NGUYỄN AN B̀NH

 

TIẾNG ĐÀN ĐÁ TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ

 

 

 

Trương văn Dân

NGUYỄN AN B̀NH

VÀ TIẾNG ĐÀN TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ


          Trong khoảng thời gian chừng 5,7 năm trở lại đây, người có thơ được phổ nhạc nhiều nhất ở Việt Nam có lẽ là nhà thơ Nguyễn An B́nh. Điều này khẳng định thơ của anh tạo được cảm xúc trong ḷng các nhạc sĩ và được nhiều nhạc sĩ yêu quư: Nguyễn An B́nh đă có hơn 700 bài thơ phổ nhạc, một con số kỷ lục!


Lư giải về điều đó, nhà văn Nguyên Cẩn cho rằng “Thơ Nguyễn An B́nh giàu nhạc tính, những bài thơ của anh, vần điệu du dương, dễ gợi ư hay nhạc hứng trong ḷng các nhạc sĩ, từ thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ …


Em tươi non như ngàn lá,
Môi hồng thơm cánh lưu ly.
Về ngang nhà thờ ngày nọ,
Chuông mơ c̣n dấu t́nh si.
( Mùa thu xuống phố )


Chúng ta đọc tiếp


Về đâu sông ơi,
Sao đi mải miết .
Đưa người xa người
Tháng năm biền biệt.
(Về đâu sông ơi )


…đến thơ tám chữ


Nghe ai hát bản t́nh ca say đắm,
Khúc boléro chiều mượn chút men cay.
Tôi và em t́nh một thời lận đận,
Lan huệ thương hoài một sợi tóc mai”
( Khúc t́nh sầu boléro)


Nhà văn Nguyên Cẩn c̣n gọi Nguyễn An B́nh là nhà thơ của t́nh yêu v́ “T́nh yêu luôn tồn tại trong mọi bài thơ, luôn trẻ trung, luôn thao thức dù ở tuổi nào…Ta ngờ như tác giả vẫn nuôi dưỡng t́nh yêu trong tâm hồn ḿnh… Những cảm xúc không trôi đi mà đọng lại, thời gian và không gian đặc quánh t́nh yêu từ khi yêu 16 đến hơn 60 không có tuổi, mà chỉ có những rung động bao giờ cũng bồi hồi .”
 

&

 

Như thế th́ tâm hồn Nguyễn An B́nh là của chất thơ và vần điệu nên khi nhận được tập truyện Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà… tôi vừa ngạc nhiên vừa thú vị. Tất nhiên nhiều nhà thơ chuyển sang viết văn xuôi gần đây không ít, những lúc ấy tôi chợt nhớ đến một giai thoại mà Nguyễn Tuân đă kể: “Khi viết văn bí chữ, nhà văn Nguyên Hồng lấy xe đạp phóng đi một chập và vừa đạp ông vừa làm thơ v́ “viết truyện đầu dễ bốc khói, thỉnh thoảng làm ít câu thơ cho người nó dịu đi” và thế là “khi xây dựng nhân vật, lúc cao hứng, ông dẹp truyện qua một bên và sang sảng ngâm thơ của ḿnh.”


Tôi chợt liên tưởng vậy thôi chứ trường hợp của Nguyễn An B́nh th́ ngược lại, là nhà thơ viết văn và với tính cách điềm đạm, anh không có máu lăng tử như nhà văn Nguyên Hồng và cũng không mấy khi anh đưa thơ vào văn xuôi như nhà văn Kiệt Tấn.


Trong những năm gần đây Nguyễn An B́nh in khá nhiều sách, cả thơ lẫn văn, th́ hiểu là anh hết mực yêu văn chương, v́ cái nghề văn không hề nhàn hạ thảnh thơi mà phải lao động cật lực, đêm ngày cày trên cánh đồng chữ, cẩn trọng trong từng dấu phẩy, chưa kể sự miệt mài quan sát, t́m ṭi và suy nghĩ mới có thể kết hợp nhiều yếu tố trong nghệ thuật.


V́ làm ǵ có con đường tắt nào cho văn chương!


Nh́n chung th́ tập truyện Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà của Nguyễn An B́nh có 15 truyện ngắn, có vài truyện khá dài (như Xóm Trọ hơn 7000 chữ, Bên ḍng Potomac 5000 chữ, C̣n xanh bóng núi 4300 chữ… ) nhưng phần lớn các truyện đều hiền lành và dung dị như chính con người anh. Cách viết của Nguyễn An B́nh là pha trộn giữa truyện ngắn với bút kư, mỗi nét trong bức tranh đời người được anh kể lại bằng chất thơ của câu chữ nên ta thấy cuộc sống vùng sông nước phần êm dịu và nhẹ nhàng. Các chất liệu sống đều được anh sử dụng với một văn phong trong sáng, dễ hiểu, đọc lúc nào cũng thấy được tâm t́nh của tác giả.


Trong Chuyện t́nh trên phá Tam Giang ( 4920 chữ) kể về t́nh yêu cổ điển và có hậu của hai ngư dân nghèo. Mối t́nh của họ tuy chưa hẳn là trắc trở nhưng vẫn c̣n những toan tính thiệt hơn của người cha cô gái, rồi chỉ sau khi ông bị tai nạn từ cuộc trộm cá bất thành… mà t́nh duyên của họ được vuông tṛn.


Chuột và người (4800 chữ) là một câu chuyện rất đời thường: Do t́nh cờ mà lăo thợ hồ thất nghiệp trở thành kẻ bắt chuột lành nghề và kể từ đó th́ vợ lăo không cằn nhằn mà trở thành người cộng sự đắc lực, giúp chồng mọi việc. Nhưng đứa con trai thấy công việc này vừa hôi hám vừa thất đức, can không được, bỏ nhà ra đi.

 

Một buổi chiều lăo Th́n đang khề khà bên ly rượu đế với các món thịt chuột th́ bụng đau oằn oại, mắt trợn trừng, miệng ọc máu, vợ nghe kêu chạy vào th́ lăo đă ra đi. Trong đám tang, mặt hàng xóm đều có vẻ buồn nhưng bụng mừng thầm v́ thoát được cái mùi hôi thối từ ngôi nhà lăo. Chỉ có ông y tá già mới biết được nguyên nhân cái chết: Mấy tháng trước ông đă thấy triệu chứng bất thường, da và tṛng mắt lăo Th́n ngă màu vàng nghệ, bụng trương lên…


Nguồn cội ( 3200 chữ) Kể về chuyện một thanh niên bị đưa qua Mỹ, trong chiến dịch babylift, muốn t́m lại cội nguồn. Do t́nh cờ anh biết được tên người sĩ quan trước đây đă cứu giúp ḿnh. Anh hỏi xin địa chỉ, về Việt Nam t́m, và được ông cho biết là trên đường chạy loạn thấy bé bị thương và thất lạc người thân nên ông phải gửi vào viện mồ côi. Chuyện cảm động nhưng các t́nh tiết hơi bị guợng ép.


Bến sông quê (2300 chữ) Chuyện nói về tiếng đàn buồn và xót xa của người đàn ông bị vợ bỏ: Bị mù từ năm 7 tuổi, anh mê nhạc, học và đàn vọng cổ rất hay. Do t́nh cờ cứu 2 mẹ con bị ghe lật nên được bà mẹ gả con. Sau 8 năm chung sống, người vợ không chịu nổi kham khổ với người chồng tật nguyền, đă bỏ đi.


T́nh tiết đơn giản nhưng truyện có nhiều đoạn tả cảnh hay và một đoạn kết có hậu: “Năm Can ngước mặt nh́n ra bến sông. Anh biết con nước giờ nầy đă đứng lớn và sắp chuẩn bị cho đợt nước ṛng. Một tiếng chim vịt kêu nhưng lần nầy anh không c̣n cảm thấy buồn tẻ lẻ loi nữa, h́nh như nó đă t́m được bạn t́nh.”


Tấm thẻ bài (3200 chữ) Là câu chuyện về một t́nh yêu bị chia cắt v́ chiến tranh: Một người lính bên thua trận phải ra tŕnh diện để học tập chính sách trong vài ngày, nhưng bị giữ gần 6 năm! Khi ra trại, th́ người yêu đă vượt biên cùng gia đ́nh. Anh xin đi Mỹ theo diện HO, nhưng hồ sơ bị thiếu. Thất vọng và giận dữ, anh bỏ lại thẻ bài ở pḥng phỏng vấn. Rồi sau 2, 3 lần vượt biên, anh cũng qua được Mỹ.


Đến nơi anh quyết t́m người yêu nhưng vô vọng. Một hôm anh nhận được thẻ bài, do người con của người phỏng vấn ngày xưa gửi đến: Ông ân hận, v́ bị vướng nguyên tắc, không giúp được anh, nên nhờ con trai t́m anh để trả lại thẻ bài. Câu chuyện t́nh người, cảm động.


Nhưng có thẻ bài mà người yêu c̣n sống hay đă chết? Anh ném thẻ bài xuống biển.


Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà (3900 chữ) Phạm Đạt rất yêu quí đàn voọc chà vá chân nâu sống trên đỉnh Sơn Trà. Trong một chiều lên núi để chụp cảnh hoàng hôn th́ bất chợt mưa gió đầy trời. “Mây đen đă bắt đầu quần tụ kéo tới xám xịt mỗi lúc một dầy thêm trên bầu trời, gió từ phía biển u u thổi càng lúc càng mạnh vào vách núi, anh nghĩ chắc có khi ḿnh không kịp xuống triền núi về phía cây đa ngàn tuổi..


Trong lúc tiến thoái lưỡng nan, Đạt nghe có tiếng đàn và trong màn mưa anh c̣n thấy có ánh lửa chập chờn, anh lần đến ngôi nhà nhỏ và gặp một người con gái. Khi gơ cửa và bước vào trong, ánh lửa bập bùng làm anh ấm áp. Sau một lát chuyện tṛ, cô gái đánh đàn, âm thanh của núi rừng từ chiếc đàn đá tạo thành một bản trường ca bất tận. Anh xúc động cúi xuống hôn lên tóc, lên môi và 2 người có 1 đêm ân ái, nhưng khi thức giấc, anh không nh́n thấy nàng đâu.


Nhờ bức thư anh mới hiểu cô gái chính là 1 con voọc chà vá bị sụp bẫy mà anh đă giải cứu nhiều năm trước. Hoang đường như chuyện Liêu trai!
Nhiều lần quay lại “Hai mươi năm trôi qua tôi mong gặp lại nàng nhưng nàng và đồng loại nàng đă thật sự bỏ chốn cũ rời đi t́m chốn an b́nh trước cơn lốc hủy diệt tàn bạo của loài người.


Tưởng như chuyện thần tiên, nhưng đoạn kết là lời tố cáo bọn người đang âm mưu chiếm Sơn Trà làm của riêng, băm nát thiên nhiên.


Khác với các truyện ngắn trước, truyện có ư thức bảo vệ môi trường và ǵn giữ thiên nhiên. Đoạn kết làm người đọc ấm ḷng: “việc bảo vệ ngọn núi thiêng, bảo vệ màu xanh muôn đời của Sơn Trà đă có kết quả bước đầu thắng lợi, tất cả các dự án xẻ thịt Sơn Trà đều buộc phải dừng lại.”


Qua thơ hay văn người đọc dễ nhận ra là Nguyễn An B́nh một nhà thơ có tâm hồn nhạy cảm, cảm giác như anh vừa sống vừa lắng nghe, ghi nhận những ǵ xảy ra xung quanh bên ngoài và cảm xúc bên trong ḷng ḿnh để suy nghĩ và sáng tác.


Là người điềm đạm, Nguyễn An B́nh không dùng chữ to tát, cường điệu, anh viết truyện b́nh dị như tính cách của ḿnh. Cái tên An B́nh như vận vào những chuyện kể nhẹ nhàng, hiền hoà của anh. Ít khi thấy truyện ngắn có những xung đột dữ dội hay nhiều kịch tính.


Là nhà thơ viết truyện nên trong văn xuôi của Nguyễn An B́nh không thể thiếu những h́nh ảnh, âm thanh và nhạc điệu. Xin được trích ra đây những đoạn văn tả cảnh rất có hồn:


- “ Con nước bắt đầu lớn, nước từ sông cái chảy vào kênh Cái Sâu lờ đờ b́nh lặng, từng vạt lục b́nh trôi dạt vào kênh điểm xuyến mấy chùm bông tim tím làm cảnh vật bớt buồn tẻ, đơn điệu. Lâu lâu một vài trái bần già rụng xuống ḍng kênh nghe lỏm bỏm, trong không gian trầm lắng đó người ta lại nghe tiếng đờn vọng cổ cất lên từ trước nhà Năm Can, tiếng đờn như ai oán, nhớ thương chất chứa bao niềm tâm sự.” (tn Bến sông quê)


- “Nếu ai đă từng đi núi gặp phải cơn mưa rừng mới thấy hết cái dữ dội hung dữ của nó. Nó đến rất nhanh không kịp trở tay, có thể ào ạt chớp nhoáng rồi nhanh chóng đi qua như người khách lạ, có lúc lại dai dẳng nhiều ngày như một kẻ thù truyền kiếp đeo bám không rời. Tiếng mưa rào rạt đập vào các thân cây cành lá nghiêng ngả tạo nên những cơn dư chấn domino khiến người lạc trong núi phải khiếp vía. Trên độ cao hơn ngàn mét thần gió mặc sức hoành hành, những đám mây xám từ biển cứ ồ ạt kéo về, nước từ trên đỉnh núi theo các khe suối nhỏ ào ạt trôi băng băng xuống triền dốc như một cơn lũ dữ.”(tn Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà )


Trong truyện ngắn hiện đại, ít thấy ai tả cảnh. Mà tả cảnh hay th́ càng hiếm. Con người đang gục đầu trên máy tính, ngập trong hàng đống giấy tờ, số liệu… mấy ai c̣n có thời gian nh́n ngắm thiên nhiên!


Bài viết này không có tham vọng phê b́nh mà chỉ là những cảm nhận cá nhân khi đọc tập truyện ngắn Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà để chia sẻ cùng tác giả Nguyễn An B́nh nên chắc sẽ có bạn đọc nh́n qua một tâm cảm hay một góc nh́n khác. Để dẫn chứng tôi trích ra vài đoạn, phần c̣n lại xin dành cho độc giả đọc và khám phá.


Trương Văn Dân
Milano 20/8/2020


 

 

art2all.net