|
PHIẾM LUẬN VỀ "NHŨ DANH"
Đọc sách báo tôi thấy có hai quan niệm về NHŨ DANH
khác nhau. Quan niệm 1: Ngày nay, trong các bản tin cáo phó cho một người đàn bà, người ta thường viết “nhũ danh” hoặc ghi tiếng Anh là “Maiden name” (Tên thời thiếu nữ). Vd: Nam Phương Hoàng Hậu, nhũ danh là Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Thị Lan (4.12.1914 – 16.9.1963). Bà Sarah DeRemer Knauss, nhũ danh Clark (24.9.1880 – 30.12.1999). Hoặc trên thiệp cưới ghi: Bà quả phụ.................. Nhũ danh .................. Từ “nhũ danh” ở đây được hiểu là tên của người đàn bà khi chưa lấy chồng. Có người nói “nhũ danh” chỉ dùng riêng cho phụ nữ mà thôi. Có lẽ do họ quan niệm: “Nam tu 男須 (trai râu), nữ nhũ 女乳 (gái vú)”. Và: “Đàn ông không râu bất ngh́,
Đàn bà không vú lấy ǵ nuôi con!” Đôi ḍng phiếm luận: Với quan niệm như trên th́ vú là bộ phận tượng trưng cho phái nữ, râu cằm là bộ phận tượng trưng cho phái nam. Đàn ông có khuôn mặt chữ điền râu quai nón hay “râu hùm hàm én mày ngài” th́ oai phong lẫm liệt rất xứng đáng là “bậc tu mi nam tử”. Người đàn ông râu rậm, râu tốt, râu dài được khen là “mỹ nhiệm công” như Quan Vân Trường chẳng hạn Phụ nữ đẹp với tiêu chuẩn “đào kiểm”, “tế yêu”, “trường túc”, “ngọa tằm mi” (má đào, eo thon, chân dài, mày tằm) vẫn chưa đủ mà c̣n thêm tiêu chuẩn bộ ngực tṛn trịa, đôi mông đầy đặn mới đạt tiêu chuẩn về số đo 3 ṿng, cùng với chiều cao, cân nặng phù hợp.
Nhà văn Mạc Ngôn, (nhà văn đầu tiên mang quốc tịch Trung Quốc được trao giải Nobel Văn học năm 2012) có tác phẩm “Phong nhũ ph́ đồn” xuất bản năm 1995, một thời được dư luận xôn xao bàn tán. Tác phẩm “Phong nhũ ph́ đồn” lúc đó khi chuyển ngữ tiếng Việt đă phải đổi tựa thành “Báu vật của đời” “để gọi là ”cho nhă hơn". “Phong nhũ ph́ đồn” 丰乳肥臀 nghĩa là “vú đầy mông nẩy” hay “mông to ngực nở”. Dịch là “Vú đầy mông nẩy” vừa sát sao, chẳng có ǵ là thô tục cả. Không hiểu sao mấy ngài dịch giả Việt Nam phải e ngại đi ṿng quanh cho dài ḍng... “Vú đầy mông nẩy” thường được quư ông thích đùa gọi “ngực tấn công, mông pḥng thủ” chỉ thân h́nh khêu gợi hấp dẫn bốc lửa của quư bà... làm mấy ông cứ “dùng dằng” Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt Đi th́ cũng dở ở không xong Ông bà ta đă dặn nên chọn vợ phải là tướng “mông nở, ngực to”. Giải thích theo khoa học th́ mông nở tức là xương chậu rộng, khi sanh đẻ sẽ dễ dàng, ít rủi ro cho bé sơ sinh hơn người xương chậu hẹp, ngực to th́ tuyến sữa phát triển tốt, có nhiều sữa để nuôi con. Sự căng tràn của đôi bồng đảo do sự dồi dào của estrogen, ngoài ra c̣n cần đóng góp của “hạ tầng cơ sở” (mô, tuyến sữa) được quy định tại gien. Cặp “tuyết lê” vừa là bộ phận quyến rũ về giới tính và vừa là cơ quan hậu cần cung cấp dinh dưỡng cho thiên thần nhỏ sau này. NHŨ 乳 có nghĩa là vú và có nghĩa khác là sữa. Vú là bộ phận đặc trưng của phái nữ nên một số danh xưng có từ NHŨ thường chỉ phái nữ chẳng hạn: NHŨ MẪU (chữ Hán: 乳母; tiếng Anh: Wet nurse), tiếng Việt gọi nôm na là Bà vú hay Vú em, là danh từ để chỉ những người phụ nữ có chồng, có con làm công việc chăm sóc và cho ăn những đứa trẻ sơ sinh của những gia đ́nh khác bằng sữa mẹ. Quan niệm NHŨ DANH là tên chỉ dành riêng cho phái nữ xem ra cũng có lư... !?! Tuy nhiên, Quan niệm 2: Theo Wiktionary tiếng Việt, theo từ điển Hán Nôm và một số từ điển như vtudien... th́: NHŨ DANH: Tên đặt lúc mới sinh. Tên mà người Việt gọi là tên tục th́ người Trung Quốc gọi là tiểu danh, được đặt lúc đứa bé c̣n nhỏ và cũng gọi là nhũ danh v́ tên này được đặt lúc đang bú. Đôi ḍng phiếm luận: NHŨ 乳 có nghĩa là vú, sữa. Ngoài ra c̣n có nghĩa là con non, sơ sinh Nên: 乳名 nhũ danh: Tên đặt lúc mới sinh. Nhũ danh trong Tiếng Anh là Milk Name (tên sữa)
Mọi đứa trẻ đều có quyền được đặt nhũ danh không kể là trai hay gái. “Nhũ” ở đây chỉ “cái vú” và “sơ sinh”. NHŨ DANH hàm ư tên của “trẻ sơ sinh đang c̣n bú mẹ”. Tên cha mẹ đặt gọi là nhũ danh, đó là tên từ khi c̣n bú vú mẹ - có khi là tên cúng cơm, tên tục. Quư bạn có ư kiến ǵ về NHŨ DANH theo hai quan niệm trên nhỉ!
La Thụy
|