|
“Cẩm sắt” của Lư
Thương Ẩn
Về bài “Cẩm sắt” của Lư Thương Ẩn –
Từ ư nghĩa bài thơ đến
tiếng đàn sum họp của Thúy Kiều
VĨNH SÍNH
Trên đường từ Việt Nam trở
về lại Canada, tôi ghé Tokyo, thăm anh bạn cũ đang ốm nặng. Một tối,
trước giờ đi ngủ, t́nh cờ trong nhà có cuốn Ri Shôin (Lư Thương Ẩn;
812?-858), tôi lấy ra xem. Lư sống vào thời văn Đường Trung Quốc, một
thời kỳ có lắm bế tắc về chính trị và xă hội, nhưng chín mùi về văn hóa
nghệ thuật. Tuy đỗ đạt cao, Lư không mấy may mắn trên bước hoạn lộ. Thơ
Lư được ưa chuộng nhưng nổi tiếng hóc búa. Trong thơ có nhiều điển tích,
giàu h́nh tượng, mà cũng chứa lắm ẩn dụ khó giải mă.
“Cẩm sắt” thường được xem là bài thơ hay nhất và cũng là
bài thơ khó hiểu nhất của họ Lư. Chả vậy mà nhà thơ đời Thanh Vương Sĩ
Trinh đă nhận xét: “Nhất biên Cẩm sắt giải nhân nan” (Bài thơ Cẩm
sắt hiểu sao đây!) (1)
Tối đó tôi khẽ đọc bài cẩm sắt qua âm Hán Việt. Ngâm chầm chậm hai câu
mở đầu “Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền/Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên”,
tự dưng tôi thấy xúc động mạnh. Chỉ có hai câu mà họ Lư đă đưa người đọc
đến ngay ngưỡng cửa của những dĩ văng xa xôi, sâu lắng. Ngâm xong cả bài,
tuy không nắm hết ư nhưng tôi vẫn cảm thấy những âm hưởng trong Cẩm sắt
có sức quyến rũ, có một ma lực lạ lùng.
Người dịch, chú thích và b́nh luận tập thơ Ri Shôin là Takahashi Kazumi
(1931- 71), một nhà văn, nhà thơ, và cũng là một nhà nghiên cứu văn học
Trung Quốc xuất sắc nhưng mệnh bạc. Những lời b́nh của Takahashi như
những tia chớp sáng, trong khoảnh khắc một sát na đưa người đọc đi thẳng
vào thế giới thẩm mỹ của thơ Lư Thương Ẩn mà các nhà b́nh luận thơ Đường
xưa nay vẫn thường nói tới.
Đọc lui đọc lại, tôi như bị thu hút bởi bài thơ. Duyên nọ dẫn đến duyên
kia, sau đó cũng do t́nh cờ, tôi được biết là trong phần cuối Truyện
Kiều, Nguyễn Du cũng đă mượn bốn câu trong bài thất ngôn bát cú này để
diễn tả cảnh Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe sau mười lăm năm cách biệt.
Khi so sánh bốn câu trong nguyên tác với đoạn thơ phóng dịch trong Kiều,
chúng tôi phát hiện một điều khá ḱ thú: Tiên Điền tiên sinh đă thay đổi
không khí u uất trong nguyên tác thành một bầu không khí đầm ấm, êm ái,
tươi sáng cho phù hợp với cảnh sum hợp vui vầy giữa Kiều với Kim Trọng!
Mục đích của chúng tôi khi viết bài này là hy vọng được chia sẻ với độc
giả một bài thơ hay, đồng thời cũng mong được mạn đàm về một số chi tiết
xung quanh bài thơ và đưa ra một số nhận xét về đoạn thơ phỏng dịch
trong Truyện Kiều nói trên. Trước hết, ta thử xem qua gốc gác những từ
cần giải thích cùng những điển tích trong bài Cẩm sắt.
Cẩm sắt
Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,
Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
Vọng đến xuân tâm thác đỗ quyên.
Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,
Lam điền nhật noăn ngọc sinh yên.
Thử t́nh khả đăi thành truy ức,
Chỉ thị đương th́ dĩ vong nhiên.
Câu 1) Cẩm sắt: Có người dịch là đàn gấm (2), nhưng trên thực tế là cây
đàn sắt có chạm trổ. Đàn sắt là loại đàn lớn làm bằng gỗ cây ngô đồng.
Đàn sắt và đàn cầm là hai loại đàn cổ, chữ cầm sắt (3) thường dùng để
chỉ vợ chồng ḥa hợp, như đàn sắt đàn cầm ḥa nhau. Theo Daijigen (Đại
từ nguyên), cẩm sắt là mỹ nhân của cây đàn sắt
(4). Vô đoan: do đâu, từ đâu, không có lư do.
Ngũ thập huyền: Theo truyền thuyết, khi Tố Nữ gảy đàn sắt tế trời theo
lệnh vua Phục Hy (5), đàn này có 50 dây. Nhưng v́ tiếng đàn quá ai oán
năo nùng, Phục Hy cấm không cho sử dụng đàn này nữa. Sau đó, v́ dân
chúng vẫn không chịu tuân lệnh, Phục Hy mới cho phép dùng nửa số dây, từ
đó đàn sắt chỉ có 25 dây (theo “Phong thiền thư”, Sử kư của Tư Mă Thiên;
hoặc “Giao tự chí”, Hán Thư của Ban Cố đời Hậu Hán) (6).
Câu 2) Tru: trụ, trục; hay “con nhạn” đỡ dây đàn (huyền). Hoa niên:
Thanh xuân; tuổi trẻ; thời kỳ rạo rực yêu đương. Tư; tứ: nghĩ, nhớ; ở
đây dùng theo nghĩa “gợi nhớ”. Mỗi dây đàn, mỗi trục, xui nhớ lại tuổi
hoa niên. Đọc hai câu mở đầu, ta không khỏi liên tưởng đến hai câu hát
ru con Việt Nam “Hai tay cầm bốn tao nôi / Tao thẳng tao dùi, tao nhớ
tao thương” – tuy dân dă mộc mạc nhưng có sức gợi cảm vô cùng mănh liệt.
Câu 3) Trang sinh: tức Trang Chu, nhà tư tưởng thời Chiến Quốc. Sách
Trang Tử ghi lại những ngôn thuyết của Trang Tử và những người cùng phái,
chủ trương là mọi việc trên đời như lớn nhỏ, khôn dại, sống chết, v.v…
chẳng có ǵ khác nhau cho lắm; xem vô vi, tự nhiên là đạo đức cao nhất.
Thuyết giải về sự khó phân biệt giữa tỉnh và mộng, sống và chết, thiên
“Tề vật luận” trong Trang Tử viết: “Ngày xưa, Trang Chu chiêm bao thấy
ḿnh hóa bướm bay nhởn nhơ, tự lấy làm thích chí, quên ḿnh là Chu. Bất
giác tỉnh giấc, thấy h́nh thù ḿnh vẫn là Chu. Không biết Chu chiêm bao
là bướm, hay bướm chiêm bao là Chu!”
Câu 4) Vọng đế: đế hiệu của vua Đỗ Vũ nước Thục cuối đời Chu (nên c̣n
gọi là Thục đế) (7). Tương truyền Vọng đế ra lệnh bộ hạ là Miết Linh đi
cứu lũ ở xa nhằm thừa dịp tư t́nh với vợ của Miết Linh. Sau đó Vọng đế
tự hổ thẹn về hành vi bất chính của ḿnh, từ ngôi rồi mai danh ẩn tích.
Mỗi năm cứ vào tháng hai âm lịch (Vọng đế rời đất Thục cũng vào tháng
này), đêm đêm chim đỗ quyên lại cất tiếng sầu thảm. Bởi vậy, người nước
Thục mỗi lần nghe tiếng chim đỗ quyên lại nhớ đến Vọng đế (8). Xuân tâm:
ḷng xuân, c̣n có nghĩa như “xuân t́nh”: t́nh yêu trai gái, có thể bao
hàm hơi hướng t́nh dục. Nguyễn Du cũng đă dùng chữ “xuân th́” khi phỏng
dịch đoạn thơ này trong Truyện Kiều.
Câu 5) Thương hải: Biển xanh, c̣n có nghĩa là biển rộng, biển cả. Thương
hải cũng có khi dùng để chỉ tên một biển hư cấu ở cơi tiên. Nguyệt minh
châu hữu lê: Theo Văn tuyển (Lư Thiện chú thích), “khi trăng đầy, trai
có ngọc (châu), khi trăng khuyết trai không có ngọc” (nguyệt măn tức
châu toàn, nguyệt khuy tức châu khuyết). Theo cuốn Biệt quốc động minh
kư thời Lục Triều, ngày xưa có người lặn xuống đáy biển t́m ngọc, lạc
vào cung điện của nhân ngư, t́m được bảo ngọc do nước mắt của nhân ngư
đọng lại (9). Ngoài ra câu này c̣n có thể hiểu theo điển tích “thương
hải di châu” (hạt ngọc bỏ rơi trong biển cả), ngụ ư là người có tài mà
không có chỗ thi thố.
Câu 6) Lam Điền: tên một ngọn núi ở Thiểm Tây (Lam Điền sơn), c̣n gọi là
Ngọc Sơn, nổi tiếng có nhiều ngọc quư. Theo Sơn hải kinh, Ngọc Sơn là
nơi bà tiên Tây Vương Mẫu ở – chi tiết này khiến người đọc liên tưởng
đến một cơi tiên hư cấu, giống như Thương hải trong câu 5 (10) Ngọc sinh
yên: Theo Lục dị truyện, con gái Ngô Phù Sai là Tử Ngọc yêu người lính
hầu là Hàn Trọng nhưng không được Ngô vương chấp thuận, mang mối bi t́nh
xuống tuyền đài.
Một sáng, khi Ngô vương đang dùng lược chải tóc, nh́n ra vườn thấy có
viên ngọc lớn màu tím chiếu sáng, phu nhân nghe nói chạy ra vườn, khi
vừa ôm chầm ḥn ngọc th́ ngọc tan thành khói biến mất. Lại có thuyết cho
rằng tứ thơ trong câu này lấy từ ư nghĩa câu sau đây của nhà thơ Đái
Thúc Lân (732- 789) thời Trung Đường: “Cảnh, đối với nhà thơ, tựa như
viên ngọc quư bốc tan thành khói khi Lam Điền ửng nắng, chỉ có thể đứng
nh́n từ xa chứ không được lại gần” (thi gia chi cảnh như Lam Điền nhật
noăn lương ngọc sinh yên, khả vọng nhi bất khả trí ư mi tiệp chi tiền
giă) (11).
Hai câu 5 và 6 đối nhau, bởi vậy khi chuyển ngữ chúng tôi đă cố gắng giữ
nguyên những chữ đối nhau ở trong câu. Nói một cách khác, khi xem Thương
hải là một danh từ riêng; chúng tôi cũng xem Lam Điền là một danh từ
riêng; và khi dịch “Thương hải” như một danh từ chung (biển cả), chúng
tôi cũng dịch “Lam Điền” như một danh từ chung (đồng xanh).
Hai câu 7 và 8 Khả (đăi): trợ từ có nghĩa là: phải, nên, đáng, có thể,
chắc có thể, có lẽ, h́nh như, hoặc là trợ từ nghi vấn (làm sao có thể…).
Vơng nhiên: không biết ǵ cả, ngơ ngác như mất hồn, phôi pha. Câu 7 có
thể dịch là “T́nh này (giả sử) có thể trở thành một cái ǵ đáng ghi nhớ?”
Chúng tôi đă chọn cách dịch thứ nhất. Câu 8 có nghĩa là “Th́ lúc ấy thời
gian/ duyên t́nh cũng đă phôi pha/ tàn phai/ nhạt nḥa”.
Sau đây là hai bản dịch bài Cẩm sắt của chúng tôi:
Bản dịch 1:
Cẩm sắt v́ đâu năm chục dây?
Mỗi dây mỗi trục nhớ thương đầy.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế t́nh xuân tiếng cuốc chầy.
Thương hải trăng thanh châu nhỏ lệ,
Lam Điền nắng ấm ngọc tan bay.
T́nh này ví thử sau c̣n nhớ,
Lúc đă tàn phai với tháng ngày!
Bản dịch 2:
Cẩm sắt v́ đâu ngũ thập huyền?
Mỗi dây mỗi trục gợi hoa niên.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế xuân t́nh gửi tiếng quyên.
Bể cả trăng thanh châu đẫm lệ,
Đồng xanh nắng ửng ngọc tan liền.
T́nh này ví thử sau c̣n nhớ;
Khi đă qua rồi thuở lứa duyên!
Như chúng ta đă thấy, lời thơ trong bài cẩm sắt đượm nét buồn man mác,
như chất chứa một “nỗi sầu vạn đợi”. Có người cho rằng Lư đă viết bài
thơ này vào những năm cuối đời để khóc người vợ quá cố của ḿnh, có kẻ
bảo Lư viết để than tiếc cho người yêu mang tên là Cẩm Sắt. Ngoài ra c̣n
có không biết bao nhiêu giả thuyết khác (12). Có lẽ chúng ta nên hiểu là
Lư muốn nói về bản chất mộng ảo, mong manh của cuộc đời và t́nh yêu,
không chỉ của nhà thơ mà của con người nói chung. Những năm tháng đă
trôi qua trong cuộc đời (mà trăm năm là giới hạn) như thâu gọn lại trong
năm chục sợi dây đàn.
Từ mỗi dây, tiếng đàn ngân lên như khơi dậy lại tuổi hoa niên, của “cái
thuở ban đầu lưu luyến ấy/ Ngàn năm chưa dễ đă ai quên” (Thế Lữ)!
Làm sao phân biệt được thực với mộng? Trang Chu hay con bướm, Thục đế
hay chim đỗ quyên, bên nào thực, bên nào mộng? Ngay giữa lúc “Thương hải
trăng thanh” th́ “châu đẫm lệ”, và ngay khi “Lam Điền nắng ấm” th́ “ngọc
tan bay”! Và t́nh yêu, khi muốn ghi nhớ, muốn trân trọng, th́ hỡi ôi,
lúc đó thời gian đă phôi pha; duyên t́nh, hương nguyền ngày trước c̣n
đâu nữa! Tất cả đều mong manh, mộng ảo.
Cho dầu chúng ta không thể giải thích một cách thỏa đáng tất cả những ẩn
dụ trong Cẩm sắt, nhưng vẫn có thể cảm nhận được giá trị của bài thơ,
đúng như Lương Khải Siêu (1873-1929) đă nhận xét khi đọc những bài thơ
khó giải mă của Lư. Lương viết: “Tôi không hiểu và thậm chí không thể
giải thích ư nghĩa của từng câu thơ, nhưng tôi vẫn yêu và vẫn bị lôi
cuốn bởi vẻ đẹp của thơ họ Lư (13).
Cuối cùng chúng tôi xin đưa ra một vài nhận xét về đoạn phóng dịch bốn
câu 3, 4, 5, 6 của bài Cẩm sắt trong Kiều. Đoạn này nằm trong phần cuối
của Truyện Kiều, khi Kiều và Kim Trọng gặp lại sau sau mười lăm năm cách
biệt. Kim Trọng nhờ Kiều đánh đàn cho ḿnh nghe, và Kiều đă “Nể ḷng
người cũ vâng ḷng một phen”.
Trước đó, khi Kiều đàn cho Kim Trọng nghe lần đầu tiên, hay trong những
lần Kiều bị buộc phải gảy đàn cho Thúc Sinh, Hoạn Thư v.v… nghe, th́
tiếng đàn của nàng lâm ly, năo nùng “nghe ra như oán như sầu phải chăng”.
Nhưng lần này, khác hẳn với những lần trước, tiếng đàn của Kiều nghe
thật ấm áp, êm ái, trong sáng.
Nguyễn Du đă phóng dịch bốn câu trên nhằm diễn tả tiếng đàn sum họp của
Kiều như sau:
Khúc đâu đầm ấm dương ḥa
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh.
Khúc đâu êm ái xuân t́nh,
Ấy hồn Thục đế hay ḿnh đỗ quyên?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!
Qua tiếng đàn vui tươi, ấm áp trong đoạn phóng dịch này, người đọc không
c̣n thấy bóng dáng trăn trở hoài nghi của một Trang Chu nguyên sơ trong
thiên Tề vật luận (14), tiếng ca của chim đỗ quyên không c̣n nhuốm máu
v́ Thục đế – mà chỉ là một giai điệu êm ái gợi nhớ vị quân vương đa t́nh,
những hạt châu không c̣n đẫm lệ ở Thương hải vào những đêm trăng tỏ, và
hạt ngọc kia cũng không c̣n bốc khói khi ửng nắng ở Lam Điền!
Dĩ nhiên Tiên Điền tiên sinh đă không hiểu lầm ư thơ của họ Lư. Do đâu
mà chúng ta có thể khẳng định như vậy? Ngoài bản lĩnh của nhà học giả
này như ta đă biết, lư do là ngày sau đó, khi Kim Trọng hỏi Kiều: “Tiếng
đàn ngày trước sao ai oán, năo nùng, mà hôm nay em đàn nghe sao vui thế?”
Chàng rằng: Phổ ấy tay nào?
Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy”
th́ Nguyễn Du đă thay nàng Kiều đáp lời:
“Tẻ vui bởi tại ḷng này
Hay là khổ cận đến ngày cam lai?”.
Mặc dù phải đối đầu với định mệnh phũ phàng, nghiệt ngă trong suốt mười
lăm năm chia cách (“Ong qua bướm lại đă thừa xấu xa/ Bấy chầy gió táp
mưa sa”), Nguyễn Du đă thay Kiều khẳng định phẩm chất đẹp đẽ trong
sạch của nàng: “Chữ Trinh c̣n một chút này”. Chữ Trinh ở đây dĩ
nhiên phải hiểu theo nghĩa tinh thần. Kiều cảm kích bởi tấm ḷng của
người cũ, v́ hơn ai hết Kim Trọng hiểu được điều đó, bởi thế Kiều mới
nói:
“Thân tàn gạn đục khơi trong
Là nhờ quân tử khác ḷng người ta
Mấy lời tâm phúc ruột rà
Tương tri dường ấy mới là tương tri!"
Trong không khí “t́nh xưa lai láng khôn hàn”, Kim Trọng nhờ Kiều
gảy cho nghe một khúc (“Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa”).
Đoạn Nguyễn Du phỏng dịch từ Cẩm sắt chính là để diễn tả tiếng đàn của
Thúy Kiều lúc đó.
Ta hăy thử suy luận. Phải chăng Nguyễn Du đă thay đổi hẳn bầu không khí
“ một cách sáng tạo” khi phỏng dịch đoạn trên nhằm nói lên rằng: “Tẻ
vui bởi tại ḷng này” và trong giờ phút tương phùng, Kiều cảm thấy
đă được phỉ nguyền ("Ba sinh đă phỉ mười nguyền”), hay nói đúng
hơn, nàng cảm thấy đă được giải thoát khỏi nghiệp chướng? Chắc hẳn chính
v́ vậy, nên ngay cả giai điệu lâm ly, u uất của bài Cẩm sắt mà nghe vẫn
êm ái, đầm ấm!
Bằng chứng cụ thể và hùng hồn nhất về sự cố ư thay đổi một cách sáng tạo
của Nguyễn Du có thể t́m thấy ở câu cuối cùng trong sáu câu thơ phỏng
dịch. Trong câu này, thiên tài họ Nguyễn đă đảo ngược hiện tượng, biến
“Lam Điền nhật noăn ngọc sinh yên” (Lam Điền nắng ấm ngọc tan bay) thành
“Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông”, tức “ngọc tan thành khói” trong
nguyên tác đă trở thành “ngọc… mới đông” trong Truyện Kiều! V́ “ngọc…
mới đông” nên Nguyễn Văn Vĩnh khi chuyển ngữ sang tiếng Pháp, đă dịch
câu này là: “Et c’était chaud comme une de ces gouttes qui viennent de
se cristalliser en perles sur la plaine de Lam Điền” (15).
Trong Truyện Kiều, điều đáng chú ư là Nguyễn Du đă khởi đầu bằng thuyết
“tài mệnh tương đố” cũng có xuất xứ từ thơ của Lư Thương Ẩn “Cổ lai tài
mệnh lưỡng tương phương”, tức “Xưa nay tài mệnh thường hay kỵ nhau”, và
như chúng ta đă thấy, trong phần kết thúc, Nguyễn cũng đă phóng dịch một
đoạn thơ của họ Lư trong khúc đàn cuối cùng của nàng Kiều nhằm chứng
minh là “tẻ vui” là “bởi tại ḷng này” và niềm vui sẽ có được khi trong
ḷng không c̣n bị vướng vất bởi các nghiệp chướng. Theo Nguyễn Du, đánh
thức thiện căn, thiện tâm chính là ch́a khóa đưa đến sự giải thoát
“Thiện căn ở tại ḷng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
Sự thay đổi nội dung, từ bốn câu thơ trong bài Cẩm sắt sang đoạn phóng
dịch trong phần kết thúc Truyện Kiều, nghĩ cho cùng, là một hiện tượng
khúc xạ xảy ra khá phổ biến, với mức độ khác nhau khi nước này tiếp thu
văn hóa nước kia trong quá tŕnh giao lưu, giao thoa văn hóa.
Điều đáng chú ư là trong trường hợp này, thiên tài “Nguyễn Du” đă “Việt
Nam hóa” bốn câu thơ trong bài Cẩm sắt một cách điêu luyện nhằm bảo vệ
nàng Kiều, nạn nhân của nghịch cảnh xă hội, và chứng minh rằng mặc bao
“gió táp mưa sa”, nàng Kiều đă giữ được phẩm giá trong trắng của ḿnh.
Như nhiều thức giả đă nhận xét, đành rằng Tố Như tiên sinh đă ít nhiều
kư thác tâm sự vào Kiều khi bảo vệ cho nàng (16), tuy nhiên tâm thức
“tấm ḷng như tuyết như băng”, hoặc “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
mà Tố Như tiên sinh đă khẳng định qua Kiều nằm ngay trong cốt lơi tâm
t́nh dân tộc của người Việt. Có lẽ v́ thế nên Truyện Kiều, ngoài những
vần thơ điêu luyện, đă được người Việt – nạn nhân của không biết bao cơn
binh lửa cùng nghịch cảnh xă hội – yêu chuộng măi không thôi.
(1) Trích lại từ Wang Chiu-kuei (Vương Thu Quế) “Objective Correlative”
in the love Poems of Li Shang-yin (Tương quan khách quan trong những bài
thơ t́nh của Lư Thương Ẩn), Trung tâm Nghiên cứu Ngữ văn Ngoại quốc, Đại
học Quốc lập Đài Loan (Taipei: Quỹ Văn Hóa, Gia Tân Thủy Nê Công Ty,
1970), trang 31.
(2) Ví dụ, xem Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dịch (Huế: Nxb Thuận Hóa,
1997), tập 2, trang 1331.
(3) Có học giả nhầm tên bài thơ này là Cầm sắt, thay v́ Cẩm sắt; ví dụ:
Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải. Truyện Kiều (Hà Nội: Nxb Giáo
dục, 1996, xuất bản lần thứ XIII), trang 234; hoặc Bùi Kỷ và Trần Trọng
Kim hiệu khảo và chú thích, Truyện Thúy Kiều (Fort Smith, AR: Nxb Sống
mới, không ghi năm in lại), trang 206.
(4) Tokyo: Kadokawa Shoten, 1992, trang 1820
(5) Có sách ghi là Thái đế. Xem James Liu, The Poetry of Li Shang-yin (Thơ
Lư Thương Ẩn). (Chicago: The University of Chicago Press, 1969), trang
51.
(6) Trích dẫn lại từ Takahashi Kazumi, Ri Shôin (Lư Thương Ẩn) (Tokyo:
Kawade Bunko, 1996), trang 40.
(7) Đối với độc giả Việt Nam, tuy cách gọi Thục đế nghe quen tai hơn
Vọng đế, nhưng nguyên văn chữ Hán để là Vọng đế th́ ta phải theo đúng
vậy, khi dịch sang tiếng Việt dĩ nhiên ta có thể chuyển thành Thục đế;
chẳng hạn như: Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải, sđd, trang 234;
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chú giải, Vương Thúy Kiều (Đoạn trường tân thanh)
Sài G̣n: Tủ sách Hương Sơn, 1960), trang 234.
(8) Takahashi Kazumi, sđd, trang 40.
(9) Như trên
(10) Như trên, trang 40-41.
(11) Trích lại từ Wang Chiu-kuei, sđd, trang 38.
(12) Xem James Liu, Sđd, trang 52-57.
(13) Xem Fusheng Wu, The Poetics of Decadence: Chinese Poetry of Southem
Dynasties and Late Tang Periods (Thi ca đồi phế: Thơ Trung Quốc vào thời
Lục Triều và Văn Đường) (Albany, NY: State University of New York,
1998), trang 169.
(14) Về điểm này, học giả Đặng Thanh Lê cũng đă đưa ra nhận xét tương tự
trong Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (Hà Nội: Nxb Khoa học Xă hội,
1979), trang 141. Cách lư giải trong sách này về ư nghĩa của đoạn phỏng
dịch từ Cẩm sắt hay phần “Tái hồi Kim Trọng” nói chung có điểm khác với
cách lư giải của chúng tôi.
(15) Nguyễn Du, Kim Vân Kiều: Traduction en Francais par Nguyễn Văn Vĩnh
(in theo bản của Nhà Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943: Nxb Văn học,
1994), trang 780. Người viết gạch dưới để nhấn mạnh.
(16) Theo quan niệm “Trung thần bất sự nhị quân” (tôi trung không thờ
hai vua) ngày trước, việc làm quan cho hai triều (trước làm tôi nhà Lê
và sau ra làm quan cho nhà Nguyễn) chắc đă làm Nguyễn Du trăn trở không
ít.
____
Nguồn :
http://chutluulai.net/forums/printthread.php?t=6542&pp=100
http://i789.photobucket.com/albums/yy180/Lakichi/lythuongan1.jpg
www.art2all.net
|