Hoàng Xuân Sơn

 

CŨNG  CẦN  CÓ  NHAU

V À O  T Ậ P
 


Tôi mượn mấy chữ trong câu nhạc “…ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…” ( Diễm Xưa – ca khúc ) của người nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn để làm tựa đề cho thiên phóng bút tạm gọi là kư này . Thiển nghĩ, đến sỏi đá vô tri một lúc nào đó cũng cần có nhau, huống chi là con người, vốn xa cách, nghi kỵ, ngày càng đẩy xô nhau vào chỗ bạc bẽo, bội t́nh trong cái thế giới ba ngàn vốn dẫy đầy bất trắc .

Tôi không có ư định viết hồi kư . Viết hồi kư đ̣i hỏi phải có một đầu óc khá minh mẫn để ghi lại sự kiện rơ ràng, minh bạch như đen với trắng . Ví dụ như ngày/tháng, địa điểm v.v..Thời gian, không gian cần có sự chính xác . Hỡi ơi! Trí năo tôi giờ này đă mụ mị mất rồi! Hơn thế nữa, trong các thể loại văn chương, cầm bút viết một bài văn cho ra hồn, với tôi thật là vạn nan . Tôi là một kẻ làm thơ lưng chừng ở sự lười biếng . Lâu lâu có cảm hứng rị mọ một vài câu vần-vè-vật-vạ . Bởi khó khăn thế nên tôi không hề có ư định viết hồi kư cho đến khi . . . (?) . . .đến khi dăm ba bằng hữu ngồi tán dóc, thuật chuyện đời xửa đời xưa, nghe tôi có dính líu ít nhiều đến sinh hoạt thời sinh viên trai trẻ, thời của Quán Văn có đông đảo anh chị em văn nghệ v.v. đă khuyến dụ tôi ghi lại quăng đời này qua những sự kiện của một thời đại đáng ghi nhớ . Cám ơn các bạn văn Hoàng Chiều Nhân, Trương Vũ, Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Doăn Nho, Cao Vị Khanh . . . đă chủ động “ khích tuồng “. Và mới đây nhất, thi sĩ Nguyễn Xuân Thiệp, ông chủ Phố Văn, một đêm đối ẩm hai chàng ba chai rượu đỏ ( đêm tiền đại hội Văn Hóa Phẩm Dallas Fortworth - tháng 11/2005 ) đă cặp kè bên hông kẻ hèn này thúc viết cho bằng được .

Ừ, th́ viết . Cái này không gọi là hồi kư, thôi th́ tạm gọi là phóng bút đi . Nhớ lại một đoạn viết cho Nguyễn Thị Thảo An :

Phóng bút vào nơi thâm sâu
vầng trăng bồng nở nên mầu mực tươi
c̣n khăng khăng dạ yêu đời
chuỗi thanh tân với gọi mời sương hoa


Sương và hoa . Sắc rồi cũng nhạt . Hương rồi cũng tàn . Hi vọng làm sao mầu mực hăy c̣n đượm chút tươi tắn khi vẽ lại người và việc muôn năm cũ đă ch́m dần mờ mờ trong sương khói . . .!

Bạn ạ ! Đừng mong mỏi bắt gặp được ǵ hay ho văn vẻ từ đây . Người ghi chép chỉ mong bạn t́nh cờ gặp lại, sống lại một vài giây phút thân quen mà năm tháng đă phôi pha . Sự kiện, vụ việc cũng có thể mới mẻ với một vài bạn khác . Chúc bạn khám phá một vài ngạc nhiên thích thú và chiêm nghiệm rằng chúng ta đă có một thời như thế . Một thời để yêu và để sống . Những ǵ có tính cách riêng tư nếu làm phiền ḷng bạn, cũng xin hoan hỉ bỏ qua .

Cần nói thêm, chính bạn thân nhất của tôi, Ngô Vương Toại, tức nhà thơ Thạch Miên ( c̣n là kư mục gia Tiểu Ba kiêm đặc phái viên Phạm Điền của Đài Phát Thanh Á Châu Tự Do ) mới là người có thẩm quyền viết về thời kỳ này . V́ chính anh đă sống tích cực cho từng giai đoạn, từng sinh hoạt, dấn thân thực sự vào tất cả môi trường sống; trong lúc tôi chỉ là kẻ lơ mơ đứng bên lề .

 

 


 

C H Ư Ơ N G     M Ộ T

HUẾ, TRÓI CHÂN NHỮNG CƠN MƯA BUỒN
 

 

 

Sinh ra ở Huế
sinh ra
sinh ra
sinh ra làm ǵ ở Huế
những cơn mưa cuồng thâm nặng ḷng đất
những cơn mưa thượng nguồn đổ ập xuống
tràn trề bụng mẹ
sinh ra hài nhi bập bềnh
nôi sông bập bềnh . . .


Tôi như trẻ nhỏ ngồi bên hiên nhà nh́n Huế những cơn mưa dầm . Những cơn mưa rả rích ngày này qua tháng nọ. Những cơn mưa cuồng kéo theo mùa lũ . Những cơn mưa vô địch không tiền khoáng hậu của Hồ Đ́nh Nghiêm . Những cơn mưa đêm Trịnh Công Sơn bó chân ngồi nghe ḍng nước cuốn trôi . Và những cuộc t́nh . . . con thuyền giấy thả trôi. . . về đi thôi tuổi nhỏ . . .

Nhiều người đă viết về Trịnh Công Sơn (TCS) . Tôi lại bắt đầu viết về TCS . Rất đúng nghĩa, anh là một trong những mấu chốt vô cùng quan trọng của thời kỳ dầu sôi lửa bỏng . Một thời kỳ trộn lẫn mộng mơ lăng mạn – sợ hăi âu lo – thương đau hạnh phúc – tuyệt vọng và kỳ vọng . Hơn thế nữa, anh là nhân vật cuốn hút, tŕ kéo, dính líu rất nhiều đến cuộc đời tạm gọi là có chút sinh hoạt văn nghệ của tôi . Tôi bắt đầu viết về TCS . Từ Huế .

Huế thập niên 60, TCS hợp cùng Đinh Cường, Trịnh Cung ( trước có bút danh là Thương Nguyệt ), Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường . . .thành một băng văn nghệ trẻ rất có thế giá, hiện sinh, à la mode. Họ ăn bận theo lối Tây, pha một chút Parisien trên áo dạ cổ lọ, đội mũ nồi, ngậm pipe, khăn quàng cổ hoa ḥe, thong thả dạo chơi dưới trời xám gây gây lạnh phố Huế . Đinh Cường, Trịnh Cung đem những nét mới mẻ tây phương vào hội họa . Ngô Kha có tập thơ Hoa Cô Độc và sau đó là Ngụ Ngôn Của Người Đăng Trí với ngôn ngữ tân kỳ( anh suốt một đời đuổi bắt thơ nhưng h́nh như không được đăi ngộ xứng với tài năng !) . Tôi không nhớ Hoàng Phủ Ngọc Tường có trước tác ǵ đặc sắc thời đó, nhưng anh cùng Ngô Kha là những giáo sư triết có tiếng ở trung học . Nhắc thêm Huế c̣n có Đỗ Long Vân thâm trầm , trí thức. Và Bửu Ư uyên bác, giỏi ngoại ngữ, nhưng không thuộc ṇi chải chuốt . Huế của những năm trai trẻ ngồi càphê Lạc Sơn, ghế cao cẳng, khóithuốc mù trời Ruby hai đồng ba điếu . Lửa mồi là sợi dây dừa cháy thường trực, tḥ đầu ra khỏi miệng lon .


Khăn quàng cổ của C
điểm hoa màu than tím sẫm
trông điệu đàng bắt mắt
chiếc tẩu gỗ ngời lên nước bóng
bạn thân yêu,
khum bàn tay che giùm ngọn gió
đốm hồng đốt cháy thảo hương
thở tràn trề
thở mù sương, sớm maiHuế

Bằng hữu có thâm t́nh như lâu năm quán chợ
những chiếc ghế cao cẳng đong đưa thời trai
sợi thừng ḅ quanh miệng tách
cà phê đen ư nghĩ hồng
linh hồn ơi trói buộc
như sông
và dịu dàng kỹ nữ



Chỉ riêng ḿnh TCS làm nhạc . Lời nhạc của anh thoạt đầu cũng mang hơi hướm lăng mạn cổ điển chung chung trong những ca khúc như Ướt Mi, Thương Một Người . . . ngoài hiên mưa rơi rơi, ḷng ai như chơi vơi, người ơi nước mắt hoen mi rồi . . . Kỳ diệu thay, sang đến Lời Buồn Thánh, Diễm Xưa . . . ca từ đă hoàn toàn lột xác . Ngôn ngữ nhạc, hay thơ ? trở nên trừu tượng , siêu h́nh và rất mới mẻ so với những ca khúc được viết thời bấy giờ . Bọn trẻ tụi tôi vẫn hằng ư ử ca . . . dài tay em mấy thuở mắt xanh xao . . . mà không hiểu ( cần chi hiểu ! ) tác giả muốn nói điều ǵ . Chỉ hát . Và nghe thấm đượm một điều ǵ thật lạ lùng, sâu hút, gợi nhớ ở một nơi chốn nào thật xa xăm .Những câu ca như gió ơi gió ơi bay lên – để bụi đường cay ḷng mắt; gót chân đôi khi đă mềm – gọi buồn cho ḿnh nhớ tên (Chiều Một Ḿnh Qua Phố) mấy chục năm sau hát lại nghe vẫn c̣n hay, ngập tràn ư tưởng, h́nh ảnh tuy quen thuộc mà cách diễn tả hết sức thơ. Nói theo ngôn ngữ trần trụi ở quê nhà bây giờ là lời ca TCS rất “ ấn tượng “. Bọn trẻ chúng tôi bắt đầu ch́m ngợp trong ấn tượng đó : Ấn Tượng Trịnh Công Sơn !

Bọn tôi hồi đó nhỏ hơn một trang lứa, rất ngưỡng phục mấy ông anh văn nghệ này . Các chàng trai mới lớn Liêm-Tọai-Sơn-Kỳ-Tuấn-Sum . . . cũng tập tành ăn diện, đi đứng, suy nghĩ theo lối Tây và lốt Tây thời thượng . Bọn tôi nh́n về TCS và bằng hữu của anh như một h́nh tượng, một điểm mốc của thời trai trẻ. Ngoài nhóm TCS, Huế c̣n rộ lên với biết bao kỳ hoa dị thảo trong khu vườn nghệ thuật. Nào là Vơ Ngọc Trác một ḿnh ḿnh biết một ḿnh ḿnh hay, bí ẩn với thơ Thượng Thẩm; nào là thơ Thế Viên, Châu Liêm (Nguyễn Xuân Thiệp), Diên Nghị v. v. mỗi người một vẻ . Các tay văn nghệ trẻ hơn cũng bắt đầu nhập cuộc . Điểm diện có Lê Khắc Cầm, Trần Hữu Thục (Trần Doăn Nho), Huỳnh Hữu Ủy, Hồ Minh Dũng, Lê Bá Lăng, Mường Mán, Ngụy Ngữ, Thái Ngọc San, Tần Hoài Dạ Vũ . . .khởi viết và dần dà khởi sắc trên các tờ Văn, Văn Học, Bách Khoa v. v. Đấy là chưa kể xiết lực lượng những cây bút trẻ dọc miền trung từ Quảng Nam Đà Nẵng vô Tam Kỳ Quảng Ngăi, Qui Nhơn B́nh Định, Phan Thiết Phan Rang . . . chao ôi là đông đảo .

Nói hơi cải lương một tí : Tôi sinh ra đời giữa mùa ly loạn . Cái thời mà mạ gánh hai đầu hai đứa – chạy tả tơi ầm ầm lửa đạn . Cho nên to đầu đi học chậm phải khai sụt tuổi . Tôi học tiểu học Lư Thường Kiệt với Ngô Vương Toại, một thằng Bắc Kỳ, một thằng Huế vậy mà thân nhau mới lạ . Toại và tôi đeo nhau như h́nh với bóng từ học vỡ ḷng lên tới trung học đệ nhất cấp (Bán Công), rồi đệ nhị cấp (Quốc Học), rồi Văn Khoa Saigon và Cao Học Chính Trị Kinh Doanh . Chuyện này sẽ nói dài ḍng sau .
Nhóm nhỏ tụi tôi khởi nghiệp văn nghệ ( rất hạn hẹp, nội bộ ) từ trường Trung Học Bán Công Huế . Tôi c̣n nhớ chơi thân với nhau có Ngô Vương Toại, Hoàng Ngọc Tuấn, Vơ Thành Tân, Thân Trọng Mẫn, Lê Viết Vơ, Dương Phước Duy, Huỳnh Ân, Hoàng Xuân Sơn . . .Chúng tôi tập tành viết văn qua những bài luận văn trường ốc với sự hướng dẫn của GS Hoàng Long Hải ( là nhà văn Tuệ Chương, hiện ngụ ở Mass.). Thầy Hải giảng bài rất hay, rất mới . Ngoài ra c̣n có cô Hoàng Dạ Thảo, đẹp quư phái, mà h́nh như đứa học tṛ nào cũng mê cô . Cô Dạ Thảo cũng phụ trách Việt văn ( không biết giờ này cô ở đâu ? ). Hai vị này đă mớm cho chúng tôi cái hay ho văn vẻ của văn chương nghệ thuật vào tâm hồn thơ dại . Phải nói là Bán Công đệ nhất cấp có “tứ nhân bang” Toại-Tân-Tuấn-Sơn thay phiên nhau đứng đầu Việt văn , thường xuyên có bài luận văn xuất sắc được lên máy phóng thanh đọc cho toàn trường nghe . Oai ghê gớm chưa ? Trường Bán Công thời bấy giờ là một trong những thí điểm xuất sắc của nền giáo dục mới . Đa số giảng viên là những người tài ba trẻ tuổi, cộng thêm kinh nghiệm của những bậc thầy cao niên khả kính; trường Bán Công đă thu hút một lượng học sinh đáng kể của thành phố Huế . Trường có một thư viện lớn với đầy đủ sách giáo khoa và giải trí ( Bọn tôi vào thư viện ít khi mượn sách học mà mượn toàn truyện Tàu nào là Tây Du, Tam Quốc Chí, Chung Vô Diệm v.v. làm cho vị quản thủ thư viện thường chau mày và hạn chế số sách cho mượn ) . Ngoài ra, Bán Công c̣n có một pḥng thí nghiệm khang trang với đầy đủ dụng cụ máy móc khoa học . Bọn tôi hồi đó tuy học đệ nhất cấp nhưng cũng có những giờ thực nghiệm riêng cho những môn Lư/Hóa/Vạn Vật : Mấy cô mấy cậu được khoác áo blouse trắng ngồi trước kính hiển vi nom như những nhà khoa học tương lai ! Nhớ có thầy Hồng Quang Anh đẹp trai (râu quai nón) dạy lư hóa và hướng dẫn thí nghiệm . Nhớ quư thầy, cô Tôn Thất Đát, Cao Xuân Duẫn, cô Hoa dạy Anh Văn. . . ai cũng tận t́nh dạy dỗ và thương quư học tṛ . Nhớ những đ̣n roi mây và cú bạt tai xính vính của thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Hai lúc nào cũng mong uốn nắn bọn học tṛ phá phách quỷ quái vào đường khuôn phép .

Mặc dù đă đọc Tự Lực Văn Đoàn, đă có nhấm nháp qua Sáng Tạo, Hiện Đại . . . nhưng cả bọn trẻ chúng tôi chưa có tay nào thấm nhuần để dấn thân vào con đường viết văn làm thơ thực thụ . Công tŕnh đầu tiên của bọn tôi là một tờ báo chép tay thuộc về lănh vực . . . nghệ thuật thứ bảy ! Cả bọnï mê xi-nê như điếu đổ. Mấy rạp chiếu bóng Morin (Nguyễn Văn Yến), Tân Tân, Châu Tinh, Gia Hội . . . đều nhẵn mặt . Không xin được người lớn dắt vào rạp coi cọp th́ ít lắm cũng lận lưng một tờ “rồ gam”làm “cô-lếch-xồng” ( Than ôi tuổi nhỏ tiền đâu mà ham chi ba cái đồ xa xỉ ? ! ). Bởi rứa, lúc Hoàng Ngọc Tuấn ( một con ma xi-nê ngoại hạng ) đề xướng làm tờ Xi-Nê-Ma-X́-Cốp th́ cả bọn đều hoanh nghênh, lăn xả vào . Tha hồ mà bàn luận chuyện phim, tài tử, màn ảnh trắng đen, tếch-ních-cu-lơ . . . Âu cũng là một công tŕnh nghệ thuật đáng xiển dương cho tuổi trẻ ham vui . Sau này có đứa làm thơ, viết văn làm báo là do những cơ duyên khác . Trùng trùng duyên khởi . . .

Trở lại với TCS . Từ sau Diễm Xưa, anh đă là một hiện tượng độc đáo trong làng âm nhạc . Anh tiếp tục nổi tiếng với những công tŕnh sáng tác liên tục, lớn lao khác; về sau . Giao t́nh văn nghệ giữa anh và tôi có nhiều điểm vượt qua mức b́nh thường . Ngoài t́nh bạn, có thêm t́nh thân thuộc gia đ́nh theo một nghĩa nào đó . Ở vào thời kỳ của những ḷng nhiệt thành yêu nước, thân phụ anh và ba tôi là hai người bạn tâm giao và tâm đắc . Ba tôi không may mất sớm . Tôi nghe thuật lại mỗi kỳ tới ngày húy nhật ba tôi, bác Thanh (ba anh TCS) đều bày chén bát cúng giỗ và ngồi nói chuyện với âm hồn . Đối thoại giữa người c̣n sống và kẻ đă khuất . Thật là cảm động . Sau này, dù qua bao biến động, tôi vẫn luôn nghĩ tới anh TCS như một người bạn thiết, một người anh trong t́nh thân tộc đậm đà .

TCS dáng người nhỏ nhắn . Da ngăm ngăm. Trán cao, tóc bềnh bồng rất nghệ sĩ . Anh có đôi mắt sáng hơi ánh mệt mỏi sau làn kính cận đồi mồi tṛn , dày . Miệng rộng, mũi nở là những nét tướng tốt nơi đàn ông . Đặc biệt anh có hai bàn tay với những ngón dài tháp bút tuyệt đẹp, không thua những bàn tay đẹp của nữ lưu . Anh ăn bận không chải chuốt lắm, nhưng rất có “gu”, thẳng thớm và không có vẻ chi là “bụi”, lếch thếch như hồi kư của một người bạn anh đă tả ( Có thể là một sự thay đổi chăng ? Tôi không tin như thế ) . Thời nhỏ, tôi ít lui tới nhà anh TCS . Hai gia đ́nh ở hai phố cách biệt . Ở Huế mà cách sông cách đ̣ th́ cũng khó đi lại . Phương chi nhà anh có cơ sở thương mại (Buôn bán xe đạp) nên rất bận rộn . Người Huế rất ngại quấy rầy công chuyện làm ăn buôn bán . Về sau, khi đă lui tới thân thuộc với gia đ́nh anh ở ngôi nhà xinh xắn đường Nguyễn Trường Tộ / Huế; các em gái của TCS thường gọi tôi là “ anh Sơn nhỏ “ để phân biệt với” anh Sơn lớn” . Phải thế không Thúy-Tâm-Ngân-Diệu-Trinh ?

Đôi khi anh ngỡ ḿnh là gió
gió t́nh cờ trở lại nhà em
gió đến rất thầm sau khung cửa
đón các em về buổi học tan

Nhớ Huế êm đềm mưa nghiêng sợi
thương màu áo dạ phố đông sang
buổi sáng em cười mắt ngại ngủ
đêm qua lạnh qúa giữa mưa phùn !

Huế, đă có một thời dễ thương như thế !

Thân phụ anh TCS cũng qua đời khá sớm . Trong nhà TCS là ông anh cả, rất có uy quyền với các em . Anh nói điều ǵ ra là mấy người em đều răm rắp nghe theo, dù ngựi em kế chỉ kém anh đôi ba tuổi . Đối với anh em trong nhà, anh rất thân thiết, nhưng vẫn giữ phần nghiêm nghị . Đối với bạn bè, anh cư xử ḥa nhă, ăn nói nhỏ nhẹ , đôi khi nhuốm mùi triết lư ( anh học ban Triết, tú tài Pháp), bao giờ cũng giữ một mức tương kính vừa phải : Không kiêu mà cũng không bạc quá . Đối với bọn tôi, ngay cả Hoàng Xuân Giang em tôi, bao giờ anh cũng xem, và trân trọng giới thiệu như những người bạn, dù anh lớn tuổi hơn . Tính t́nh anh Sơn có hơi nhút nhát, cầu an ( đó có phải là sự lựa chọn ở lại như một cách thế sau 75 ? ) trong lúc tôi theo triết lư ba phải, cầu lành, sợ nể mất ḷng người khác . Vậy, ở điểm tương đồng mầu nhiệm nào chúng tôi đă giữ được từ buổi ban đầu cho đến măi về sau, khi anh từ miền cao nguyên xuống Sàig̣n ( sau một thời gian bôn ba ); và bọn tôi phiêu giạt từ miền trung vào, gặp nhau ở một điểm hội tụ kỳ thú, bất ngờ như một tặng phẩm của đời : Quán Văn !


 

trang hoàng xuân sơn

art2all.net