|
Hồ Thanh Ngân
HỒ THANH NGÂN - GÃ LÃNG MẠN CUỐI CÙNG
Người ta nói ngày xưa Ngân tài hoa lắm. Gã ấy dồn cả đam mê, mơ mộng của mình vào thơ. Thơ gã lắm câu đọc phải giật mình… Người ta lại đồn gã thất chí bỏ quê, bỏ thơ trốn ở một nơi khỉ ho cò gáy rồi yên phận làm một nông phu với một bầy con nheo nhóc… Rồi người ta lại đồn, gã ấy chẳng bỏ thơ đâu, gã ôm mộng mị sống như người trên cung trăng, gã quên tất cả quên người, quên đời chỉ nhớ thơ… Đem chuyện ấy hỏi Ngân, Ngân cười mà buồn da diết lắm, chẳng thanh minh thanh nga gì hết chỉ nói: “ Đang để dành tiền để in một tập thơ. Tạp chí kì rồi em có đọc thơ của anh không?” Ngân cứ thế, cứ lặng lại, chìm sâu một góc nào đó trong thế giới tâm tưởng chính mình rồi với đêm, với thơ, Ngân làm gã lãng mạn cuối cùng…
Ngân nhiều lần trách mình nhạt nhẽo với thơ, trong ám ảnh bình minh Ngân
như pho tượng tạc, đứng im, quạnh hiu. Những ám ảnh khắc khoải không
nguôi của một thời trai trẻ khiến anh như người mắc lỗi với chính mình.
Bởi nỗi khát thèm kia bị vùi lấp đi trong gánh nặng mưu sinh, trong bao
toan tính vụt vặt của cõi đời quá nhiều những điều bất ý:
lâu lắm rồi anh không làm thơ Có những tứ, những câu làm tôi lặng người xúc động vì vẻ đẹp của nó, vì những thông điệp gửi tới cuộc đời ẩn chứa trong đó hay vì cả chất ma mị liêu trai đôi khi phảng phất trong thơ.
Rồi anh lại cố tìm ra một lý do nào đó để khát khao, hy vọng trở về với chân giá trị đẹp đẽ: “những bận bịu, những lo toan tẹp nhẹp/trở về thôi về ôm ấp cánh đồng/những quán xá những con đường vội vã/ trở về thôi về tắm mát dòng sông.” ( Nhậu ở quán vườn) hay trong “ Bài thơ nhỏ tặng má” Ngân viết: “ dẫu cơm áo làm con phiêu bạt/ nhưng cơn mưa thương mặt đất tìm về”. Nhưng mãnh liệt hơn cả là khát khao tự do, khát khao được sống với cái đẹp, cái lý tưởng: “cỏ xanh không chê đất xấu/bừng bừng khát vọng vươn lên/không ồn ào không tuổi tên/lặng thầm nhỏ nhoi mạnh mẽ/nắng cháy thu mình nhỏ xíu/đốt đồng còn lại tro than”( Lời cỏ. ) Dường như trái tim Ngân còn rất ngây thơ. Nên cho dù có bị vùi dập thế nào thơ anh vẫn thật trong trẻo, cảm xúc có thể bật lên bất cứ lúc nào dù bên đường, trên lớp, một mình trước biển, thậm chí trong quán nhậu. Tôi có nghe một bạn thơ của Ngân kể rằng: mùa hè năm trước Ngân tìm thăm bạn, đến bên hiên chưa kịp lau mồ hôi trên trán, Ngân ngồi thụp xuống, bạn mời cách nào cũng không vào nhà. Chừng 5p sau, Ngân nhoẻn miệng cười, ngượng nghịu tặng bạn bài thơ mới làm. Người bạn nọ vốn rất đa cảm, không cầm nổi nước mắt xúc động. Mỗi khi có ai nhắc đến Ngân lại đem câu chuyện ấy ra kể. Lại có lần đang uống rượu với bạn, Ngân làm được bài thơ liền bấm điện thoại đọc cho tôi nghe. Tiếng anh không rõ lắm vì lẫn với ồn ã trên bàn nhậu, nhưng sự say mê, háo hức như thể một người ly hương được trở về đứng trên mảnh đất quê thì tôi có thể cảm nhận được. Tôi còn nhớ bài thơ có tên là “ Sinh nhật bạn”… Những chuyện như vậy giờ còn ít lắm, có khi đem cả tập thơ đến tặng cũng không dám chắc người ấy có đọc được đến 2 trang đầu hay để cho mối mọt làm bạn. Có thể ai đó sẽ cho rằng: Thơ Hồ Thanh Ngân nặng về tư tưởng, thuật tu từ vận dụng quá nhiều khiến bài thơ trở nên nặng nhọc. Cũng có lẽ.. Thơ anh đầy chiêm cảm. Từ những hình ảnh thơ quan sát được, anh lẩy ra những triết lý ẩn chứa về con người, về tình đời, về cuộc sống. Ngân rất ưa dùng thể loại thơ 5 chữ, cách viết không ngắt đoạn, ý thơ nhiều tầng nghĩa, đôi lúc rất khó hiểu và phân vân đó có phải là… thơ không hay chỉ là một câu than vãn được ngắt dòng. Thí dụ như bài này “ta đọc sách người xưa nơi thanh vắng/để thấy người nay sống khó hơn người xưa/những đám mây muôn đời vẫn thế /chỉ lòng người là rắc rối hơn” ( Tự sự lúc vắng lặng). Nếu lướt qua những điều ấy, ta sẽ bắt gặp một mảng thơ ( mà theo tôi) lộ phát tài hoa nhất của Hồ Thanh Ngân: Thơ tình. Nghe nói vài mươi năm trước người bạn cùng học giờ là nhà thơ nổi tiếng Lê Thiếu Nhơn phải loạng choạng cả tay lái khi nghe Ngân đọc bài “ Mùa đông”:
Không phải vì bị ảnh hưởng bởi nhận xét của Lê Thiếu Nhơn mà tôi tung hô Hồ Thanh Ngân là “thi tài”, hãy cùng tôi, chầm chậm thôi đọc thơ tình của Ngân. Trong bài “ Đêm vùng sâu”, diễn tả cảm giác hụt hẫng của chàng trai khi cô gái mình yêu bỗng dưng hững hờ. Chàng trai tìm đủ mọi cách để giam hãm nỗi nhớ nhưng hình ảnh cô gái cứ choáng lấy hết tâm trí đến “chật chội”. Để rồi: “hương tràm bay thanh khiết/ không xua chật chội em/có hai người mất ngủ /sáng ra thèm nhau hơn.” Nhớ nhau cồn cào, tha thiết… thì nhiều thi sĩ đã nói rồi, nhưng nhớ đến “chật chội” lòng thì chỉ có Hồ Thanh Ngân mới nói được. Hay sự đắm say, nồng nàn của khát vọng tình yêu đến tận cùng và vĩnh viễn được Ngân ví von rất lạ: “Tôi nhìn lửa ở trong em/ Cháy qua bao lượt vẫn thèm tàn tro”( Lửa). Và bình yên của Ngân lại là em: “Tôi mỗi ngày thảng thốt nỗi lo/Mong hy vọng xanh như màu mắt em vẽ.” Chỉ là “em” đầy quyền năng đánh thức những điều tưởng chừng đã “hóa thạch” : “em có đi về ngược phía cơn mưa/đánh thức những tâm tư từ lâu hóa thạch”. Và tôi lại phải mượn lời của Lê Thiếu Nhơn để nhắc về bài “ Lẽ nào” : “Tôi lục lại mớ thơ cũ của Hồ Thanh Ngân, thấy bài Lẽ nào nhô lên với buổi chiều hoa khép vội và ánh mắt khấp khểnh buồn. Bài Lẽ nào cũng thấy được bóng dáng Hồ Thanh Ngân đấy. Cái bóng dáng một người mơ mộng lủi thủi và ngân ngấn hoài vọng Về đâu cánh buồm vắng. Bến bờ đã xa xăm!”.
Thơ anh là hồn quê, là thứ viết cho mình, không ồn ào câu chữ, không
khoe khoang cấu trúc, chỉ cần tình đời, tình người cho sâu đậm là được.
Nếu tìm một bài thơ của Ngân tôi thích nhất có lẽ không có. Nhưng tôi
lại thích rất nhiều câu trong mỗi bài. Những vần thơ nhiều giọng điệu:
khi đau đáu, khi xa xót, khi tuyệt vọng, khi say mê, rạo rực và đầy hy
vọng .. dù là giọng điệu nào thì cũng được cất lên từ tâm hồn rất nhân
hậu của Ngân. Ngân bảo Ngân không bỏ được thơ, không có thơ Ngân thành
vô nghĩa. Cho dù có thể một ngày cả thế gian này không ai còn đọc thơ
nữa thì Ngân vẫn yêu thơ như một gã lên đồng, xem thơ như người tình,
gọi thơ là “em” đầy trìu mến, nâng niu.. Một con người mà cả cuộc đời
chỉ say mê mỗi một việc duy nhất là làm thơ và sống đắm đuối với thơ
nhưng dường như có đôi lúc thơ chạy trốn khỏi anh bởi thực tại đầy hỗn
loạn làm tổn tương tâm hồn yếu đuối ấy. Có nhiều người tiếc nhớ một tài
hoa mà không biết rằng anh vẫn làm thơ, trong âm thầm, chậm rãi trong
tận cùng của nỗi cô đơn không chia sẻ, trong nỗi nhớ sông Đà Rằng, ngọn
Thạch Bì Sơn quê anh…
Phú Tân, mùa thu, tháng 8 năm 2012
|