Nguyên Lạc

 

THƠ CỦA THIỀN SƯ

 

 

Lời phi lộ:

Trước khi vào bài, tôi xin bàn về chữ ZEN MASTER.

ZEN MASTER có bạn đã dịch là Tăng Sư, theo tôi nên dịch là Thiền Sư, vì nếu dịch ra Tăng Sư thì không chính xác lắm: Tăng Sư / Thầy Tu, thuộc giới Tăng Lữ, người đã xuất gia, gia nhập Tăng Đoàn/ Giáo Hội. Thiền Sư có thể tu tại gia (gọi là Cư sĩ), có thể xuấ́t gia tự mình tu Thiền nơi núi động nào đó, hoặc là gia nhập Tăng Đoàn tu tại chùa. Tăng Sư có thể không tu theo Thiền phái, mà tu theo các phái khác.

Cư sĩ thì như người thường, có vợ con, không cần ăn chay nếu muốn. Theo tôi hiểu, các nhà sư trụ trì Nhật Bản cũng có vợ con như Mục Sư bên Tin Lành. Còn về vấn đề ăn mặn, Phật Giáo chỉ khuyên nhưng không cấm. Các tu sĩ Nam Tông vẫn ăn thịt. Gần nhà tôi, Garland, Texas, các sư chùa PQ thường ra chợ ăn phở bò – thịt bò thật chứ không phải thịt bò chay – và hút thuốc, do các tín đồ biếu tặng. Các nhà sư Tây Tạng cũng ăn thịt, thịt con York, một loại dê núi; chắc vì khí hậu quá lạnh nên không trồng được rau.

Giờ xin mời các bạn tìm hiểu 2 Thiền Sư, 2 Zen Masters sau đây: một Nhật Bản, một Việt Nam.
 

THIỀN SƯ RYOKAN TAIGU

1. Tiểu sử

Ryokan Taigu ra đời trong năm 1758 (ngày chính xác không rơ), tại ngôi làng hẻo lánh ven biển Izumozaki, thuộc tỉnh Echigo, bây giờ gọi là Quận Niigata, Nhật Bản. Cha của Ryokan là Inan Taigu (1738—95), là người được kế thừa cha truyền con nối làm trưởng làng, và là một tu sĩ Thần Đạo. Inan Taigu cũng là một nhà thơ mà vài người ghi nhận là có liên hệ xa với trường phái thơ hài cú Basho. Dưới đây là một bài của ông Inan:

Liên tục cứ biến đổi,

Các đám mây hè lên lười biếng,

Cao trên các ngọn đồi

Tên thời thơ ấu của Ryokan là Eizo. Một cậu bé lặng lẽ, siêng năng, yêu thích sách, cậu ghi danh ở một trường Khổng Giáo khoảng năm lên mười, và nơi đó được nền học vấn căn bản của sách thánh hiền Trung Quốc và Nhật Bản. Vị thầy đầu tiên của Ryokan là Omori Shiyo (chết năm 1791), ông đã làm bài thơ – trích đoạn – cảm động này để tưởng niệm:

Một nấm mộ cũ nằm ẩn dưới chân đồi hoang vắng,

Tràn ngập bởi cỏ rậm năm này qua năm kia;

Không c̣n ai để chăm sóc ngôi mộ,

Và chỉ một bác tiều phu thỉnh thoảng đi ngang.

Một thời con là học tṛ của thầy, cậu bé có tóc tua tủa,

Học thâm sâu từ thầy bên Ḍng Sông hẹp.

Một sáng, con khởi hành trên chuyến đi cô đơn

Và nhiều năm trôi qua lặng lẽ giữa thầy tṛ.

Bây giờ con về, thầy đă an nghỉ nơi đây.

Làm sao con tưởng niệm hương linh thầy?

Con rưới chút nước trong lên trên bia mộ thầy

Bản chất lương thiện và hoà giải, Ryokan không ưa tranh chấp, cực kỳ ngây thơ, sau khi trải qua một khủng hoảng tâm linh, chàng Ryokan 17 tuổi quyết định rời nhà và trở thành một nhà sư.

Ryokan trong 10 năm sau đó tu tại chùa Entsu-ji. Lúc đầu khi thọ giới, sư được đặt tên là “Ryokan Taigu.” Chữ “Ryo” có nghĩa là “tốt lành, thiện” và “kan” nghĩa là “quảng đại” trong nghĩa rộng lượng và đại bi. C̣n chữ “Taigu” nghĩa là “Đại Ngu,” chỉ vào tính thơ ngây trẻ dại và thiếu vắng cái giả h́nh. Kokusen gợi tới các phẩm chất này trong tờ inka trao cho môn đệ hàng đầu của thầy. Năm 1790, khi 32 tuổi, Ryokan được bổ nhiệm làm thủ chúng tu viện này, và được trao tặng một inka (chứng nhận giác ngộ)

Vài năm sau đó, và Ryokan rời Entsu-ji để đi chuyến du phương dài, lang thang với mây và trôi với nước. Ryokan như dường hầu hết là ghé vào các miền quê trong suốt thời kỳ năm năm, ngủ trên các cánh đồng hay ngả lưng trong các căn lều dă chiến, và tránh các trung tâm đô thị và tu viện lớn.

Thi ca và thư pháp là trọng tâm Thiền của Ryokan, và thơ của sư được dùng làm các bài giảng Phật Giáo kín đáo. Về mặt kỹ thuật, Ryokan bị ảnh hưởng bởi kinh điển thi ca Trung Hoa và Nhật Bản, nhưng sư phần lớn viết những khi nào sư thích và nói chung th́ bỏ lơ các luật về thơ.

Ai nói thơ ta là thơ?

Thơ ta không phải thơ.

Sau khi ngươi biết thơ ta không phải thơ,

Th́ chúng ta có thể bàn về thơ!

Ryokan viên tịch sáng sớm ngày 6 tháng giêng, năm 1831. Tang lễ của sư, được làm lễ bởi các vị sư thuộc đủ mọi tông phái nhà Phật, được tham dự bởi mọi người trong làng và các làng kế bên.

Cái ǵ sẽ vẫn là di sản của ta?

Hoa mùa xuân,

Chim cu mùa hè,

Và lá đỏ

Của mùa thu.

Có nhiều câu chuyện lư thú kể về ông, nhất có lẽ là chuyện ông muốn tặng mặt trăng cho tên trộm.

Chuyện kể rằng:

Một buổi tối, Ryokan quay về túp lều ở dưới chân núi sau một ngày đi khất thực mệt mỏi, và ông nh́n thấy một tên trộm trong nhà. Nhưng căn nhà trống trơn không có ǵ để tên trộm lấy. Lúc đó, ông đă nói với hắn ta: “Bạn đă đi một quăng đường dài để đến thăm tôi, và bạn không nên trở về tay không. Hăy lấy quần áo của tôi làm quà.” Tên trộm ngơ ngác, vội vơ lấy quần áo rồi phóng đi.

Ryokan khỏa thân ngồi ngắm mặt trăng đang hiện ra bên khung cửa sổ. “Anh ta thật tội nghiệp,” ông trầm ngâm, “Ước ǵ tôi có thể tặng anh ấy vầng trăng đẹp thế này”. Ngay sau đó ông đă viết một bài haiku:

The thief left it behind:

the moon

at my window.

 

Tạm dịch:

Tên trộm bỏ lại cho tôi:

Vầng trăng

Ngay bên khung cửa.

Ryokan Taigu

(Nguồn : Thư Viện Hoa Sen)

 

2. Hai bài thơ thiền

Đây là 2 trong những bài thơ nổi tiếng của Thiền Sư Ryokan Taigu [Từ bản dịch tiếng Anh trong The Sky Above, Great Wind, The Life and Poetry of Zen Master Ryokan. Nguyên tác thơ của Ryokan Taigu (良寛大愚, Lương Khoan Đại Ngu, 1758-1831)].

THE PATH

The path is hidden

by snow

invisible

but thoughts of you

lead me onward

 

Nguyên Lạc phóng dịch:

CON ĐƯỜNG

Tuyết phủ con đường [*]

Hướng đi không thấy

Quán tưởng về Người

Dẫn tôi đi tới

………..

[*] Ý nghĩ riêng: Theo tôi chữ quan trọng nhất trong bài là The Path : CON ĐƯỜNG/ ĐẠO và chữ YOU: NGƯỜI/ PHẬT – tôi viết hoa.

– Snow là Vô Minh che lấp Con Đường/ Đạo, nhờ quán tưởng đến Người, nhớ “ngón tay” chỉ Trăng/ những lời dạy, ta biết phương hướng đi tới Trăng/ An lạc/ Giác ngộ…

 

DOWN IN THE VILLAGE

Down in the village

the din of

flute and drum,

here deep in the mountain

everywhere the sound of the pines.

 

Nguyên Lạc phóng dịch:

DƯỚI KIA NGỒI LÀNG

Dưới kia ngôi làng [*]

náo động sáo trống

sâu trong rừng thẳm [**]

Thông reo muôn nơi

………

[*] Theo người dịch, ý ngầm bài thơ như sau:

Down in: Dưới kia/ ngoài kia/ ngoài ta là ta bà, nhân sinh ồn ào, bảt nháo đầy sân si

[**] Here deep in: Sâu đây/ trong tâm êm đềm, an lạc; ý nói hãy hướng vào trong thân tâm mình.

 

 

HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ

1. Niên đại và con người

Theo sách Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quư Đôn, Hương Hải người làng Án Độ, huyện Chân Phúc, tỉnh Nghệ An, sinh năm 1627, vốn là người thông minh xuất chúng, lịch lăm về nho học, đỗ Hương Cống (cử nhân) năm 18 tuổi, được chọn vào phủ Chúa Nguyễn. Sau đó cử nhận Tri Phủ huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Vào năm 25 tuổi ông rất hâm mộ đạo Phật, đă từng đàm luận với các vị Thiền Sư Trung Hoa đang hành đạo tại Quảng Trị.

Ba năm sau (1655) ông từ quan đi xuất gia với ngài Viên Cảnh thiền sư, ngài đặt cho pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải, ngày nay chúng ta thường gọi ngài là Hương Hải. Sau đó ngài ra vân du ở đảo Tiêm Bút La, cảnh trí nơi đây thích hợp cho việc tu tŕ nên ngài lập am để chuyên tu. Đạo hạnh của ngài cao thâm, quan dân thảy đều ngưỡng mộ. Có lần quan trấn thủ Thuần Quận Công thỉnh ngài về đất liền tụng kinh cầu an cho phu nhân, và cả gia đ́nh quy y theo. Và quan Tổng thái giám Hoa Lệ Hầu cung thỉnh ngài về đất liền lập đàn sám hối, cầu cho hết bịnh mà quan Tổng đă mắc phải. Chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Chu 1691-1752) nghe tiếng bèn cử người ra cung đón, khi ngài về đến nội địa đích thân chúa Nguyễn ra đón tiếp, hỏi thăm, ủy lạo, rồi sau đó lập Thiền Tĩnh Viện ở trên núi Qui Cảnh để ngài ở. Các quan trong triều và đủ mọi tầng lớp nhân dân các tỉnh đến quy y học đạo rất đông.

Sau v́ sự đối đăi kèm theo nghi kỵ của chúa Nguyễn, Hương Hải quyết chí ra Bắc. Năm 1682 Thiền Sư cùng với 50 đồ đệ vượt biển ra Bắc đến trấn Nghệ An, thuyền ghé bến ngài đến tŕnh diện ở đồn Trần Lao do Yên Quận Công Trịnh Gia trông coi. Sau đó ông mới tâu về triều Chúa Trịnh cho người đón tất cả về kinh hỏi han mọi việc. Sau đó chúa sai quan Trấn Thủ Sơn Nam lấy đất lập chùa mời ngài trụ tŕ ở đó.

Những tháng năm bập bềnh sóng gió đă trôi qua, ngài bèn dùng thời gian c̣n lại trong việc tu tập và nghiên cứu sáng tác, dịch thuật hơn 30 tác phẩm để lại cho đời. Trong số những tác phẩm bị thất lạc chúng ta chưa t́m ra đầy đủ.

Hương Hải Thiền Sư vốn đă uyên thâm về Nho học trước khi đi xuất gia, hầu hết lúc bấy giờ theo đường công danh cử nghiệp bút nghiên phải thông nho mới mong đỗ đạt. Hương Hải quan niệm sự dung ḥa giữa Nho giáo và Phật giáo có thể bổ túc cho nhau trên phương diện trị an.

“Lên tận nguồn Nho trông bát ngát

Vào sâu biển Pháp thấy mênh mông”

(Nho nguyên đăng đăng đăng di khoát

Pháp hải trùng trùng nhập chuyển thâm)

Qua hai câu thơ trên, Hương Hải quả có cái nh́n muốn kết hợp hai tôn giáo lúc bấy giờ, đàng nào cũng có cái mênh mông bát ngát của nó, chúng ta chỉ là kẻ đứng ngắm sự rộng lớn nầy, không thể dùng con mắt mà đo lường được.

Năm Ất Mùi 1715, sáng ngày 13 tháng 5, sau khi tắm xong thiền sư khoác y, đeo tràng hạt, đội mũ trang nghiêm ngồi kiết già tịch, hưởng thọ 88 tuổi. Đệ tử đắc pháp của ngài rất đông, có vị được phong chức Tăng Thống. (Nguồn : Thư Viện Hoa Sen)

 

2. Một bài thơ thiền

Đọc được bài thơ của Hương Hải Thiền sư hay quá, lòng đầy cảm xúc, tôi xin thoát dịch bài thơ:

NHẠN ẢNH

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ư.

Thủy vô lưu ảnh chi tâm

(Hương Hải Thiền Sư – Trích “Kiến văn tiểu lục”- Lê Quư Đôn)

 

Nguyên Lạc phóng dịch

BÓNG NHẠN

Nhạn bay qua trời không

Bóng hiện lòng nước lạnh

Chim … đâu màng lưu dấu

Nước … giữ bóng chẳng mong
 

 

art2all.net