THEO DẤU CHÂN NGÀI

 

 

          Ngày quyết định lên núi Yên Tử làm việc quả thật đau ḷng v́ hai cánh tay tôi đang rả rời phải châm cứu hàng ngày tại nhà Lương y Lê Quư Ngưu. Tuy chưa có dấu hiệu b́nh phục mà phải dừng điều trị để đi sâu vào vùng núi lạnh giá khắc nghiệt ở đông bắc Việt Nam với những công việc nhọc nhằn vất vả: hướng dẫn các đạo tràng hệ thống chùa Yên Tử nấu món chay truyền thống Việt Nam, cùng hướng dẫn cách nấu nướng, phục vụ khách hành hương cho Khu nghỉ dưỡng Tùng Lâm. Nhưng nghĩ đến những khoản tiền to lớn cần lo thang thuốc cho chồng mà tôi quyết tâm đi.

Sau một đêm trằn trọc lẻ loi trên chuyến xe đêm rời Huế, tôi đến Hà Nội vào sáng tinh mơ, rồi lại mang ba lô lên bến xe Lương Yên để đáp xe về Quảng Ninh. Đường đi chưa một lần biết đến, lại thân phụ nữ dặm trường nhưng tôi vẫn rất dũng cảm, vừa đi vừa hỏi đường dần. Xe đến ngă ba Uông Bí th́ dừng lại ở Chùa Tŕnh.
 

Chùa Tŕnh là ngôi chùa đầu tiên trong hệ thống chùa Yên Tử.Tên gọi là Chùa Bí Thượng v́ tọa lạc ngay trên đất Bí Thượng, Uông Bí.
 

Chùa được khởi dựng vào cuối thời Hậu Lê, nằm trên sườn phía Nam của một quả đồi dốc. Nay là nằm bên phía phải tuyến đường Hà Nội- Quảng Ninh. Chùa đóng vai tṛ chùa Tŕnh trước khi hành hương lên Khu Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử. Nghĩa là mọi khách hành hương đều ghé vào tŕnh báo trước khi hành hương lên đất Phật.
 

Tại đây, theo yêu cầu của Sư Khai Bi ( Nhà sư quản lư chùa), tôi ở lại khoảng nửa tháng để giúp các Đạo Tràng nấu món ăn chay truyền thống Việt Nam. Những con tôm con cá làm bằng bột, tuy rất đẹp nhưng chứa nhiều chất bảo quản và lại tạo sự phản cảm trên mâm cỗ chay đă thay bằng những món chay thuần khiết. Việc làm này nhằm tạo nên những món ăn chay bổ dưỡng, lại giúp những nông dân bán được những cây nhà lá vườn hàng ngày để tăng thêm thu nhập. Ngoài ư nghĩa tâm linh th́ món chay lại là món ăn dễ tiêu hóa, giúp thay đổi khẩu vị để bữa ăn hàng ngày ngon miệng hơn.

Chúng tôi cùng nhau làm đậu phụ ( đậu khuôn ) bằng đậu nành, làm mỳ căn từ bột mỳ, làm chả lụa từ lá phù chúc…là những món cơ bản để khởi đầu việc chế biến các món chay.


Hôm làm mỳ căn, tôi được Sư gọi lên khen và thưởng quà v́ với kỹ thuật riêng, tôi đă làm ra lượng căn gấp đôi những chuyên gia khác đă từng đến đây huấn luyện những năm trước. Điều này do tôi biết kết hợp kiến thức truyền thống của Việt Nam và sự am hiểu về tính chất bột mỳ đă học ở Châu Âu.


Hàng ngày, từ chùa Tŕnh, chúng tôi theo cáp treo của Công Ty Tùng Lâm chuyển thức ăn lên các chùa trong hệ thống Yên Tử. Cứ mỗi lần đi, tôi luôn mở mắt thu tóm tất cả những ǵ nh́n thấy trên đường ḿnh đă đi qua. Bởi tôi hiểu tôi đang đi theo lối năm xưa Phật Hoàng Trần Nhân Tông đă từ bỏ ngai vàng lên núi hành đạo. Nhưng năm nay tôi ngồi ô tô, tôi đi xe ôm, tôi đi cáp treo… c̣n năm xưa Ngài chống gậy gặp sông lội sông, qua suối lội suối, gặp rừng rậm th́ phải mở lối đi với bao muôn thú dữ đang ŕnh rập trên đường mà ngài đă ngộ để từ bỏ được những sân si của người trần tục.


Từ dưới chân núi, đi dần lên sẽ gặp chùa Suối Tắm. Tương truyền năm xưa Thượng hoàng Trần Nhân Tông trên đường lên Yên Tử tu hành, ngài đă dừng chân nghỉ lại và tắm ở ḍng suối này nên nay nơi mảnh đất ấy đă dựng lên ngôi chùa gọi là Chùa Suối Vua tắm hay Chùa Suối tắm.


Lên tiếp một đoạn sẽ gặp chùa Cầm Thực, được xây vào thời Trần. Chùa nằm trên một quả đồi tṛn có dáng h́nh mâm xôi, kiến trúc h́nh chữ “nhất”, gồm 6 gian, nay nằm phía tay trái trên lối vào Yên Tử.


Trải qua năm tháng, chùa xưa bị phá rồi được trùng tu lại nhiều lần. Vào giữa thế kỷ XX, do chiến tranh, chùa bị san bằng, chỉ c̣n lại nền móng, vài cây tháp đổ và một lăng xây vào thời Nguyễn. Dựa vào dấu tích c̣n sót lại năm 1993 chùa đă được dựng lại trên nền cũ. Trong chùa gồm các ni sư, đạo tràng nữ ngày đêm hương khói thờ phụng và tiếp khách thập phương.

Đi tiếp lên cao hơn ta sẽ gặp Thiền Viện Trúc lâm Yên Tử nằm phía phải. Chùa được xây rất bề thế, gồm các sư nam tu hành. Năm xưa chưa có cầu bắc qua sông suối, muốn vào chùa phải kết bè, bám dây để lần vào nên dân dịa phượng quen gọi là chùa Lân.


Vào lưng chừng núi, nơi Công ty Cáp treo Tùng Lâm đặt nhà Ga số 1, lại có một ngôi chùa gắn liền với câu chuyện thương tâm. Chùa được xây dựng vào thời Trần sau khi Vua Trần Nhân Tông đă không quay về ngôi báu mà quyết tu hành để đắc đạo. Chùa nằm ẩn ḿnh bên chân núi, phía trước là con suối lớn. Truyền thuyết kể lại: Khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia đến núi Yên Tử tu hành, v́ không muốn vua cha đi tu, vua Trần Anh Tông ngầm sai các cung tần mỹ nữ t́m đến đây can ngăn, khóc lóc xin vua trở lại triều đ́nh. Nhưng Trần Nhân Tông vẫn quyết định ở lại Yên Tử và khuyên họ trở về làm lại cuộc đời.

Để tỏ ḷng trung với vua, họ đă trầm ḿnh dưới suối. Một số trong các cung phi đó bị chết đuối nên Trần Nhân Tông đă cho lập đàn để cúng giải oan cho linh hồn các cung phi ấy. Nơi dựng đàn tràng sau được dựng chùa gọi là chùa Giải Oan, con suối gọi tên là suối Giải oan.


Chùa Giải Oan vốn linh thiêng có tiếng. Chùa tựa lưng vào vách núi, phía trước chùa là ḍng suối tuôn róc rách suốt đêm ngày, ŕ rào như hát khúc Thiền ca bất tận.


Phía bên hông chùa là con dốc mang tên Hạ Kiệu nơi mỗi lần về thăm vua cha tu hành ở Yên Sơn, hoàng đế Trần Anh Tông lúc tới đây xuống kiệu đi bộ vào.

Một số cung tần khác được cứu sống, nhà vua cho về vùng đất lưng chừng núi, gần Chùa Lân để lấy chồng sinh con cháu. Đất ấy gọi tên là Thôn Năm Mẫu- ư chỉ năm bà mẹ thuở lập làng.


Tôi đă từng vào Thôn Năm mẫu để giúp các phụ nữ Dao nấu món ăn hợp vệ sinh và học hỏi họ cách làm Rượu bâu. Tiết trời Yên tử những ngày đầu xuân, lúc bắt đầu khai hội hành hương trời luôn rét đậm, nấu bát canh gà với rượu bâu, ăn sẽ thấy má phừng phừng, ḷng ấm áp nên món canh gà này hiển nhiên thành đặc sản lừng danh và ai ai đến đây cũng đều muốn ăn một lần cho biết.

Tại đây, sẽ có hai lối đi lên. Một theo lối bộ dọc con đường năm xưa nhà vua mở lối với những hàng Tùng do nhà vua trồng vẫn c̣n ngạo nghễ với năm tháng. Hàng cây vươn cao lên trời xanh với thân cây đến mấy người ôm. Rễ bám xuống ḷng đất, qua năm tháng nổi oằn trên mặt đất như những con rắn khổng lồ ngay lối đi. Du khách đi bộ lúc qua đây luôn ngồi nghỉ trên đám rễ cây, dưới bóng mát của ṿm Tùng xanh biếc trên cao. Họ thở thở và xoa nắn chân để rồi một lúc lại tiếp tục cuộc hành hương.


Một lối khác là leo lên cáp treo đi đến nhà ga số 2 cạnh chùa Hoa Yên.
 

Đường Tùng, lối đi bộ lên núi Yên Tử
 

Những hàng Tùng cao niên đă được dân địa phương trân trọng gọi là cụ Tùng ( Như dân Hà Nội gọi cụ Rùa hồ Gươm). Những năm gần đây, có cây Tùng sắp găy đổ v́ bệnh nên đă được chuyên gia Vũ Thế Long lên cứu hộ. Nay cây đă hồi sinh và hy vọng sẽ c̣n sống thêm nhiều năm tháng.

 

 

 

Vượt qua đoạn đường dài đầy khắc nghiệt, du khách sẽ gặp chùa Hoa Yên. Chùa được xây dựng trên lưng chừng núi, ở một ví trí rất hùng vỹ. Nh́n lên c̣n núi lớp núi cao lồng lộng. Nh́n xuống thẳm sâu chập chùng. Đâu đâu cũng những thảm thực vật đặc trưng đất Yên Tử.


Ban đầu chỉ là một am nhỏ được dựng lên từ thời Lư. Sau dựng thành chùa mái lợp bằng lá cây rừng gọi là chùa Vân Yên. Vân nghĩa là mây, Yên nghĩa là khói. V́ chùa đang ở độ cao 600m so với nước biển nên luôn có những làn mây trắng mỏng bay qua trông như những làn khói nên gọi là Vân Yên.
 

Vân Yên là một ngôi chùa c̣n giữ lại nhiều dấu tích xưa. Vào thời Lê, khi vua Lê Thánh Tông lên văn cảnh chùa, thấy cảnh trí nơi đây tuyệt đẹp, trăm hoa đua nở, mây kết thành hoa, giăng trước cửa nên đổi tên thành chùa Hoa Yên.


Xưa chùa Hoa Yên là ngôi chùa chính của cả hệ thống chùa Yên Tử.


Cách đường Tùng không xa là những bạt Trúc với vẻ đẹp thanh bạch, tao nhă mà sức sống dẻo dai. Tương truyền những rặng trúc này cũng được trồng khi Trần Nhân Tông lên Yên Tử tu hành.


Dân Yên tử ngày ngày đi bẻ măng trúc. Mụt măng trúc dáng nhỏ, màu vàng mơ, ăn ḍn, thường được luộc chấm muối mè hay làm gỏi, nấu thịt gà. Những lần theo chân người địa phương đi bẻ măng tôi luôn khuyên họ nên vừa khai thác nhưng vừa dự trữ để rừng trúc c̣n măi. Đem kể họ bộ luật Gia Long cấm bẻ Măng vào mùa xuân, hạ để bảo vệ loại thực vật này cho con cháu muôn đời sau. Có người hiểu thấu ư nghĩa sâu xa ấy, hứa sẽ nghe lời khuyên nhủ của tôi.


Qua hết hàng Tùng và những bạt trúc là Chùa Một Mái. Chùa nằm nép ḿnh bên sườn núi ở vị trí cao giữa lưng trời, một nửa chùa ẩn sâu trong hang núi, nửa c̣n lại phô ra bên ngoài chỉ có một phần mái đúng như tên gọi của chùa, tên dân gian gọi là chùa Bán Mái. Thời Trần, đây chỉ có một am nhỏ gọi là Am Ly trần. Vào chùa, có một ḍng nước ngầm chảy ngày đêm không dứt. Tôi đă múc nước rửa mặt và uống mà không cần đun sôi. Nước trong, mát và có vị ngọt. Rất nhiều người xin nước đem về pha trà.


Nh́n quanh, cảnh sắc nơi đây thật tĩnh lặng, thanh thoát, cách xa nơi trần tục nên khởi đầu đă được gọi tên là Ly trần. Đây là nơi Thượng hoàng Trần Nhân Tông thường sang đây đọc sách, soạn kinh. Các văn từ, thư tịch được lưu trữ ở đây, sau khi ngài hiển Phật, người đời sau mới lập chùa ở Am này.


Chùa Bảo Sái được gọi tên từ một đệ tử của Phật Hoàng. Khởi đầu lúc nhà vua lên tu ở Yên Tử, chùa chỉ là cái am trong động (gọi là gườm đá ở phía sau bên phải chùa hiện nay). Am được gọi là Ngô Ngữ Viện, đây là nơi tu hành của Bảo Sái, đệ tử thân tín với Thượng hoàng Trần Nhân Tông. Ông được vua Trần giao cho công việc biên tập và ấn tống tất cả các kinh văn của Thiền Phái Trúc Lâm để truyền giảng Phật tông cho các phật tử trong cả nước Đại Việt. Về sau Am được nâng cấp thành chùa và gọi tên Bảo Sái.


Trước khi chân bước lên tận đỉnh mù sương, ta sẽ c̣n dừng chân ở Chùa Vân Tiêu. Cũng như các chùa trong hệ thống chùa Yên Tử, khởi đầu chỉ là am Tử Tiêu, xây vào thời Trần để nhà vua Trần Nhân Tông lên tu hành ở. Về sau mới xây dựng chùa.


Từ vị trí này, ta có thể nh́n thấy toàn bộ quang cảnh của bến xe Giải Oan và thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh ở phía dưới chân núi. Thậm chí nh́n xa tầm mắt hơn nữa ta c̣n nh́n thấy cả thành phố Hải Pḥng, ḍng sông Bạch Đằng đang chảy nh́n như một dải lụa mềm mại. Chính vị trí đắc địa này nên khi lên Yên Tử tu hành, Trần Nhân Tông đă chọn nơi đây để lập am thất.


Cuối cùng bước chân ta cũng sẽ chạm đỉnh thiêng. Nơi đây một ngôi chùa bằng Đồng đă được dựng xây. Tương truyền trước đây chỉ là một ḥn đá vuông phẳng thật lớn, ở độ cao 1.068m so với mực nước biển, là đỉnh cao nhất của dăy núi Yên Tử. Tầm nh́n về biển đông rất rơ. Nó được chọn làm vị trí vọng canh cho tổ quốc Đại Việt. Khi có bóng những tàu lạ tiến vào đất liền, người dân sẽ đốt lửa trên tảng đá này. Từ kinh đô Thăng Long sẽ nh́n thấy và kịp lo ứng phó.


Vào thời Lê (1428 - 1527) chùa được bà vợ chúa Trịnh công đức xây dựng. Do điều kiện quanh năm ẩm ướt nên mọi vật liệu xây dựng và thờ tự đều thiết kế bằng đồng.Tuy thế chùa vẫn trải qua bao phen hư hỏng và trùng tu để có được như hôm nay.

Trên đỉnh thiêng này c̣n lưu lại tượng đá và câu chuyện huyền thoại về một người khác có tên An Kỳ Sinh, một đạo sĩ thời Tần Thủy hoàng bên Trung quốc sang núi Yên Tử. Người đă đến trên đỉnh núi luyện linh đan rồi hóa đá, để đến hôm nay người dân Việt vẫn luôn kính trọng dâng hương cho người.
 

Đôi lần tôi tự nguyện đi bộ lên đỉnh Yên Tử để hiểu thấu lối chân Ngài đă đi qua. Tôi đă khóc v́ bàn chân rớm máu… Và lúc quay về luôn leo vào cáp treo v́ không c̣n đủ sức đi tiếp. Thế mới hiểu năm xưa nhà Vua c̣n vất vả biết bao nhiêu, khi Ngài vốn quen sống trong cảnh vàng son nhung lụa.


Sau Chùa Tŕnh, tôi lên sống ở khu nghỉ dưỡng Tùng Lâm. Hàng ngày vào rừng hái lá chuối, quả vả rừng, bẻ măng trúc… để chế biến những món ăn.


Đêm nằm nghe gió núi rít ngoài song, thật thấm thía v́ những cơn lạnh cắt thịt da. Mà trên đỉnh mù sương, cái lạnh kia c̣n khủng khiếp hơn.
 

Ngày ngày đi trên cáp treo nh́n nước non Yên Tử, ḷng tôi càng yêu thêm đất nước ḿnh. Đâu đâu cũng đẹp nên ta phải quyết ḷng giữ lấy quê hương.


Những tháng ngày sống ở núi Yên Tử, đêm đêm tôi trăn trở thật nhiều về một con người đáng kính: Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Tôi đă ngộ rằng mọi vật chất trên đời này đều là phù vân. Cái c̣n lại bất tử với năm tháng là nhân phẩm của một con người.


Cho con cúi đầu kính lạy Phật Hoàng/.


Hoàng Thị Như Huy

( trích tập ĐẤT NƯỚC TÔI của Hoàng Thị Như Huy)

 


chân trần

art2all. net