HOÀNG THỊ BÍCH HÀ


 

TẦN HOÀI DẠ VŨ -

HỒN THƠ DẠT DÀO ĐA CẢM

 

 

 

            Thơ ca là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu trong đời sống con ngườ́. Giữa bộn bề của cuộc sống th́ góc thơ yên b́nh vẫn là nơi để chúng ta trở về, để thấy tâm hồn ḿnh lắng dịu trong những ngọt ngào sẻ chia. Thơ Tần Hoài Dạ Vũ đă có chỗ đứng trong ḷng độc giả. Tại sao thơ anh lại có sức lôi cuốn như thế? Điều ǵ đă kéo bạn đọc đến với thơ anh? Điều ǵ đă khiến nhà thơ phải sáng tác và đọc thơ như là một nỗi đam mê. Những câu hỏi đó cứ thôi thúc tôi đi vào thế giới thơ anh để t́m câu trả lời.


Tôi được tiếp cận với thơ anh từ rất sớm, khi tôi đang là một công chúng thiếu nhi. Tuy lúc đó tôi chưa hiểu hết nội dung và ư nghĩa của bài thơ nhưng tôi vẫn cảm nhận được thơ anh hay, đầy xúc cảm và cách dùng từ rất đắt.

Nay, khi tôi có dịp đi sâu t́m hiểu để viết về tác giả TẦN HOÀI DẠ VŨ, tôi không khỏi đi từ ngạc nhiên đến thán phục và ngưỡng mộ một con người. Anh là một nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà giáo... và c̣n là nhà hùng biện nữa.


Viết về tác giả Tần Hoài Dạ Vũ, tôi xin tŕnh bày theo các mục sau đây:


1. Vài nét khái quát về văn nghiệp của Tần Hoài Dạ Vũ
2. Thơ t́nh của Tần Hoài Dạ Vũ
3. Tần Hoài Dạ Vũ với quê hương xứ Quảng
4. Thơ Tần Hoài Dạ Vũ với Huế
5. Nỗi đau đời và tâm thế an nhiên trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ
6. Thi pháp thơ Tần Hoài Dạ Vũ


1. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHIỆP CỦA TẦN HOÀI DẠ VŨ


Tôi được biết đến tên tuổi của Tần Hoài Dạ Vũ qua những sáng tác của anh, từ khá sớm. Trước hết, anh là một nhà thơ, đặc biệt là thơ t́nh. Thơ đă đăng trên các báo và tạp chí từ những năm 60-70 của thế kỷ trước, khi anh c̣n là cậu học tṛ Quốc Học, rồi sinh viên Đại học Huế. Anh đă thực hiện nhiều tờ báo công khai và bán công khai trong suốt mười năm ( 1965-1975). Đến nay, anh đă có thơ trong hơn 60 tuyển tập thơ xuất bản trong nước và ngoài nước. THDV c̣n là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Những nghiên cứu, biên khảo của anh về văn học dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng là những công tŕnh nghiên cứu giá trị. Đó là những tác phẩm văn học dân gian nhiều đời đă được sưu tầm, nghiên cứu, lư giải rất công phu, rất thuyết phục!


Trong những buổi "Giao lưu tác giả và tác phẩm", công chúng yêu văn học nghệ thuật c̣n được biết đến THDV như là một nhà hùng biện với phong cách tự nhiên, nghiêm trang nhưng dí dỏm, trong không khí các buổi giao lưu sôi nổi, hào hứng và để lại ấn tượng khó quên trong ḷng bạn đọc - khán giả.


2. THƠ T̀NH TẦN HOÀI DẠ VŨ

Đề tài t́nh yêu là đề tài hấp dẫn. Từ xưa đến nay, biết bao văn nhân thi sỹ tốn không biết bao nhiêu giấy mực cho đề tài này. Nhưng thơ t́nh của anh vẫn có nét rất riêng, "rất Tần Hoài Dạ Vũ", bởi có sức lôi cuốn hấp dẫn riêng, với sự độc đáo giàu suy tưởng và chất men say trong ngôn ngữ thơ, mà nhiều thế hệ độc giả đă yêu thích và thuộc không ít những câu thơ của THDV.


Thơ t́nh của Tần Hoài Dạ Vũ là những sáng tác chiếm ưu thế nổi bật và độc đáo. Đó là tiếng ḷng của thi nhân, là khát vọng về hạnh phúc, là t́nh yêu mănh liệt, nồng nàn, say đắm. Ta bắt gặp những điều đó qua những câu thơ rất đỗi chân thành, được viết nên từ những cung bậc t́nh cảm buồn thương, da diết, day dứt và cô đơn trong tâm trạng của nhà thơ.


- "Em chưa đến mà mùa xuân đă hết
Anh c̣n nguyên một nửa giấc mơ tàn
Đóng cửa đời nghe gió cũ kêu than
T́nh đợi chết trong bóng chiều mê sảng"

(Một nửa giấc mơ tàn)

Thơ t́nh THDV viết vào lúc thanh xuân hay đến tuổi trưởng thành chín chắn, bao giờ cũng đằm thắm, nhẹ nhàng và man mác một nỗi buồn. Ở đó, có những suy tưởng sáng tạo, là những cảm nhận về cuộc sống, về t́nh đời, t́nh người, t́nh yêu đôi lứa và những ưu tư về thân phận con người; những câu chuyện t́nh dang dở, éo le, nhớ nhung và cay đắng, nhưng bao giờ cũng tràn đầy lăng mạn.."Không sóng lớn gió to không là biển/ Chẳng nhiều cay đắng chẳng là yêu" (Puskin).


Ai trong đời mà chẳng đă từng yêu và khát khao hạnh phúc. Mà t́nh yêu có phải bao giờ cũng ngọt ngào, v́ không phải cứ yêu là kết tóc xe tơ, nên làm sao có thể tránh khỏi những dang dở, chia xa...


-"Em chẳng bao giờ hiểu hết ḷng anh
Năm tháng gió và vách đời mưa tạt
Bước chân vui giẫm lên thời mất mát
Cơn buồn dài cứ đi hết chiều sâu

( Dạ khúc của một người hay buồn)


Nỗi cô đơn đă dằn vặt, làm thao thức tâm hồn nhà thơ trong cái yên ắng lạnh lùng của đêm khuya. THDV hướng suy tư vào nội tâm và chiêm nghiệm:


- Những chuyện t́nh đổ vỡ trong đời
Lại thường chẳng có nguyên nhân nào rơ rệt

( Tự vấn)


THDV là một nhà thơ t́nh lăng mạn, với cách viết nhiều ẩn dụ, giàu h́nh ảnh, giàu tính nhạc. tinh tế và biểu cảm:

- " Sóng vẫn vỗ bên mạn đời tha thiết
Gọi sông xưa ngày mưa ướt tiếng đàn
Anh suốt đời ôm nhầm bóng trăng tan
Và sông chảy phía chân trời dâu bể

(Ḍng sông phía chân trời)


Và dù cho t́nh yêu có không đi đến cuối con đường, th́ niềm yêu, nỗi nhớ vẫn "nồng nàn như lửa cháy":


-... " Tôi lạc chính ḿnh đuổi bắt dầu chân xưa
Hoa đă rụng mùa xuân không về nữa
Nhớ thương như lửa cháy phía đêm dài"

(Tâm cảnh)


Thơ là tiếng nói của con tim. THDV viết về t́nh yêu của chính ḿnh nhưng có bóng h́nh bao đôi lứa đang yêu. Thơ THDV chứa chất nỗi niềm đa cảm, nồng nàn và tha thiết. Những vần thơ có bóng dáng người t́nh với những nét tinh tế dịu dàng và âu yếm. Mỗi thiếu nữ đi qua trong đời thi nhân hay trong trí tưởng tượng của thi nhân bao giờ cũng mang một chút hương ân ái, nên thơ THDV hấp dẫn và lôi cuốn người đọc. Đôi khi anh viết về những chuyện t́nh dang dở; dẫu đang phải day dứt, chia xa, trong mối t́nh không đi đến cuối con đường, (C̣n ai mà chờ đợi? Rạng sáng buồn không trôi...), nhưng vẫn không nguôi hi vọng về một hạnh phúc le lói cuối con đường:


- “Em làm ơn châm đốm lửa thương yêu
Để mùa sang, con chim hót trong chiều
và t́nh chúng ta bốn mùa hoa nở "

( T́nh khúc bốn mùa)


- " Ước chi trái tim tôi vẫn trong vắt tiếng đàn
Để yêu em một ngày xuân mới chớm
Dắt nhau về chiếu hoa dù trải chậm
Em buồn ư? Ân ái vẫn trăng rằm"

( Phân bua với mùa xuân)


T́nh là vừng dương, là ngàn sao, hay chỉ là vừng trăng khuyết?. Trên thế gian này, c̣n ǵ hạnh phúc hơn t́nh yêu? Hay có ǵ làm ta đau khổ bởi tàn phai như t́nh yêu? Nỗi đau khổ v́ t́nh không chỉ dằng xé trong tâm hồn những đôi lứa không thành, mà chứa chan nhất là trái tim thi nhân, từ những nỗi đau đó đă gửi gắm vào thơ - những bài thơ t́nh ngấn lệ.


Tấm ḷng bao giờ cũng muốn t́nh yêu là trọn ven nhưng cuộc t́nh th́ không tránh được dang dở chia phôi nên thi nhân ch́m trong nỗi cô đơn :


- " Em không về cho kịp nắng mùa đông
Bụi cơm áo cuốn bên trời lận đận...
- Đèn nhà ai vui sáng cửa sum vầy
Nỗi cô quạnh xui anh không nh́n ngắm
Ai chẳng biết đời ta là hữu hạn
Nhưng làm sao t́m lại chút thanh b́nh ?


Trong đau xót chia ly, thi nhân vẫn mơ ước một phép màu sum họp:


- " Có ai về gảy lại khúc đàn xưa ?
Mùi hương cũ c̣n chăng trong kỷ niệm ?
Căn pḥng hẹp. Tiếng chuông chùa. Chiều tím
Anh một ḿnh thương nhớ chính đời anh !
- Nhớ thương nhiều cũng đến thế mà thôi "

( Chiếc bóng mùa đông)


Tâm trạng thổn thức chờ mong và không tránh khỏi thất vọng khi buộc phải chấp nhận thực tế cuộc đời :


- " Như ḷng anh là cơn mưa đổ ập
Đi về đâu trên phố tối lạnh đầy"


Thi nhân buồn vương nỗi buồn của trần thế, cho cả biết bao nhiêu cuộc t́nh dang dở trên thế gian, để cuộc đời thực đi vào thơ nhờ sự tài hoa của thi nhân để lưu lại cho đời những vần thơ t́nh đẫm lệ.


- " Với những sợi chỉ đời mong manh
anh đă dệt cho ḿnh một tấm áo choàng đa cảm

Và trên tấm áo ấy
anh đă đính đầy những giọt lệ thế gian".

(Người đa cảm)

Đau khổ là thế nhưng thi nhân vẫn yêu, vẫn nồng nàn cháy bỏng với t́nh yêu:


- " Em cứ thả hương đắm người vô tội
Tôi vẫn đi về trên những lối chờ mong
- Em hăy trả tôi cơi t́nh cháy bỏng
Để tôi uống cơn say của chính nỗi buồn!

(Mùa xuân và nỗi buồn)

- Biết bao giờ tôi mới quên được những lời nói êm đềm
Đă bắc vơng ru tôi giữa hai bờ ảo tưởng "

(Tháng năm si dại)

Thi nhân gửi t́nh vào thơ, nếu chưa đủ, thi nhân mượn luôn bầu trời để thể hiện t́nh yêu với nỗi niềm khát khao cháy bỏng vô biên. Có ǵ lớn hơn bầu trời để tác giả mượn h́nh ảnh so sánh với tấm ḷng bao dung vị tha rộng lớn, chất chứa t́nh yêu:


-" Nếu thơ tôi không chở hết t́nh tôi
Xin em hăy nhận cả bầu- trời-xanh-tấm -ḷng- tôi-đó.
Để mai sau trên dặm dài thương nhớ
Dưới trời xanh em vẫn thấy hồn tôi.

( Bầu trời- ḷng tôi)

Những h́nh ảnh “vầng trăng chết”, "nắng", "mây"… của thiên nhiên có khi đi vào thơ THDV như dự báo cho những ǵ không lâu bền, vĩnh cửu, là nhân chứng cho bao cuộc t́nh không trọn vẹn. Đọc những ḍng thơ đau đáu với t́nh yêu dang dở, độc giả yêu thơ không khỏi xót xa và buồn vương nỗi buồn của nhà thơ:

-“ Em bội ước đem ḷng qua xứ lạ
Nắng theo mây và mây nát bên trời”


- "C̣n nửa mùa thu cũ ở bên tôi
Trăng đă chết giữa đêm rằm ân ái
Đêm vẫn dài chẳng c̣n ai nói với
Tiếng nhạc buồn hiu hắt đến ban mai”

( Khép ḷng)

Nói đến ban mai, ta thường liên tưởng tới b́nh minh tỏa rạng, nhưng ở đây, nh́n ban mai mà chỉ nghe điệu nhạc buồn hiu hắt, không thể buồn hơn nữa... Nỗi buồn dâng đầy trong ḷng, rồi tỏa ra khắp không gian chung quanh, và những h́nh ảnh của thiên nhiên trở thành tâm trạng nhuốm đậm buồn phiền của tác giả:

- "Không thể chung một điểm dừng chân nữa
Con đường xưa cỏ đá tách hai bờ
Không thể thấy một ngọn đèn trước cửa
Tôi khép ḷng cho bóng tối thờ ơ"

( Khép ḷng)

Tại sao phải “khép ḷng” ? V́ "không thể chung một điểm dừng chân nữa” !. Mà thực sự đă khép ḷng được chưa, hay sóng ḷng vẫn c̣n xao động, vẫn đầy giông băo để day dứt không nguôi? Khi:

- “ Tôi nhớ một người không nhớ tôi
Nửa đêm ngồi dậy ngóng phương trời
Trăng cong treo ngược câu ḥ hẹn
Đời cạn. Thơ buồn …không tiếng rơi”

( Thơ rơi... Đêm Giáng sinh”

Thơ t́nh của Tần Hoài Dạ Vũ có nhiều sắc thái t́nh cảm, với đủ các cung bậc của t́nh yêu. Đó là: yêu thương, day dứt nhớ nhung, hờn dỗi, chua chát, buồn bă thất vọng…dẫn dắt cho người đọc đi vào thế giới tâm hồn của thi nhân, để thấu hiểu và cảm thông với nỗi buồn của thi nhân, cũng để t́m thấy sự đồng cảm, một tiếng nói sẻ chia, một tiếng ḷng tri âm hội ngộ.

Người đọc không khỏi xót xa trước những những vần thơ nói về t́nh yêu dang dở, cuộc t́nh không trọn vẹn, hay đổ vỡ của hôn nhân. Đến khi nào th́ hạnh phúc mới ở trong tầm tay và bao lâu nữa th́ nỗi buồn thôi xuất hiện? Câu hỏi đó người đọc muốn hỏi thi nhân mà cũng có thể tự hỏi chính ḿnh ! Bởi cuộc đời mà! Có bao giờ không mất mát khổ đau ?…T́nh yêu nào mà cái da diết, cái đắm say không có vị đắng cay xen lẫn. Cuộc đời người, khi tuổi trẻ đi qua, có lẽ ai cũng đă hơn một lần nếm trải :

-“ Anh là kẻ rong chơi c̣n mang lắm nợ
Những gánh đời quằn quại cả thân danh
Bước chân anh đ́u hiu như cây già đợi gió
Một sáng nào lá rụng xuống hư vô”

(Trong cuộc đ́u hiu)

T́nh yêu của thi nhân cũng không tránh khỏi éo le trắc trở, bởi có phải ai khi yêu cũng đều có thể chung bước trọn đời đâu, nên những mối t́nh dang dở thường day dứt măi không thôi.

- " Em, chỉ có em là t́nh yêu măi măi
V́ em
Là nỗi buồn trong sâu thẳm hồn tôi”

( Nỗi - buồn - t́nh - nhân)

Tâm hồn của THDV rất nhạy cảm, và tinh tế, cảnh vật tự nhiên và rất có hồn khi đi vào thơ anh. Nó được tác giả mượn để “ tả cảnh ngụ t́nh” cho những nối niềm dấy lên trong ḷng tác giả và THDV mượn câu từ để chuyển tải cảm xúc của ḿnh để gửi đến nhân vật trữ t́nh trong thơ và độc giả.. T́nh yêu có đắng cay nhưng cũng đủ ngọt ngào. T́nh yêu đă làm cho cuộc đời tươi mới :

- " Rồi em đến một ngày xuân có nắng
Bàn tay em che mát bóng đời anh
Hồn đau xưa thấp thoáng khoảng trời xanh
Anh nhắm mắt bỗng nghe ḿnh trẻ lại"


- "Phút yêu em ḷng anh thành hoa trái
T́nh không tên không đ̣i hỏi bao giờ
Em dịu dàng ngọn đèn sáng trong mơ
Anh thôi lạc giữa bước đời dâu bể”

( Khúc dạo đầu b́nh an)

Và dù sao đi nữa th́ t́nh yêu vẫn là thách thức vĩnh cữu trước thời gian:

- "Dẫu cuộc sống có từ chối ta đến trăm lần
vẫn phải giữ lại một điều rất thực
Là t́nh yêu c̣n măi với con người”

( Xác định)

Phải chăng t́nh yêu với đủ các cung bậc mong nhớ, nồng nàn và tha thiết đắm say đă trở thành niềm rung cảm và xao xuyến trong thơ Tần Hoài Dạ Vũ ?

Thơ t́nh là mảng thơ chiếm ưu thế trong thơ anh, bởi hồn thơ đa sầu, đa cảm và hơn hết là nỗi niềm gửi gắm của tác giả vào thơ. Gửi đến cho người đọc thông điệp: rằng yêu là phải tha thiết, đắm say, chân thành, nồng nàn như thế !

Đọc thơ THDV, có lẽ người mọi người yêu thơ đều t́m thấy được nguồn cảm hứng dạt dào, khao khát cho riêng ḿnh; đối với lứa tuổi đă trưởng thành đọc thơ anh sẽ t́m thấy những hoài niệm đẹp về t́nh yêu đôi lứa của một thời tuổi trẻ đă qua, gợi lại cả khung trời kỷ niệm đẹp không tàn phai theo ngày tháng.


3. TẦN HOÀI DẠ VŨ VỚI QUÊ HƯƠNG XỨ QUẢNG

THDV sinh tại vùng đất Giao Thủy, Đại Ḥa, Đại Lộc, thuộc tỉnh Quảng Nam. Ngay từ thời là học sinh Trung học, rồi là sinh viên Đại học, anh đă học hành và rồi làm thầy giáo ở Huế. Quăng đời trai trẻ của THDV gắn bó với thành phố Huế. Lúc ở độ tuổi ngoài 30, THDV lại sống và làm việc ở thành phố phương Nam đầy nắng gió, nhưng ḷng anh bao giờ cũng đau đáu hướng về quê hương, về nguồn cội. Ở nơi đó, tuổi thơ của thi nhân đă đi qua, nên THDV yêu quê bằng tất cả tâm hồn ḿnh... Ở nơi đó, những kỷ niệm của tuổi ấu thơ không thể phai mờ, và sẽ là hành trang mang theo trên bước đường lữ thứ. Đọc bài thơ “Xuân Tha Hương", mà THDV đề tặng "gửi làng xưa và các bạn trẻ ở quê nhà", ḷng chúng ta chùng xuống, không thể không xao động, bâng khuâng, mà quay về với những kỷ niệm ở quê nhà, với cội nguồn, với tổ tiên:

- “Nhớ quê mà ứa lệ
Ngàn dặm không lối về
Thôi th́ đành lỗi hẹn
Rét ngọt hồn tháng giêng”

(Xuân tha hương)

Và đây nữa:
- “Thân như bèo xa bến
Mang sầu trôi trăm miền
Xuân kêu trong nắng mới
Mùa cậy ḿnh trong cây
- Hồn quê thành sợi khói
Bay quanh chén rượu đầy”

( Xuân tha hương)

Và nhất là mỗi dịp xuân về tết đến, mọi gia đ́nh đều quây quần sum họp bên "cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” th́ nỗi nhớ quê lại trỗi dậy trong ḷng thi nhân da diết hơn bao giờ hết, và đây là những ḍng tâm sự của anh:

-“ Càng những năm về sau này, tôi lại cảnh thấy ḷng ḿnh trĩu nặng nỗi nhớ quê. Nhất là những ngày cuối năm, khi trời chợt âm u, hơi băng lăng một chút sương mai (ở cái thành phố phương Nam quanh năm nắng gió này, điều ấy thật hiếm), tôi lại càng thấy nặng ḷng nhớ quê. Trong trí nhớ c̣n thơm lừng cái tuổi dậy th́ của tôi, h́nh ảnh vuông sân đầy hoa cải vàng của mẹ tôi như vẫn c̣n vàng tươi màu hoa và cánh bướm. Mà càng nhớ quê, tôi lại càng muốn dùng những năm tháng cuối của đời ḿnh để viết được càng nhiều càng tốt về những ǵ mà quê làng xưa đă rộng lượng ban tặng cho tâm hồn tôi”. (Báo Quảng Nam Chủ nhật, 20.2.2005).

Khi đă bước vào tuổi tri thiên mệnh, tấm ḷng của nhà thơ với nỗi nhớ thương quê nhà vẫn đầy ắp trong tâm khảm :

-“ Hồn quê như ngọn gió
Thao thức suốt đời ta

(Quê thiêng)

- "Có yếm mẹ bên thềm
Lửa hồng nồi bánh tét
Có tiếng gà sang đêm
Giọng chùng hơi giá rét”

(Nhớ mùa xuân tuổi thơ)

Dù có đi đâu về đâu, nơi góc biển chân trời, th́ h́nh ảnh quê hương là bóng mẹ bên thềm, là vườn hoa cải vàng, là mái đ́nh, tiếng gà trưa, nồi bánh tét, …không thể nào quên!

-“Bao nhiêu năm vẫn nhớ
Mái đ́nh nghiêng trong sương
Qua bao mùa thương khó
Ḷng quê đau dặm trường”

( Nhớ mùa xuân tuổi thơ)

Mảnh đất quê hương xứ Quảng của thi nhân hiện ra trong thơ với đầy đủ phẩm chất kiên cường, trong mọi hoàn cảnh. Con người ở đó hiếu học, thông minh và luôn "vươn tới tương lai" :

- "Dù đi bốn phương trời
Vẫn nhớ về quê cũ
Mảnh đất lành phên dậu (1)
Rạng hồn thiêng tổ tiên”


THDV gọi quê hương là "Quê thiêng", ẩn chứa bao điều thiêng liêng trân quư, ngưỡng vọng và biết ơn. Bởi quê hương nơi chôn nhau cắt rốn của anh, nơi có những người thân thương ruột thịt, có bạn bè cả một thời thơ ấu …và quê hương nơi có ḍng sông Thu Bồn …tất cả đă hun đúc nên hồn thơ THDV.

-“ Tạ ơn con sông dài
Chảy vào ḷng thương nhớ”

( Quê thiêng)

"Quư tặng người xứ Quảng trên khắp mọi ngả đời", THDV đă đề tặng bài thơ này như thế !

-“ Trong mơ lại thấy quê nhà
Ngàn năm một phút vẫn là bể dâu”

(T́nh mộng)

Tần Hoài Dạ Vũ gửi gắm nỗi nhớ quê của ḿnh vào những vần thơ cho xứ Quảng, mà độc giả đọc thơ anh cũng không khỏi bùi ngùi chạnh nhớ về những kỷ niệm ấu thơ nơi quê hương của ḿnh, mà ước ao trở lại quê nhà khi “gót mỏi đường đất lạ”, trong bước đường lữ thứ, mưu sinh…

- "Có buổi trưa nào nắng vàng như lụa
Ḷng quê xa vẫn gọi gió đi về
Sông cứ chảy để ta chờ lâu quá
Biết bao giờ thấy giọt nắng xuân quê ?

(Nắng xuân quê)

- “Tuổi xuân đă lạnh tiếng đàn
Xót làm chi buổi tiệc tàn bể dâu
Dặm xa quán trọ cơ cầu
Mùa xuân mây trắng ngang đầu nhớ quê”

( Nửa đời lưu lạc)

THDV viết về cội nguồn với tất cả t́nh yêu quê hương tha thiết nên thơ anh tràn đầy cảm xúc, và đặc biệt, ẩn chứa trong thơ THDV là t́nh đời, t́nh người, t́nh yêu thiên nhiên xứ sở.

Dù có đi tận chân trời, góc biển Tần Hoài Dạ Vũ lúc nào cũng đau đáu hướng về quê hương với một t́nh yêu vời vợi, tha thiết không bao giờ nguôi !


4. TẦN HOÀI DẠ VŨ VỚI HUẾ

THDV sinh ra ở quê hương Quảng Nam. Nhưng suốt quăng đời đi học và thời trai trẻ anh đă sống ở cố đô Huế. Có thể nói, tuổi xuân của THDV gắn bó mật thiết với xứ Huế mộng mơ, nên anh đă từng nói, như một lời tâm sự với Huế : “Người hăy giữ ǵn một nửa tim tôi”. Những h́nh ảnh của kinh đô đế vương của một thời, cầu Trường Tiền lộng gió và những tà áo trắng buổi tan trường đă đi vào thơ THDV. T́nh yêu dành cho Huế tạo nên cảm hứng dạt dào khi THDV viết những vần thơ về Huế. Khi xa Huế, anh thương nhớ Huế đến nao ḷng và đă day dứt không nguôi.

Trong bài “Từ biệt Huế” có lẽ cảm xúc của THDV đă trào dâng không ḱm nén và anh viết một mạch gồm 77 câu thơ. Đó là một bài thơ dài, có lẽ nhờ thế mới diễn tả hết t́nh yêu và nỗi nhớ THDV dành cho Huế. Dù yêu Huế thiết tha mà anh đành phải xa Huế. Hăy nghe tâm sự của tác giả:

-“Nghe tiếng gọi của xa xăm tôi lại lên đường
Nhưng làm sao ḷng quên được Huế
Huế của bây giờ và Huế của mai sau
Ôi ḍng sông tâm hồn tôi ở đó.

( Từ biệt Huế)

Anh nhớ h́nh ảnh chiếc nón bài thơ che nửa miệng cười duyên dáng của cô thiếu nữ Huế trên một ngả đường vào Thành Nội:

-“ Chiếc nón nghiêng che một nửa môi cười
Chiều không tàn trên những lối phượng rơi
Có ngọn gió nào thổi ḷng tôi vào Nội
Năm tháng không thể rơi ra ngoài một tiếng hát trong.
- ”Ôi Huế của bây giờ và Huế của mai sau
Huế của những ǵ đă qua và những ǵ sẽ tới”
Người hăy giữ ǵn một nửa tim tôi”

( Từ biệt Huế)

Phải chăng bóng dáng giai nhân xứ Huế đă từng là cảm hứng sáng tác của thi nhân ?. Vẫn biết là giữa cuộc sống bộn bề, thơ vẫn là thơ, t́nh vẫn là t́nh, nhưng những người thơ, những người t́nh cũng từ cuộc sống đi vào thơ, để làm nên chất liệu và ư nghĩa của cuộc đời. Cảm xúc THDV viết về Huế, khi sôi nổi nồng nàn, khi thiết tha sâu lắng, và cũng đầy suy tư và chiêm nghiệm:

- "Con đường đó có những ngày đầy gió
Có những lần mưa bụi ướt câu thơ
Em đi qua như vạt nắng t́nh cờ
Tiếng ve gọi quanh chỗ ngồi thương nhớ”

( Về một con đường Thành Nội)

- “Ḷng tôi là hạt phù sa nhỏ
Ḥa nước sông Hương chảy cuối trời"

(Ghi chép của một người thức khuya)

H́nh ảnh ḍng sông, mùa xuân, là tạo vật, là cái cớ để tác giả gửi gắm nỗi niềm.

"Ḍng sông phía chân trời"
                      gửi Huế xưa

- " Em xa quá mà mùa xuân nắng ấm
Nhớ sông xưa con sóng vỗ nồng nàn
Sông bây giờ bồi lấp bóng thời gian
Chiều mây trắng về quanh hồn đa cảm »


THDV nhớ đến "Tiếng c̣i tàu thay lời hẹn chung đôi / Sân ga nhỏ một người về mưa bụi". Đó là buổi chia tay từ biệt Huế, từ biệt một người chăng ? Trong kư ức thi nhân chợt hiện về "một bóng mặt trời mọc về phía núi", "một con đường", "buổi tóc xanh", "môi đỏ thầm th́" … và cả "Đêm tháng Chạp vụng về tay cỏ biếc"... H́nh ảnh giai nhân xuất hiện trong thơ THDV rất rơ nét, có lẽ đó là buổi hẹn ḥ đầu đời (?). T́nh yêu mới chớm đẹp quá ! Nên thơ quá ! Mà cũng sẽ là kỷ niệm khó phai mờ với Huế.

- "Anh sẽ giong thuyền trên nước xanh
Chở trăng Gia Hội vào Nội Thành
Soi nghiêng mái tóc thề Tôn Nữ
Thiếp giữa một vùng hương mỏng manh »


Rồi hẹn ngày trở lại cố đô:

- "Anh sẽ về một sáng mùa thu
Sông Hương c̣n trắng những sương mù
Áo em trắng nhịp cầu thương nhớ
Bóng ngă ḷng anh câu hát ru »

( Hẹn về với Huế)

Bến đ̣ Thừa Phủ, nơi đưa đón những cô cậu học sinh của hai trường Quốc Học và Đồng Khánh đă đi vào thơ THDV.

Bài thơ anh viết : "gửi bến đ̣ Thừa Phủ"

- "Ai chia lệ cho mắt đời thôi đỏ
Đ̣ chưa qua mà tim mắc trên cành
Bến sông đó dẫu chẳng c̣n trăng tỏ
Anh vẫn về tắm lại tuổi xuân xanh"

( Nhớ bến xuân)

Và chắc chắn rồi anh sẽ lại về thăm nhé ! Huế yêu ơi !

- «Chờ anh về thăm nhé, Huế ơi !
Đường xa nhưng không thể sai lời
Chiều nay nắng trở trong ḷng mắt
Con nước linh hồn không muốn trôi »

( Hẹn về với Huế)

Có thể nói t́nh yêu Huế trong anh đă đi vào những sáng tác dành cho Huế, giản dị mà sâu sắc, chứa chan t́nh yêu Huế nồng nàn mà sâu lắng. Những bài thơ THDV viết cho Huế như một lời tâm t́nh nhẹ nhàng sâu lắng, mà lăng mạn.

 


5. NỖI ĐAU ĐỜI VÀ TÂM THẾ AN NHIÊN TRONG THƠ TẦN HOÀI DẠ VŨ


Tần Hoài Dạ Vũ đến với bạn đọc là thi nhân đă gửi hết nối niềm của ḿnh vào thơ. Những nỗi ưu tư, trăn trở trước số phận con người. Đó là khát vọng của một nhân cách lớn h́nh thành trải nghiệm trong sóng gió cuộc đời. Thi nhân yêu cuộc sống, yêu con người, và giàu ḷng nhân ái trong từng trang viết. T́m hiểu qua thời gian, theo những biểu lộ tư tưởng và lần theo những sắc màu cảm xúc, ta thấy nỗi đau nhân t́nh thế thái, ưu tư với từng số phận nhỏ nhoi của kiếp người, là nỗi buồn xuyên suốt trong toàn bộ sáng tác của THDV. Dẫu đó có là thơ t́nh đi chăng nữa, th́ ẩn trong da diết, đắm say, ngọt bùi, có cả đắng cay, nên nỗi buồn v́ thế mà bâng khuâng phủ lên những ḍng cảm xúc của anh. Có lẽ sứ mệnh của thơ anh là chuyển tải những buồn vui của kiếp người. Trong nghịch cảnh, nhà thơ vẫn không để nỗi bi quan lấn át, đến độ chán nản tuyệt vọng, mà luôn có tâm thế an nhiên. Ng̣i bút của anh, v́ thế, rất phóng khoáng. THDV không trách ai, chỉ tự trách ḿnh và biết ơn những ǵ mà cuộc đời đă mang lại cho ḿnh.

- «Chong đèn khuya t́m ḿnh trong trang sách
Lắng ḷng theo những chớp bể mưa nguồn
Anh hổ thẹn nhận ra ḿnh trong sạch
V́ chưa một lần thắng được nỗi cô đơn »

(Tự khí)

Và tấm ḷng thi nhân lúc nào cũng dằng dặc nỗi ưu tư:

- «Ḷng riêng có buổi quên sầu
Dẫu con chim hót bên cầu quạnh hiu
Tay ai cố níu bóng chiều
Hỏi người nhan sắc khóc điều tang thương »

(Uống cạn nổi trôi)

Thơ THDV chứa đựng những triết lư sống bằng những trải nghiệm của riêng ḿnh:

- "Khi đă tận hiến tất cả và mất tất cả
Người ta sẽ học được rất nhiều từ thất bại
hơn là từ thành công"


- "Chỉ những ai bàn chân từng nhức nhối gai đời
Mới có thể hiểu được nỗi đau người khác"


- "Ai chưa khóc bằng trái tim đẫm lệ
Làm sao có thể tin được nụ cười »

(Ghi chép của một người hay thức khuya)

THDV nói về nỗi buồn mà lại xem ḿnh là "hôn phu của cay đắng", nghĩa là anh "kết hôn" với nỗi đắng cay.

- "Là hôn phu của cay đắng
tôi luôn được nuông chiều trong căn nhà
của buồn đau"

(Người mất mùa xuân)

- "Măi mê đuổi bắt âm thanh và sắc màu trên phố
Rồi dệt ḷng ḿnh thành khúc hát thương đau.


Thi nhân nhận nỗi đau của ḿnh và của đời rồi chuyển tải cảm xúc vào những câu thơ làm lay động ḷng người :


- "Anh là kẻ thích làm đầy nỗi đau trong ḷng
Rồi nắn nỗi đau ấy thành những lời ca
Anh thường xuyên dị ứng với quyền lực
Anh ḥa tan trong đám đông
Nhưng lại chẳng bao giờ là đám đông”

( Phác họa chân dung một nhà thơ)

THDV đau nỗi đau đời khi mà giữa cuộc sống bộn bề vẫn c̣n đó những bất công :

- “Thời của ai? Thời của anh?Máu nhỏ xuống nhữngđêm dài loang lổ giấc mơ, máu nhỏ xuống chén cơm khô suốt một thời thơ dại, những cánh đồng ngập nước mắt chiều đông. Lưng mẹ mỗi ngày thêm c̣ng xuống là dấu hỏi in đậm bóng h́nh năm tháng, những dấu hỏi trước cuộc đời không có lời giải b́nh yên. Có một ai đó đă cướp đi giấc mơ của mẹ ; có một ai đó đă thản nhiên ngoảnh mặt trước những tiếng kêu xé ḷng; có một ai đó đang hân hoan xếp những đống tiền dày chồng lên quá khứ”…
(Về một nỗi đau đời)

Thi nhân buồn nỗi buồn của mẹ, của những kiếp người …c̣n mưu sinh vất vả trước những bất công vẫn tồn tại đâu đó quanh ta. Nhà thơ đi vào mỗi số phận, mỗi kiếp người để cảm thông, để bày tỏ, để nói lên tiếng nói công bằng, t́m về công lư và hơn hết gửi gắm khát khao ước ao hạnh phúc b́nh yên cho mỗi một số phận trên cuộc đời này.

Đó là sự lựa chọn về thái độ sống của THDV trước sóng gió cuộc đời vẫn c̣n đó những nhiễu nhương thế sự. Và anh đă đối diện với nỗi đau đời bằng một tâm thế an nhiên.

- “Anh đến giữa cuộc đời này như ánh trăng chợt soi
                                                                                bóng nước
Và sẽ ra đi như đám mây tan ră phía chân trời.

(An nhiên)

- “ Trở lại đường xưa cỏ héo tàn
Làm khách lạ anh giă từ quá khứ”

(Giă từ quá khứ)


6. THI PHÁP THƠ TẦN HOÀI DẠ VŨ

Để hiểu hơn về thơ THDV, ta hăy đi t́m thi pháp, bởi v́ thi pháp là mấu chốt của thơ, là toàn bộ các đặc điểm về h́nh thức nghệ thuật trong thơ. Việc sáng tác thơ và những đặc điểm nghệ thuật trong thơ mà THDV đă sử dụng như một thủ pháp để chuyển tải thông điệp từ trái tim thi nhân đến với đọc giả để dẫn dắt người đọc, người nghe đi từ cảm nhận đến yêu thích, là thuộc về sự tài hoa của nhà thơ.

Các sáng tác của THDV có sự kế thừa của thi pháp truyền thống và thi pháp hiện đại. Anh có những bài thơ lục bát làm theo thi pháp truyền thống và từ đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa câu thơ nền nả, chỉnh chu:

-“Tuổi xuân đă lạnh tiếng đàn
Xót làm chi buổi tiệc tàn bể dâu”


Cuộc sống, t́nh cảm vốn đa chiều, nhiều gam màu và nhiều cung bậc t́nh cảm, th́ thi pháp hiện đại mới đủ cho ng̣i bút phóng khoáng của nhà thơ bay bổng hơn trong việc diễn tả cảm xúc. V́ vậy, phần lớn các sáng tác của THDV theo thi pháp hiện đại. Có bài thơ anh dùng những điệp ngữ, điệp từ lặp đi lặp lại cuộn trào như ngọn sóng, có khi lắng dịu với giai điệu trầm buồn, phù hợp tâm trạng thể hiện của nhân vật trữ t́nh trong thơ. Từ cảm nhận cuộc sống đôi khi cảm xúc chợt đến và được bắt đầu bằng một từ, hay một câu có cấu tứ lạ đủ hàm chứa những trải nghiệm cuộc sống, kiến thức, tài năng của nhà thơ để rồi tiếp tục sáng tạo, bồi đắp, để tạo ra một thi phẩm hoàn chỉnh. Một bài thơ xuất phát từ một cảm hứng có khi là “tức cảnh sinh t́nh”, nhưng được chắt lọc từ vốn sống và những kỷ niệm trong đời nhờ vật liệu kết cấu ngôn từ và cú pháp điêu luyện, để có bài thơ hay, có ư nghĩa sâu sắc, diễn đạt được nỗi ḷng của chủ thể trữ t́nh.

Tần Hoài Dạ Vũ với bút pháp vừa hiện thực vừa lăng mạn.Thơ anh đậm chất trữ t́nh : trữ t́nh tâm t́nh, trữ t́nh phong cảnh, trữ t́nh thế sự và trữ t́nh công dân. Có khi tách bạch, có khi ḥa quyện đan xen nhau, bổ sung cho nhau, để đạt được sứ mệnh chuyển tải cảm xúc đến với công chúng một cách hiệu quả nhất. Đặc biệt, bút pháp THDV khá điêu luyện khi xây dựng nhân vật trữ t́nh. Thi nhân bày tỏ tư tưởng t́nh cảm và thông qua tư tưởng t́nh cảm để phản ánh cuộc sống, chẳng cần miêu tả sự kiện, không kể t́nh tiết câu chuyện, cũng không miêu tả nhân vật, cảnh vật cụ thể, mà mượn cảnh vật để bày tỏ t́nh cảm, đă làm nên phong cách sáng tác thơ “tả cảnh ngụ t́nh” sâu sắc, cùng ư tứ chân thành nhằm giải bày tâm sự.


Ngôn ngữ thơ THDV là ngôn ngữ đối thoại giữa hai người hoặc độc thoại. Cấu trúc thi thoại gồm đối thoại hoặc độc thoại để tạo nên thi ca.

-“ Em từ giọt nắng
bước ra
Hay là từ cơi phong ba
lại về ?
Hồn quê
mưa tạt bốn bề
Trái tim dâu bể
trôi về
nơi đâu...

(Bên cầu nhân duyên)

Thơ THDV phong phú với đủ thể loại : Thơ lục bát, lục bát biến thể; Thơ bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ; thơ tự do; đặc biệt, anh đă làm mới cho loại thơ văn xuôi (Poesie en prose) :

Số phận khắc nghiệt là tặng vật của cuộc đời mà ta không thể khước từ. Như cây già đợi gió tôi lặng nh́n ḍng sông rẽ vào một chân trời khác với cánh buồm quên lăng ruổi dong. Có bao giờ nỗi buồn không khiến ta nghĩ về quá khứ ?»

Ngôn ngữ trong thơ THDV điêu luyện, trau chuốt, nhưng vẫn gần gũi, giản dị, dễ hiểu. Tạo vật trong thơ anh cũng đằm thắm, có t́nh và có hồn đi vào thơ, làm nên tứ thơ đẹp, sắc nét, tài hoa cả về ngôn ngữ thơ lẫn tâm trạng thể hiện. Qua ng̣i bút phóng khoáng và lăng mạn vẫn khắc họa trong đó những đường nét của đời sống thực. Bằng thủ pháp ẩn dụ, hoán dụ, đảo ngữ để đạt tới ngôn ngữ thơ giàu h́nh ảnh, giàu nhạc điệu, sâu lắng dễ đi vào ḷng người. Hăy nghe tác giả bộc bạch quan niệm của ḿnh về thơ và nhất là thơ t́nh : "Làm thơ là phải luôn hiện tại hóa lại những ǵ đă sống". Quả đúng vậy ! Thơ là tiếng nói của con tim, là tiếng ḷng của thi nhân. V́ vậy, "Nhà thơ là người phải đau đến hai lần nỗi đau, vui đến hai lần niềm vui… ". Thi nhân đau nỗi đau trần thế, nỗi niềm riêng và cả nỗi niềm chung. Phải chăng đó chính là sứ mệnh của thơ, nói riêng, và văn học nghệ thuật, nói chung. Biết là không có t́nh yêu vĩnh cữu mà chỉ có những giây phút v́nh cữu trong t́nh yêu và THDV đă ghi lại những phút giây vĩnh cữu của t́nh yêu để cả thi nhân lẫn độc giả t́m thấy sự đồng cảm trong những câu thơ, bài thơ c̣n măi với thời gian.

Thơ t́nh nói chung là những cảm xúc mănh liệt, nồng nàn của t́nh yêu đôi lứa. Ở thơ THDV, có đủ những nồng nàn, đắm say và tha thiết của men t́nh, nhưng vẫn chứa chan nỗi buồn và day dứt khắc khoải. Nỗi buồn đọng lại trong thơ anh khiến độc giả khát khao vươn tới t́nh yêu hạnh phúc. Thơ THDV đi vào ḷng công chúng từ trước 1975…và công chúng hiện nay yêu thích thơ anh, nhiều người đă thuộc những câu thơ hay, bài thơ hay của anh, để có thể đọc ra khi có cùng tâm trạng. Thơ THDV đi vào ḷng người, có lẽ bởi v́ thể hiện một góc nh́n tinh tế, tứ thơ đẹp, , ư thơ ngọt ngào và lăng mạn, ngôn ngữ thơ trau chuốt mà giản dị, dễ hiểu, được sử dụng gieo vần và ngắt nhịp khéo léo và biểu cảm. V́ thế, thơ THDV có sức lay động trong ḷng đọc giả để rồi đọng lại t́nh yêu đời, yêu người, yêu quê hương, đất nước. Hồn thơ Tần Hoài Dạ Vũ dạt dào và tha thiết với cuộc sống, với t́nh yêu, với quê hương xứ sở … Toàn bộ các sáng tác của anh xuyên suốt một tinh thần nhân văn cao cả.

Tất cả đă làm nên tên tuổi của Tần Hoài Dạ Vũ.
 


Thành phố Huế, ngày 20 tháng 5 năm 2018

HOÀNG THỊ BÍCH HÀ
 


(Bài đă được in trong tác phẩm : Tần Hoài Dạ Vũ TRI ÂM ĐỜI GỌI –trang 195 đến trang 223, NXB Hội Nhà Văn tháng 8 năm 2018)

 

 

 

art2all.net