơn người giàu có, quyền thế, v́ người giàu có, quyền thế thường không đơn giản như những người nghèo. Không đơn giản nghĩa là phức tạp, nhưng không phải phức tạp theo cái nghĩa thông thường, mà là một sự phức tạp tế nhị hơn. Ví dụ người b́nh dân chỉ cần một cái bát đôi đũa để ăn cơm, một bộ quần áo đơn giản để mặc. Người giàu có th́ cũng chỉ một cái bát, một đôi đũa, nhưng là chén kiểu, đũa ngà. Nhà cửa sang trọng nhưng chén bát chưa vừa ư, đôi khi cũng ngại mời khách đến dùng cơm nữa là đàng khác. Cũng là một bộ áo quần để mặc, nhưng là đồ hàng hiệu đắt tiền. Ngoài ra phải có cả hàng chục bộ khác nhau để thay đổi tùy theo hoàn cảnh, bộ này đi với giày nọ, bộ nọ phải hợp với xắc tay màu kia. Hàng hiệu mới về phải mua để hợp thời trang. Đi ra ngoài, áo quần dù nhiều vẫn sợ đụng hàng, thế đă là rắc rối rồi. Kẻ tu hành chỉ có một màu áo, không phải mất công chọn lựa. Phức tạp là như thế chứ không phải người giàu phải ăn cơm trong một lúc hai ba cái bát, mặc một lúc hai ba bộ quần áo. Người b́nh dân lấy vợ gă chồng mọi chuyện đều dễ dàng đơn giản. Lễ lược sơ sài, đăi tiệc cũng tương đối. Người giàu có lấy nhau phải môn đăng hộ đối, nghe ư kiến của bà con quen biết nói vào nói ra cũng đă thấy rắc rối. Lễ lạc ŕnh rang, tiệc cưới phải tổ chức nơi sang trọng. Phụ dâu phụ rể năm bảy cặp, cô dâu thay đổi năm ba lần áo lễ. Nhà trai phát biểu, nhà gái phát biểu. Đám cưới nhà càng giàu có, khách mời càng đông cho được ranh rác, lại càng dễ có chuyện để trách móc. Nhưng hạnh phúc giữa hai vợ chồng th́ lại không do những điều đó mà có. Gập nhau nên vợ nên chồng phải nói là duyên nghiệp. Đâu phải ai ai lấy nhau cũng hạnh phúc như nhau. Bản thân hai người không bà con thân thích chung đụng với nhau suốt đời làm sao không có những chuyện không hợp nhau. Ngoài ra c̣n cả hai gia đ́nh, làm dâu làm rể biết bao nhiêu chuyện phiền toái. Hạnh phúc th́ không sao, không hạnh phúc th́ phải ly thân, ly dị. Ra ṭa lần thứ nhất lần thứ hai, phân chia của cải, phân chia con cái. Toàn những chuyện không vui. Giải quyết chuyện của ḿnh chưa xong lại c̣n phải nghe không biết bao nhiêu là ư kiến linh tinh. Tất cả đều là duyên nghiệp. Đến với nhau là duyên kết, hết với nhau là duyên tận. Bạn bè cũng thế. Gập một người bạn là duyên cho gập nhau. Một hôm đẹp trời bỗng nhiên bạn ḿnh hờ hững qua loa ra chiều phai lạt. Chắc hẳn phải có một nguyên nhân nào đó. Cũng v́ duyên tận mới sinh sự cố gây nên hiểu lầm. Bên nào cũng có lư do thỏa đáng. T́m hiểu, phân trần, trách móc… đôi khi chỉ gây thêm phiền muộn. Lỡ bạn có rêu rao nói xấu ḿnh đi nữa th́ cũng v́ cái cung ban bè của ḿnh xấu, cái nghiệp của ḿnh phải gánh chịu. Nghĩ được như thế sẽ thấy nhẹ nhàng thoải mái hơn. Người nghèo b́nh dân qua đời ma chay cũng đơn giản. Người giàu có, nhiều chức vụ, lắm chuyện lôi thôi hơn. Cáo phó như thế nào cho đúng, để tang phải hợp nghi thức thọ mai, mặc dù thọ mai có từ thời xa xưa, nhiều chi tiết nay đă lỗi thời. Đám phải tổ chức đúng nghi lễ, dù tang gia có bối rối cũng phải sắp xếp tiếp đăi quan khách chu đáo. Chức vụ càng lớn th́ điếu văn càng dài, đôi khi c̣n phải cường điệu thêm chút ít. Rồi th́ phát biểu của khách đến viếng, dông dài, kể lể đủ thứ chuyện mà nhà đám có thể không muốn nghe, c̣n người chết đă nằm trong sáu vách gỗ, chẳng biết chút ǵ. Bởi vậy,đám tang là tổ chức cho người c̣n sống chứ không phải cho người chết. Người chết chẳng ai muốn chết ŕnh rang đ́nh đám, nên đơn giản được chừng nào tốt chừng đó. Tuy nhiên đó là những h́nh thức quy ước trong xă hội, con người phải lệ thuộc, không tránh được. Người nghèo không ai muốn nghèo, phải luôn luôn cố gắng làm việc, đấu tranh để đời sống khá hơn. Người b́nh dân tiếp cận với xă hội văn minh cũng phải thay đổi lối sống quá đơn giản để thích ứng với môi trường chung quanh. Nghĩa là con người thường xuyên phải đi từ chỗ đơn giản lên dần chỗ không đơn giản. Lúc chưa có điện th́ đâu có tủ lạnh, truyền h́nh. Có điện vào nhà th́ có đủ thứ nhu cầu càng ngày càng tăng, nhà cửa phải rộng răi hơn, càng phải làm việc nhiều hơn để đạt được đời sống cao hơn. Chưa kể đến chuyện trang trí nhà cửa sắp đặt đồ đạc trong nhà cũng đă là một vấn đề. Càng cao danh vọng càng dày gian nan. Càng đi vào đời sống cao hơn th́ sẽ gập vô số chuyện không đơn giản như ngày trước. Một khi đă đi vào cuộc sống không đơn giản, con người dù muốn dù không cũng phải dính vào những rắc rối của cuộc đời. Có khi không phải nghĩ thế nào, muốn thế nào th́ có thể làm như thế đó, mà luôn luôn chúng ta phải lệ thuộc phần nào những quy ước trong xă hội. Trong cuộc sống xô bồ hiện nay, con người khó sống được trong chánh niệm. Thực tại quá nhiều chuyện để chi phối ḿnh. Có những người làm việc bận rộn đến không có bữa ăn cùng gia đ́nh,hoăc đang ngồi với người thân mà tâm trí để đâu đâu. Mỗi ngày đôi khi phải qua vài ba cuộc họp. Ăn cơm với khách chỉ nói chuyện đầu tư buôn bán, đôi khi chẳng biết ḿnh đang thưởng thức món ǵ, ngon dở thế nào. Giờ nào cũng phải nghe điện thoại để giải quyết công việc. Đó cũng là cái nghiệp. Nghề nghiệp. Nghiệp của nghề. T́m được an lạc thân tâm không phải là chuyện dễ dàng. Mọi chuyện cũng do cái nghiệp của ḿnh tạo ra. Người tu hành chỉ có một màu áo, không cần phải mất thời gian chọn lựa, nhưng khi có chức sắc, phải đứng ra làm chủ lễ th́ cũng phải y phục cân đai đúng cách, không thể đơn giản như chiếc áo nâu hàng ngày được. Áo lễ xấu đẹp cũng có người khen chê, huống chi là đời thường, biết bao nhiêu là h́nh thức bên ngoài phải lệ thuộc. Nhưng đó là những h́nh thức phải có trong cuộc sống đời thường, không thể nào chối bỏ được. Chúng ta chỉ có thể đơn giản bớt những cái rắc rối do chính bản thân ḿnh gây nên th́ may ra sẽ sống được với thưc tại nhiều hơn. Ví như có thể bớt được những lạm bàn chẳng hạn. Hoăc giả có nhiều chuyện đă xẩy ra hậu quả rồi, nay lại bắt đầu lại bằng những “Giá như!” chỉ gây thêm bối rối cho người khác. Con người vốn rất phức tạp. Người ta mời ḿnh đến dự tiệc, đôi khi không muốn đi v́ nhiều lư do, nhưng khi không được mời th́ lại băn khoăn, trách móc. Tặng ai một món quà, thực ḷng th́ không cần người ta cám ơn, nhưng nếu không nhận được lời cám ơn th́ lại cũng có chút trách móc, băn khoăn. Chính đấy là những cái gọi là rắc rối chuyện đời. Ngoài ra c̣n cả trăm thứ rắc rối khác thường làm cho con người không lúc nào được hạnh phúc thoải mái. Trong kinh Phật có chuyện một người bị thương v́ một mũi tên cắm sâu vào thân thể. Gần chết nhưng không chịu cho rút mũi tên ra để chạy chữa nếu chưa biết được kẻ đă bắn ḿnh là ai. Rắc rối chuyện đời là thế. Trong đời sống hiện tại, lắm kẻ chẳng khác ǵ nhân vật trong kinh vừa kể trên. Nhà hiền triết Nikos Kazantzaky (trong tác phẩm Alexis Zorba) luôn luôn bị dằn vặt giữa Tâm và Trí. Tâm muốn làm một việc theo đ̣i hỏi của dục vọng, nhưng Trí th́ thường cản trở hoặc ngần ngại v́ những tư duy do h́nh thức xă hội tạo nên. Những lúc bị bế tắt như thế, ông lại ngồi đối thoại với đức Phật để t́m một lối thoát. Cho đến một hôm đứng trên bờ biển, nh́n thấy những con chim hải âu có thể đậu trên ngọn sóng mà không bị xô ngă, ông mới nghĩ ra một điều : Phải t́m thấy một nhịp điệu thích ứng với đời sống hiện tại và buông thả theo đó : chính là lối sống đúng đắn.
Hoàng tá Thích
|