|
Hồ Đ́nh Nghiêm
LAI RAI BA SỢI

Tôi quen ông Chu Du khi ông
đă ngoài năm mươi. Tóc bạc, thưa sợi. Người gầy ốm, nét mặt khắc khổ dù
đang cười rộng miệng. Áo quần dù tươm tất vẫn ngó ra chút luộm thuộm,
chẳng mấy khi chỉnh chu. Tôi không tiện hỏi tên thật của ông cũng như do
đâu ông lôi tên một vị quân sư trong truyện Tam Quốc Chí ra dùng làm bút
hiệu. Tôi gọi ông là anh v́ tuổi tác chúng tôi cách biệt quá lớn. Những
đứa viết văn làm thơ dù chúng chỉ tầm mười tuổi cũng nên gọi tôi là anh,
ông Chu Du nói, v́ sinh hoạt ở lănh vực này, kêu chú gọi bác quả thật xa
cách, không nên.
Trước khi lưu lạc sang đây ông Chu Du từng là giáo viên môn văn ở một
vài ngôi trường trung học ngoài miền Trung. Tôi quen ông trong hai
trường hợp: Ngồi cùng bàn trong buổi liên hoan do hội cựu giáo chức tổ
chức và lần khác, hẹn ở quán ăn Cố Đô để ông trao tấm ngân phiếu trả
nhuận bút cái truyện ngắn của tôi vừa được in ở tờ báo do ḿnh ông điều
khiển, tả xung hữu đột, bao thầu từ hạ tầng cơ sở lên tới thượng tầng
kiến trúc. Ông từng phê b́nh tôi, văn bạn khúc mắc trắc trở quá, lại nữa
nên loại bỏ bớt những từ mà báo chí trong nước ưa dùng. Tôi ghi nhận, tự
nhủ thầm sẽ cố sửa đổi. Bữa cùng ăn bún ḅ cay xé họng đó tôi nhanh tay
và giỏi chân chạy tới quầy tính tiền để chi trả. Tôi thành thực, chẳng
ngờ có khi được ngồi đối mặt với ông chủ một tờ báo bề thế chốn đây. Ông
lau miệng, nhớ nhé, siêng gửi bài cộng tác với tôi; cứ tưởng tượng là
chúng ta mê muội phá mồi trên chiếu rượu lai rai ba sợi.
Ông Chu Du có làm thơ, đôi bài hơi khó hiểu. Tân h́nh thức hoặc hậu hiện
đại ǵ đó. Trộn một tí không khí thơ Đường vào tính cách cô đọng của
Haiku. Và khi nói chuyện, thường chẳng mấy suông sẻ nếu không muốn bảo
ông bị tật nói lắp. Tôi đồ chừng chắc ông từng trải qua một cơn tai biến
mạch máu, ông đánh thắng khỏi bị bán thân bất toại nhưng miệng lưỡi… ôi,
nhằm nḥ ǵ ba cái lẻ tẻ! Ăn c̣n biết quán này sở trường món ǵ quán nọ
sở đoản thức chi. Sành điệu và ngon cơm, không phải ai cũng thủ đắc tựa
thế. Buổi gặp mặt ban sơ, ông hỏi tôi: Trước đây anh là thầy giáo à? Dạy
học ở đâu, trường nào? Tôi thưa: Dạ không, trước đây tôi chỉ là sinh
viên, có anh bạn là cựu giáo chức, ảnh kéo tới chung vui… Ông Chu Du
ngắm tôi: Tôi hiểu, tạm gọi là cảm t́nh viên, một thứ phô trương thanh
thế. Chẳng khó hiểu cho bằng “Đêm Trưng Vương” mà sĩ số bọn mày râu lại
đông đúc chộn rộn lấn át cả phận hoa nhường nguyệt thẹn măi bận bịu với
con đàng cháu đống.
Có dạo tôi tính mời ông Chu Du đến quán Hương Đồng Quê để lai rai ba sợi
nhưng bất thành, lư do tôi gửi tới ông một cái truyện ngắn trong đó nhắc
tới một kỷ niệm khó quên xẩy ra trong đêm băo tuyết. Qua điện thoại, ông
Chu Du cho hay: Bây giờ đang mùa hè, tôi đi truyện ấy e không thích hợp,
hăy nán đợi tới dăm ba tháng nữa nhé… Truyện đó tôi rất hài ḷng và tôi
đành thu ḿnh ngồi đợi mùa đông về. Kinh nghiệm kiểu mùa màng như vậy
khiến ḷng tôi vẩn đục về sức sáng tác của ḿnh. Trong hoà b́nh chớ nên
viết tới cảnh bom rơi đạn lạc? Trong đám cưới có kẻ nào ngồi bưng mặt
khóc thầm không? Vậy th́ nhà văn, anh đừng tưởng bở để tự tung tự tác hô
phong hoán vũ. Anh phải luôn nhớ tới bài hát với ca từ như đinh đóng cột:
“Không bao giờ, không bao giờ giữa mùa hè tuyết rơi”. Một đôi kẻ yếu
bóng vía đă phải thủ đắc câu này: Tên của nhân vật cũng như những t́nh
huống xẩy tới trong truyện đều là sản phẩm của tưởng tượng. Tác giả
không chịu trách nhiệm nếu có sự trùng hợp ngoài ư muốn. Nắng mưa là
bệnh của trời, nhưng viết xuống giấy làm ơn nên hội ư trước với nha khí
tượng hoặc chuyên viên dự báo thời tiết kẻo bị cung đàn lạc điệu. Ở quê
nhà, người ta xúi phải đi thực tế là v́ vậy, người ta lập ra trại sáng
tác là v́ vậy và người ta đă xây riêng một ngôi trường để dạy bạn viết
văn. Viết tơ lơ mơ là không xong với tớ đâu nhé. Đằng ấy thấy không, con
két nhốt trong lồng mới biết nhái được tiếng người chứ bọn sống với rừng
sâu hoang dă th́ đừng ḥng! Không thầy đố mầy làm nên là v́ thế!
Rồi th́ mùa đông tới đúng với hẹn thề, cái cây chôn trong chậu giờ đây
mới chịu nở hoa. Tên tôi in ở trang b́a nằm sát cây thông, dưới hàng chữ
“Số đặc biệt chủ đề Giáng Sinh”, khiêm nhượng, khó phát hiện. Tờ báo dầy
hơn lệ thường nhưng giá bán vẫn không thay đổi. Ông Chu Du điện thoại
hỏi, thứ bẩy nầy có bận ǵ không? Tôi thành thật khai rằng ḿnh là đứa
tỷ phú, rất hào sảng việc chi tiêu thời gian, thứ nào cũng vậy không cứ
là thứ bẩy. Ô kê, tôi tính làm buổi tiệc nhỏ, mùa này kiếm chỗ hơi khó
nên đành chọn cái nhà hàng Tầu. Đến với anh em cho vui nhé. Lâu nay có
viết được ǵ không? Tôi thành tâm khai báo là viết được ba truyện ngắn
gửi cho các tờ tạp chí chẳng hề biết tới chuyện nhuận bút. Ông ậm ừ rồi
đọc địa chỉ quán Tai Fat, giờ giấc và gát máy.
Mùa đông ở đây rất lạnh, trẻ lên ba cũng biết điều đó. Nhiều kẻ lạc quan
luôn theo triết lư “Vui để sống” nên họ xẳng xái nói “Xứ lạnh t́nh nồng”.
Trẻ lên ba nếu hiểu ra chắc phải khóc thét lên, hơn gặp cảnh khát sữa mẹ.
Chiều thứ bảy, tôi độn một đống áo quần tới gặp bá quan văn vơ ở quán ăn
nghe giang hồ đồn nổi tiếng món vịt Bắc Kinh. Quư vị văn thi sĩ địa
phương đă an vị bên chiếc bàn tṛn, mặt mày có ám chút tư lự. Địa phương
giá rét nên chữ nghĩa co quắp, bàn mười chỗ nhưng vỏn vẹn có năm mái đầu
chụm lại mong san sẻ chút “t́nh nồng”. Không lai rai ba sợi v́ hầu như
ai cũng bận việc nhà, kẻ sợ về muộn vợ càm ràm, người nói cho em về sớm
kẻo thời tiết này qua cầu xa lộ ắt chẳng êm. Họ ăn và họ chẳng ưa tỉ tê
tâm sự, đ̣i hỏi ǵ thêm khi bao nguồn cơn chúng tôi đă phơi bày trên mặt
báo, hoàn cảnh lắm anh ạ!
Kim đồng hồ chỉ mười giờ, chén bát xô lệch riêng ḿnh tôi và ông Chu Du
chứng giám. Mặt vị quân sư buồn như thể đấu trí măi thua Khổng Minh. Đă
đọc hết lá thư toà soạn in ở trang đầu chưa? Khan giọng, lời nặng như có
đá tảng cột vào. Tôi ngồi làm thinh v́ tôi không thể thú nhận rằng, chưa
khi nào tôi phải chú mục vào những con chữ phi lộ vớ vẩn ấy. Đọc một bài
thơ rất đỗi siêu thực của ông xét thấy đáng công hơn. Tôi có tŕnh bày
trong ấy nỗi khổ tâm của tôi và rồi tôi quyết định nghỉ chơi. Tôi về hưu
sớm, tờ báo sống được bốn năm, buồn nhiều hơn vui và chừng đó tháng ngày
như bóc lột hết của tôi bao nhiệt huyết. Tôi giam cái truyện của bạn để
dùng vào ở số cuối là có lư do, đánh dấu một kỷ niệm, một chia tay trong
tốt lành. Bữa ăn này cũng là thế cho lời tạ từ. Giờ nầy tôi mới hiểu ra
v́ sao văn bạn viết luôn dấu ở đó thứ không khí ảm đạm và đầy thương
tích. Uống hết ly rượu này đi, khả năng tưởng tượng của ḿnh dù phong
phú tới cỡ nào đi nữa cũng chẳng thể ngó ra sự chờ chực của ngày mai
thường ám tối.
Đó là hoạt cảnh sau cùng tôi nh́n ông Chu Du quy ẩn. Thành phố vắng bóng
tờ báo và tôi đồ rằng ông chủ bút đă dọn tới một thành phố ấm áp phía
cực tây. Nhuận bút ông trả chẳng lớn lao ǵ, nhưng tám chục bạc, lắm lúc
nó giúp bạn giải hạn. Tôi từng trải qua những ngày trong túi chẳng có
lấy một xu, tự dưng tôi đâm tiếc uổng về cách chết non của một tờ báo. Ở
khu vườn quạnh quẽ này đă chẳng c̣n một loài cây biết đơm bông. Thi
thoảng tôi có gặp một nhà thơ nữ trong chợ, cô đi cùng chồng thành ra ái
ngại chẳng muốn nấn ná bên tôi dài lâu, chỉ vắn tắc là ông Chu Du ở đâu
tui cũng không rơ. Buồn hí? Lỡ nghe tin ông ta chết, ở đây chả c̣n tờ
báo nào để gửi đăng đôi ḍng phân ưu. Bà nói sao a chứ, tôi nhủ thầm,
thành phố có những ba tờ báo chợ ngập mặt ra đó. Nhưng tại sao lại ác
miệng nghĩ ra cảnh ông ấy chết? Thực sự bà từng gặp một Khổng Minh vô ra
chợ này rồi sao?
Tôi vẫn làm phận lính đánh thuê không ăn lương, gửi bài sang bên kia
biên giới. Mỹ giàu có nên hợp chủng quốc có khối báo bổ sẵn ḷng mở rộng
cửa để hoan nghênh tôi đầu quân vào. Số nào có in truyện th́ họ gửi bưu
điện cho tôi số ấy.
Có số đăng bài thơ hoài cảm, giọng buồn nhưng không
bi luỵ, mang đủ tính cách khí khái của một vị quan chán cảnh triều đ́nh
cởi áo treo đai. Tuy bút danh lạ nhưng linh cảm tôi xác quyết khẩu ngôn
ấy chỉ có Chu Du mới đủ hoả hầu. Tâm sự đắng ḷng kia gửi về một người
trẻ đă thôi đối ẩm, uống rượu ḿnh ta để nhớ lại thời lai rai ba sợi đă
sang trang. Tôi có hơi xúc động khi nghĩ “một người trẻ” ấy chính là tôi.
Ném một ḥn cuội nhỏ ḍ đường, không ǵ hơn là trắng đêm tôi ngồi viết
ra một cái truyện ngắn kể lại những kỷ niệm về một người cựu giáo chức,
một ông Chu Du chân xiêu lạc giẫm lên xứ tuyết. Viết xong mang ra bưu
điện gửi tới địa chỉ tờ báo có đăng bài thơ “Chung Rượu Đắng”.
Dĩ nhiên là bài tôi được chọn đăng, bởi những ǵ phát tiếng trong thành
thực nó sẽ mang lại ít nhiều cảm động. V́ địa h́nh xa ngái, tuy gửi “par
avion” nhưng phong bao nặng nề kia đến chẳng đúng với hạn kỳ, phải mất
hơn hai tháng ḥn sỏi nọ mới chạm đáy giếng, sóng gợn lăn tăn. Giống như
mục “Thư Đi Tin Lại” hoặc “Kết Bạn Bốn Phương” in đầy ở các tờ báo chợ,
một hôm có con nhạn la đà chui vào thùng thư tôi nằm đẹp xấu tuỳ người
đối diện. Phong b́ xanh, nét chữ mềm viết mực tím:
“Thưa anh, chồng tôi bị tai biến mạch máu năo đă tṛn năm. Hơi nặng, nói
ú ớ và viết run rẩy khó khăn. Thời gian ở bên xứ lạnh t́nh lạnh kia tôi
luôn đọc những thứ anh trải ḷng. Bài thơ mà anh đọc phải do chính tôi
sáng tác, với ư nghĩ nếu có duyên phận nó sẽ lọt vào mắt anh. Và giờ đây
cái duyên bọt bèo kia đă thành tựu. Trước đây có thể v́ lu bu việc dọn
nhà và do trăm chuyện ập tới, chồng tôi đă quên gửi anh số tiền nhuận
bút truyện sau cùng. Nay một kẻ tai biến mạch máu năo mới chợt nhớ ra
trong ăn năn, trong sơ sót; xin gửi kèm ở đây tấm ngân phiếu đầy lỗi lầm
cùng lời chúc anh luôn sức khoẻ, viết được những điều tâm đắc. Kính chào
anh”.
Tấm ngân phiếu 150 USD. Lạ không? Vợ ông Chu Du đẹp xấu ra sao, thể h́nh
thế nào tôi chưa hân hạnh được thấy qua. Bà làm thơ rất gân guốt, rất
khí khái như một trang nam tử và ắt hẳn khi mưu sinh bằng tay phải, bà
làm việc cho một ngân hàng nào đó, để méo mó nghề nghiệp tính thêm tiền
lời khi trả trễ cho thân chủ. Số tiền ấy quá lớn đối với kẻ viết mướn
như tôi. Tôi đi sắp hàng ở nhà băng, giá băng phủ trùm nhưng ḷng ấm v́
đối mặt với những thứ nằm ngoài dự tưởng. Quy ra Gia kim tôi được gần
hai trăm sau khi trừ đi một số lệ phí. Cô nhân viên nói, ông bị xui bởi
gặp lúc tiền Mỹ đang xuống chứ b́nh thường hẳn đă được khoảng 220. Chúc
mừng mùa Giáng Sinh đầy an lành. Chuyện nhỏ. Tôi nói thầm.
Tôi cầm tiền đi đốt hết vào các món ăn chơi. Mua bột cà phê, mua thuốc
lá, mua chai rượu ở hàng quán Tây, ghé qua chợ Tầu mua đồ nhắm đặc sản
heo sữa quay có chú thích tuyệt đối không ngâm tẩm hoá chất độc hại. Tối
về nhà soạn ra hai cái ly hai cái chén bốn chiếc đũa để ngồi đối mặt với
khoảng trống: Tôi hỏi thật anh này, có thằng Khổng Minh nào đă chọc anh
tức khí đến nỗi phải tê liệt nửa người. May mà trời bù sự thua thiệt khi
anh có được một nửa rất chu đáo, chị đă thanh toán những vướng mắc giữa
chúng ta. Tuy anh c̣n sống nhưng tôi mạo muội rót chén rượu này để nhớ
một cuối năm nào chúng ta cùng lai rai ba sợi. Trăm phần trăm nổi không?
Tôi uống cạn đây, tôi sống đây mà cũng xem như thác rồi, anh ơi!
Tại sao lại lai rai ba sợi mà không bốn năm sáu bảy tám chín? Bởi đời
người ngắn quá, chỉ ba sợi thôi đôi khi cũng chẳng uống xong, phải không
anh? Nhiều, sức người có hạn. Chỉ một truyện ngắn, bây giờ chúng sinh
hổng có th́ giờ để đọc, để hiểu thấu. Cái điệu này chắc tôi cũng về quét
lá sân trước đuổi gà vườn sau!
Hồ Đ́nh Nghiêm
trang hồ đ́nh
nghiêm
art2all.net
|