|
LAN MAN CHUYỆN TRÊN FACEBOOK TỪ “KHÚC THỤY DU” ĐẾN “GIẤC THỤY DU”
THỤY DU đă được chính nhà thơ Du Tử Lê giải thích: “Thụy là tên lót của người con gái dược khoa ông theo đuổi lúc bấy giờ - bà Thụy Châu, sau này là vợ đầu của ông. THỤY DU là tên ghép THỤY và DU (chữ đầu trong bút danh Du Tử Lê).” *
Một số bạn trên facebook lấy nick là “Khúc Thụy Du”.
Ắt hẳn các bạn ấy yêu thích bài hát “Khúc Thụy Du” do nhạc sĩ Anh
Bằng phổ thơ của thi sĩ Du Tử Lê. Bài hát có nội dung như sau:
KHÚC THỤY DU “Khúc Thụy Du” qua lời nhạc của Anh Bằng là một khúc t́nh ca mà h́nh ảnh, ca từ cũng như giai điệu đă chất chứa những nỗi buồn và tiếc nuối về một ân t́nh dĩ văng, và những cảm xúc đó trong bài hát dường như là ai cũng đă một lần trải qua.
C̣n, “Khúc Thụy Du” trong thơ Du Tử Lê như thế nào?
KHÚC THỤY DU
1/ Ư nghĩa “thụy du” trong bài thơ của Du Tử Lê: Nhà thơ Du Tử Lê cho biết: “Khi biến cố Tết Mậu Thân, 1968 xẩy ra, đó cũng là lúc cuộc t́nh của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Sàig̣n cũng khởi đầu. Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự một tiểu đoàn TQLC đang giải toả khu Ngă tư Bảy Hiền. Lúc đó, cả thành phố Saig̣n vẫn c̣n giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục TLC ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngă tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngă tư Bảy Hiền, ngoại ô Saig̣n, tôi thấy trên đường đi c̣n khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội CS. Khi tới gần khu ngă tư Bảy Hiền, dù không muốn nh́n, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương văi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà trúng bị bom, đạn. Đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ gậm chân, tay xương người bên lề đường… Tất cả những h́nh ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí. Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm, hai bên ŕnh rập nhau, như tṛ cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. V́ anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ…. Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung văi khắp nơi, cùng với mùi người chết śnh thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi… Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư kư toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào pḥng Báo Chí, cục TLC, hỏi tôi có thể viết cái ǵ đó, cho Văn số tục bản. Gọi là “tục bản” bởi v́ sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lư do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saig̣n giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại – – Thêm nữa, không thể để Văn đ́nh bản quá lâu. Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật ḿnh, hốt hoảng. Tôi nghĩ, giữa t́nh cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ t́nh, hay một chuyện t́nh. Mặc dù thơ t́nh hay chuyện t́nh là lănh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi c̣n không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên v́ chiến tranh nữa… Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngă tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những ǵ mục kích trên đường đi. Viết xong, tôi không t́m được một nhan đề gần, sát với nội dung! Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ. Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đă kiểm duyệt.) Tuy c̣n mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thơ của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nh́n huyệt lộ – bày quạ rỉa xác người – (của tươi đời nhượng lại) – bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – trên thịt người chưa tan – trên cánh tay chó gậm – trên chiếc đầu lợn tha…” vân vân… Nói cách khác, t́nh yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là ǵ? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người? Như đă nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc t́nh giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ. Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê" (1967-1972). Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 1973. * Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến t́m tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngă tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh: “Tôi có thể chỉ cho người đó hát…” Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến t́m tôi, cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương tŕnh ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau. Khi ca khúc “Khúc Thuỵ Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc, lựa một số câu thơ liên quan tới t́nh yêu mà không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt. Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn c̣n có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh t́nh yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”… Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm, nh́n lại, tôi thấy, ông cũng có cái lư của ông.
(Du Tử Lê – 01/30/2010 – 06:34 PM) " http://www.dutule.com/D_1-2_2-99_4-325/ve-bai-tho-khuc-thuy-du.html
Qua lời chính tác giả Du Tử Lê, chúng ta biết bài thơ không chỉ là một khúc t́nh ca viết về t́nh yêu, mà c̣n là những suy tư trằn trọc về thời sự với những cảnh tượng bi thương tang tóc do chiến tranh ụp xuống quê hương... “Khúc thụy du” được Du Tử Lê viết vào tháng 3.1968, ông nói:
“Đó là điều ǵ đó rất bấp bênh và chia ly gần như
thường trực, có những cuộc t́nh đổ vỡ, và như vậy th́ làm sao nh́n về
một hướng được. Thành ra, khi viết bài thơ đó, tôi muốn nói: Yêu nhau
không phải là nh́n về một hướng mà yêu nhau là nên nh́n vào định mệnh,
cuộc đời, hoàn cảnh của nhau, kể cả sự chia ĺa trước sau cũng sẽ đến,
đó là ư niệm sâu xa của bài Khúc thụy du. Cảm hứng buồn thương là sợi
dây xuyên suốt tác phẩm: Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai họa,
một tuyệt lộ.” Nhà phê b́nh Phạm Xuân Nguyên nhận xét: “Tác phẩm thể hiện phong cách ngôn ngữ đặc trưng của Du Tử Lê, nhiều day dứt, tuyệt vọng. Ngoài gửi gắm mong ước cuộc t́nh kéo dài măi măi kể cả khi chết đi, bài thơ là tiếng cảm thán về số phận hữu hạn, mong manh của mỗi người. Khi được thổi hồn bằng ngôn ngữ âm nhạc, tác phẩm có chiều sâu, dễ đi vào ḷng người hơn”. * THỤY DU đă được chính nhà thơ Du Tử Lê giải thích:
“Thụy là tên lót của người con gái dược khoa ông
theo đuổi lúc bấy giờ - bà Thụy Châu, sau này là vợ đầu của ông. THỤY DU
là tên ghép THỤY và DU (chữ đầu trong bút danh Du Tử Lê).” 2/ Chuyện trên facebook về “khúc thụy du” và “giấc thụy du” “Khúc Thụy Du” là nick name của một số bạn trên face. Đặc biệt có bạn đăng tập thơ “Giấc thụy du” lên face để chia sẻ.
Thế là các comments cùng rộ lên, bạn th́ chúc mừng
tập thơ vừa xuất bản, bạn th́ nhận xét khen ngợi tập thơ, có bạn đăng
status giới thiệu tập thơ, có bạn đăng status b́nh luận tập
thơ về h́nh thức, và nghệ thuật văn chương. Nhưng cũng có bạn đăng
status phê phán cái tựa đề “Giấc thụy du” của tập thơ không
hợp lư. Trích đoạn STT trên face của bạn ấy: “THỤY DU, KHÚC THỤY DU, GIẤC THỤY DU Theo nghĩa Hán Việt: Thụy 睡 : giấc ngủ, thí dụ “thụy y” 睡 衣 quần áo ngủ. Du 遊: Đi. Đi từ nơi này qua nơi khác Vậy "Thụy du" 睡 遊: Đi trong khi ngủ, mộng du. Mộng du là t́nh trạng đi trong giấc ngủ (Sleepwalking). Đây là một loại rối loạn giấc ngủ có nhiều khi nguy hiểm, nó là chứng bệnh somnambulism. - Khúc Thụy du là khúc hát khi mộng du. - Giấc thụy du? Thụy là giấc ngủ, dùng thêm chữ giấc - chữ Nôm - vào chi vậy, cho ‘ba rọi’? Về cụm chữ ‘Giấc thụy du’ tôi nhớ đến những lời ‘ấn tượng’ này của một nữ sĩ và của nhà bình thơ khen thơ bà: - ‘Hăy nhớ đến cuộc t́nh của tôi nó là GIẤC THỤY DU có thật’- XYZ (xin được giấu tên- NL) - ‘Nữ sĩ XYZ viết về t́nh yêu, th́ t́nh yêu như giấc thụy du nhưng không huyễn hoặc, thắm thiết trong từng sát na và đẹp như trăng huyền ảo’ – ABC Sự nhận biết về 2 chữ Thụy Du làm tôi nhớ đến câu truyện 'Người mù sờ voi' trong kinh Phật, mỗi người nhận biết khác nhau...”
N.L Theo bạn đăng STT ấy, “giấc” là từ thuần Việt, “thụy du” là từ Hán Việt. Ghép từ thuần Việt với từ Hán Việt là nửa nạc nửa mỡ như thịt “ba rọi”. Thịt ba rọi hay c̣n gọi là thịt ba chỉ (tiếng Anh gọi là Pork belly) là phần thịt nằm ở bụng của con heo. Thịt ba rọi không có xương, khi cắt ngang miếng thịt sẽ thấy các lớp thịt nạc, mỡ xen kẽ nhau và ngoài cùng là lớp da mỏng. * Bạn ấy đă đúng khi giải nghĩa về các từ ngữ “thụy du”, “khúc thụy du” và bạn ấy cũng không sai khi cho rằng “giấc thụy du” là từ “ba rọi”, tuy nhiên bạn ấy không xét đến tập quán ngôn ngữ khi việc “Hán Nôm đề huề” như thế đă trở thành khá phổ biến, thông dụng trong văn học, ngôn ngữ Việt Nam.
Tôi cũng tham gia trong cuộc bàn luận sôi nổi dưới
dạng comment. Xin chép lại những ư kiến của tôi lúc đó. KHÚC THỤY DU 曲 睡 游 là một từ Hán Việt. Theo nghĩa Hán Việt: - Khúc 曲: khúc nhạc, bài hát - Thụy 睡: Giấc ngủ (danh) Thụy 睡: Ngủ gục, ngủ gật, buồn ngủ (Động) Thụy 睡: Thuộc về “ngủ”. Để dùng khi ngủ. (Tính) - Thụy ư 睡意: Cảm giác buồn ngủ - Thụy y 睡衣 quần áo ngủ. THỤY, nghĩa là NGỦ, tùy theo từ loại nếu là danh từ (có chữ “giấc”), nếu là động từ hoặc tính từ (không có chữ “giấc”) Theo từ điển Thiều Chửu, Thụy 睡 có nghĩa là ngủ, lúc mỏi nhắm mắt gục xuống cho tinh thần yên lặng gọi là thuỵ.
- Du 游: đi chơi. Du có cách viết khác (遊). Thụy Du 睡 游: cùng nghĩa với mộng du 夢遊.
Thụy du hay mộng du được biết đến như một rối loạn
giấc ngủ (somnambulism). Người bị mộng du có thể đi khi đang ngủ
(Sleepwalking), hay thực hiện một số hành động thông thường như: ăn
uống, mặc quần áo, lái xe,... thường xuất hiện khoảng một đến hai giờ
sau khi ngủ và chúng thường kéo dài trong khoảng 30 phút. - KHÚC THỤY DU 曲 睡 游 theo nghĩa Hán Việt là một “khúc hát về người đi trong giấc ngủ mơ”, “khúc hát khi mộng du”. C̣n “GIẤC THỤY DU” là giấc mộng của những người lăng đăng trong cơn mê ngỡ như ḿnh đang mộng du, phiêu lăng... “Giấc thụy du” là một từ ghép dạng “Hán Việt đề huề” khá phổ biến trong văn học xưa và trong ngôn ngữ chúng ta hôm nay * Có một chữ gần nghĩa với Thụy 睡 (giấc ngủ) đó là Miên. Chữ Miên 眠 chỉ việc ngủ sâu và dài, thường dùng trong các nghĩa: ngủ đông (冬眠 - đông miên), an giấc (安眠 - an miên), yên giấc ngh́n thu (长眠 - trường miên), cô miên 孤眠 - ngủ một ḿnh, cô đơn.
“Lạnh lùng thay GIẤC CÔ MIÊN, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đă viết GIẤC CÔ MIÊN, nhạc sĩ Nguyễn Hồng Hải đă sáng tác nhạc phẩm CƠN MỘNG DU (ca từ của Ngô Duy Phương) do ca sĩ Trương Ngọc Ánh tŕnh bày trong phim Hương Ga OST. Vậy th́ nhà thơ nữ XYZ nào đó dùng từ GIẤC THỤY DU th́ cũng b́nh thường. Trong văn học chữ Nôm, các bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, của Hồ Xuân Hương và những nhà thơ nổi danh Việt Nam khác đầy dẫy những từ ngữ ‘ba rọi’ như bạn nói đấy, tôi chỉ dẫn chứng một vài trường hợp thôi:
“cuộc hư trường”, “bóng tịch dương”, “bóng ác tà”,
“miền khoáng dă”, “băi b́nh sa”, “người lữ thứ”, “nỗi hàn ôn”, “mặt anh
hùng”, “đầu quân tử”, “con Bạch Thố”, “chị Hằng Nga” Cuối cùng bạn ấy trả lời: Cám ơn bạn nha, rất lý thú. Chắc tôi sẽ edit lại cho chính xác. Chúc an lạc. Sau đó bạn ấy đă xóa đoạn cho rằng “GIẤC THỤY DU là “ba rọi” trên STT.
Những cuộc tranh luận trên face nhiều khi cũng
rất vui và hữu ích.
La Thụy
|