NGUYỄN  ƯỚC

 

T́nh Yêu và Hôn Nhân

dưới mắt nh́n của K. Gibran

 

Andrew Sherfan

Nguyễn Ước dịch

"Love" by K. Gibran

 

Chưa có tiếng nói nào phiêu du từ các đỉnh núi tuyết phủ của miền đất cây bách hương từng được nghe tại thế giới phương Tây như tiếng nói của Kahlil Gibran, triết gia thi sĩ người Li-ban (Libenon). Ngọn bút ông sắc bén, gai góc và chính xác, ném những chỉ trích cay độc vào kẻ mạnh cũng như kẻ yếu. Nó trừng trị kẻ thứ nhất v́ sự tàn bạo và thúc giục kẻ thứ hai rủ bỏ gông xiềng nô lệ vốn là kết quả của tính ngoan ngoăn dễ bảo và tính thụ động của chính bản thân họ

Trong các văn thi phẩm lăng mạn của ḿnh, Gibran nỗ lực làm sáng tỏ bí nhiệm của t́nh yêu đồng thời thừa nhận rằng càng cố sức am hiểu t́nh yêu càng thấy t́nh yêu trở nên quá đổi bí nhiệm. Trạng thái hoang mang đó khiến Gibran thích những phát biểu nghịch lư vốn không thôi khêu gợi tính hiếu kỳ của người đọc và làm bức bối t́nh cảnh lúng túng của chính ông. Cơn rung động rộn ràng và toàn diện được Gibran cung cấp cho người đọc là một pha trộn giữa tính nhạy cảm của phương Đông và tính lư luận phân tích của phương Tây.

Gibran Kahlil Gibran chào đời năm 1883 tại làng Bsharreh ở Vùng núi Li-ban, nằm ở độ cao hơn mặt biển trên 1.000 thước. Ở đó, Gibran phải đối mặt một môi trường vật chất gian khổ và một nền văn hóa bị thống trị bởi những tục lệ cổ lổ khắc nghiệt qua đó cá nhân được huấn luyện để đối đăi với quá khứ như kẻ hướng dẫn duy nhất cho tương lai của ḿnh. Ông bị buộc phải tiếp tục các truyền thống và phong tục thiêng liêng do một xă hội gia trưởng cứng nhắc dệt nên cùng cưỡng ép các phần tử của nó phục tùng một cách toàn diện, cả tư tưởng lẫn động thái.

Cậu thiếu niên Kahlil Gibran học tiếng A Rập, tiếng Sy-ri-a (lúc đó là thứ ngôn ngữ đang suy tàn), giáo lư và các Thánh vịnh của vua David*. Thân mẫu của ông là người đọc và viết thông thạo một cách ngoại lệ*; bà thích đọc cho con trai nghe các câu truyện của những văn thi sĩ viết bằng tiếng A Rập như Antar, El-Zir, Abu Nuwas và Harun El Rashid.

Thời đó, xứ sở của Gibran bị lệ thuộc Đế quốc Ottoman tàn bạo, bóc lột vùng đất Trung Đông từ hơn bốn trăm năm. Nền kỹ nghệ tại khu vực đó đang trong t́nh trạng suy sụp khi nhà cầm quyền Thổ Nhĩ Kỳ thu gom tới kiệt quệ thực phẩm và tài nguyên của một dân tộc đang chết đói để nuôi dưỡng và cung cấp cho các đạo quân xơ xác của nó.

Giới chức lănh đạo tôn giáo, theo Gibran, không chỉ quị lụy mà c̣n đồng lơa với nhà cầm quyền dân sự tới mức chấp nhận t́nh trạng áp bức mà dân tộc đang gánh chịu là một thực tế (de facto). Dù rất khó thấy Giáo hội Kytô có khả năng tới đâu để có thể chống lại Đế quốc Ottoman Hồi giáo, Gibran vẫn dường như không măn nguyện với sự thể hiện của những kẻ đang rao giảng Phúc âm khi một giám mục phổng tay trên nàng Salma Karamy yêu dấu* của Gibran cho cháu trai của ḿnh. Có vẻ sự việc ấy tạo thành mối thù địch khiến Gibran chống lại nhà cầm quyền thời đó của Giáo hội.

Khi đời sống ở Li-ban ngày càng trở nên quá sức chịu đựng, gia đ́nh của Gibran cũng như nhiều gia đ́nh khác, di dân qua Hoa Kỳ để t́m một cuộc sống khá hơn. Cậu thiếu niên Gibran được theo học trường trung học, và ở đó ngẫu nhiên tên nguyên gốc Khalil của cậu, vốn có nghĩa là "người bạn" bị viết thành Kahlil v́ bạn đồng lớp khó phát âm đúng chữ Khalil.

Tới những năm cuối tuổi thiếu niên, mẹ ông gởi ông về lại Li-ban v́ bà cảm thấy con trai ḿnh đang trở thành con mồi của một phụ nữ ác độc có số tuổi gấp đôi ông. Trở về Beirut, cậu Gibran trẻ tuổi tiếp tục việc học ở trường cao đẳng, và c̣n chủ biên một tờ báo trong trường rồi dần dà hiểu biết cảnh ngộ thật sự của quê hương ḿnh. Tác phẩm đầu tiên của ông, Linh hồn nổi loạn (Spirits Rebellious) tấn công sự áp bức chuyên chế và các tục lệ đa dạng nơi đất mẹ. Cuốn sách ấy nhanh chóng bị Giáo hội Công giáo Maronite kết án và bị đốt ở giữa chợ Beirut.

Với bối cảnh như thế trong tâm trí, người đọc có thể hiểu rơ tâm trạng năo nề mà Gibran t́m thấy trong thời gian ông ở lại quê hương nô lệ. Các tác phẩm của ông phản ánh đầy đủ sự nổi loạn của tác giả chống lại các nhà cầm quyền cả dân sự lẫn tôn giáo. Gibran tự xem ḿnh như một loại "ngôn sứ" có sứ mệnh đặc biệt vừa phát biểu thay cho tập thể quần chúng vừa giải thoát họ khỏi cái ác muôn h́nh muôn vẻ đang xảy ra cho họ như là kết quả của sự tŕ trệ, các tục lệ và truyền thống. Nếu nhà cầm quyền Ottoman ít hà khắc hơn có lẽ chúng ta đă thấy Gibran dẫn đầu các cuộc biểu t́nh và viết bài trong báo chí địa phương để đánh thức ư thức xă hội trong tâm trí của đồng bào. Nhưng Gibran biết rằng tiếng nói của ḿnh sẽ rơi trên những lỗ tai điếc đặc v́ mông muội và thụ động đă làm tê liệt trí suy nghĩ của họ.

Các vấn đề trong gia đ́nh mang Gibran quay trở lại Hoa Kỳ, ở đó, ông tiếp tục vẽ và viết. Ông trải qua một khoảng thời gian ở Paris học mỹ thuật. Sau đó, ông mở xưởng vẽ ở New York nơi ông vẽ nhiều và viết hầu hết các tác phẩm của ḿnh.

Cái chết không đúng lúc đến với Gibran vào ngày 10 tháng Tư năm 1931 trong khi ông đang ở đỉnh cao năng lực. Lúc đó, Gibran 48 tuổi. Sau khi tỏ ḷng tôn kính với di hài của Gibran tại Mỹ, linh cửu ông được phủ quốc kỳ Hoa Kỳ và lá cờ Li-ban, mang về quê cha đất tổ trên con tàu Providence (Thiên ư Quan pḥng). Việc tiếp rước tại đất mẹ Gibran diễn ra như chưa từng có. Và mỉa mai thay, Gibran được chôn cất trong đất tu viện Thánh Sarkees tại thôn làng chôn nhau cắt rốn của ông dù người ta không biết chắc chắn Giáo hội Công giáo Maronite đă hủy việc dứt phép thông công ông hay chưa. Cho tới hôm nay, dân chúng viếng mộ Gibran như một địa điểm hành hương. Thậm chí sau khi từ trần, Gibran tiếp tục là một khuôn mặt đầy nghịch lư đối với người đọc.

Tác phẩm của Gibran nhiều*, được các học giả khác nhau diễn dịch dưới những nhan đề khác nhau. Tuy vậy cũng đủ để chúng ta điểm lướt một số cuốn.

Như đă nói trên, Linh hồn nổi loạn (Spirits Rebellious) là tác phẩm xuất bản đầu tiên, tạo xúc động mạnh mẽ tại Trung Đông. Tác giả liệt những kẻ tham ô và chuyên chế trong chính quyền cùng với các thẩm phán được những bàn tay hư hoại bổ nhiệm, vào loại người không có quyền lên án kẻ khác.

Trong Găy cánh uyên ương (The Broken Wings), Gibran kể lại các sự kiện trong đời ông dưới những tá danh khác nhau, chủ yếu liên quan tới cuộc t́nh năo nề của ông với Salma Karamy*, người ông muốn thành hôn nhưng bị đoạt khỏi bàn tay ông và bị buộc phải làm đám cưới với người cháu của một giám mục. Tác phẩm này gây xôn xao trong thế giới A Rập.

Cuốn Nước mắt và nụ cười (A Tear anh a Smile) vẽ lên cảnh t́nh yêu luôn luôn kết hợp với đau khổ. Nó được khởi hứng từ nhiều lần ông gặp gỡ Hala Dhaber, kẻ vào ngày nọ ông thấy đang khóc thổn thức. Đáp lại lời ḍ hỏi của Gibran nàng chỉ mỉm cười và nói đơn giản: "Nó là nước mắt và nụ cười." Nàng biết rằng ḿnh sẽ không bao giờ được kết hôn với Gibran, người nàng thật sự yêu thương.

Trong Gă khùng (The Madman), Gibran ca ngợi sức mạnh nhưng khiển trách sự hèn nhát qui thuận.

Trong Đám rước (The Procession), Gibran kết án người chưa làm nô lệ cho hoài bảo.

Trong Cơn băo (The Tempest), Gibran ca tụng kẻ mạnh bạo nhưng đồng thời thúc giục người yếu đuối mạnh mẽ lên.

Trong Kẻ tiền hô (The Forerunner), Gibran chế nhạo những người cho rằng họ là kẻ độc nhất biết chân lư.

Cuốn Vườn ngôn sứ (The Garden of the Prophet) cho thấy Gibran là người theo chủ nghĩa tự nhiên, ngưỡng mộ giọt sương xuống, tuyết đang rơi và các vườn nho.

Cuốn Giê-su, Con của Con người (Jesus, the Son of Man) được viết vào cuối đời, Gibran đánh giá nó như là đỉnh cao và sứ mệnh của ḿnh. Tác giả nhấn mạnh các phẩm chất nhân tính của Giê-su tới mức ông tước bỏ thiêng tính của ngài và biến ngài thành siêu nhân.

Trong Những nữ thần vùng thung lũng (The Nymphs of the Valleys) Gibran tấn công những kẻ thuộc bậc thẩm quyền dù dân sự hoặc giới giáo sĩ, v́ họ làm ra lề luật nhưng không giữ lề luật.

Cuốn Ngôn sứ (The Prophet) được đánh giá là kiệt tác phẩm của Gibran, nói tới đời sống nội tâm, các cảm xúc và các niềm tin của ông. Gibran đi theo mẫu thức cuốn Thus Spake Zarathustra (Zarathustra đă nói như thế) của Nietzsche. Tuy đánh giá Nietzsche là tâm trí tốt nhất từng đến thế giới này nhưng trong khi Nietzsche vô thần th́ ngược lại, Gibran là người tôn giáo sâu xa. Almustapha trong Ngôn sứ là phát ngôn nhân của Gibran, kẻ trả lời mọi câu hỏi của dân chúng đến tiễn chân ḿnh sau một số năm ông sống giữa họ. Gibran xem Ngôn sứ là "một phần của bản thân tôi." Ông giữ bản thảo của cuốn đó suốt bốn năm trời v́ ông muốn "được chắc chắn, rất chắc chắn, rằng mỗi chữ của nó chính là chữ tốt nhất tôi phải đưa ra."

Tác phẩm của Gibran có sức mê hoặc và ứng xử với nhiều chủ đề nhưng trong bài giới thiệu ngắn này, chúng tôi chỉ có ư định tóm lược nhanh gọn quan điểm của Gibran về chủ đề được ông yêu thích nhất, đó là t́nh yêu. Và trong hầu hết thời điểm này, chúng tôi sẽ cố gắng sử dụng câu chữ của chính tác giả.

Khi viết về t́nh yêu, Gibran trong cùng một lúc vừa rất đổi thi vị vừa cực kỳ phân tích. Ông mổ xẻ đỉnh điểm cảm xúc nhân tính ấy với nhận thức tuyệt vời dù vẫn sống độc thân cho tới cuối đời. Ông đánh giá t́nh yêu là thiêng liêng, và trước khi ban cho ḿnh niềm khoái lạc trong việc nói tới nó, ông thanh tẩy đôi môi ḿnh bằng cái ông gọi là ngọn lửa thiêng.

Khi Gibran sắp làm quen với t́nh yêu, những khúc hát trong tâm hồn ông bỗng biến thành cơn im lặng thẳm sâu khiến ông buộc ḷng phải yêu cầu ai đó cho ông lời khuyên bảo về chính trái tim ông và về chính bản thân ông. T́nh yêu, theo Gibran, thiêu đốt cảm xúc và đam mê. Bàn tay t́nh yêu thô nhám và ngọt ngào, giữ chúng ta trong cô đơn quạnh quẽ và rót vào tâm hồn một thức uống trộn lẫn đắng cay với dịu ngọt. Cảm xúc t́nh yêu thật sự được làm thành bởi nước mắt và nụ cười, đau khổ và hạnh phúc. T́nh yêu là sức mạnh lạ lùng mang tới cho linh hồn chúng ta cả cái chết lẫn sự sống, cả đau đớn lẫn sung sướng, khiến phát sinh giấc mơ mạnh hơn sự sống và sâu hơn cái chết. Khi t́nh yêu chạm tới linh hồn với những đầu ngón tay của nó, chúng ta tom góp đủ năng lượng và sức mạnh băng qua lũng sâu, leo lên núi cao để gặp kẻ ḿnh thương, và đi tới nơi rất xa để gặp người yêu dấu, kẻ là chính sự sống của ḿnh.

Gibran chia cuộc sống thành hai nửa: nửa này đông cứng nửa kia bừng cháy và t́nh yêu là nửa bừng cháy kia. Ngọn lửa thiêng liêng ấy đến từ ngai thiêng thiêng và Gibran khẩn nguyện cho ḿnh được nó thiêu đốt. T́nh yêu, theo Gibran, không do chúng ta tạo nên mà được từ trên cao gởi xuống và t́nh yêu điều động mọi sự trong cuộc sống nếu nó thấy chúng ta thích đáng. Trong bàn tay t́nh yêu, chúng ta không biết nơi nào để đi, việc ǵ để làm và chỉ đơn thuần là đồ chơi của nó. Gibran nói thêm rằng chúng ta khi yêu đương, không nên bảo Thượng đế đang ở trong trái tim ḿnh nhưng thay vào đó, nên nói rằng ḿnh đang ở trong trái tim của Thượng đế.

T́nh yêu đúng nghĩa và chân thành, theo Gibran, là ngọn lửa tự nó bùng cháy và tự nó nuôi dưỡng nó. Ngọn lửa t́nh yêu mạnh không kém cái chết là cái biến đổi mọi sự; nó chẳng cho ǵ cả ngoài bản thân nó và chẳng lấy ǵ cả ngoài bản thân nó. Do đó, trong tư tưởng của Gibran hoàn toàn chẳng có ư nghĩ về tưởng thưởng hoặc toại nguyện v́ ông c̣n nói thêm rằng t́nh yêu không sở hữu và cũng chẳng bị chiếm hữu, v́ t́nh yêu là đầy đủ cho t́nh yêu.

Gibran quả quyết t́nh yêu là tiếng gọi thiêng liêng, nó điều hướng cuộc đời của chúng ta nhưng đối tượng phải xứng đáng với tiếng gọi ấy. Gibran nhấn mạnh rằng nếu phải khao khát, chúng ta nên có khát vọng duy nhất là được tan chảy như tuyết và trở nên như ḍng suối nhỏ đang chảy, hát lên giai điệu của con nước ấy giữa trời đêm.

Gibran nói thêm, khía cạnh đau đớn của t́nh yêu được t́m thấy trong sự vô cùng êm ái của nó. Chúng ta phải tự nguyện bị thương tổn, bị chấn thương và bị trừng phạt bởi chính sự thấu hiểu của ḿnh về t́nh yêu, và rồi đau khổ một cách cũng đầy tự nguyện và đầy hân hoan. T́nh yêu là ngôn từ của ánh sáng, viết bởi bàn tay của ánh sáng trên trang giấy ánh sáng. T́nh yêu, mạnh không kém cái chết, biến đổi mọi sự mà không biến đổi chính nó. Không có ngọn lửa thiêu cháy của t́nh yêu, cuộc sống của chúng ta sẽ măi măi như trang giấy trắng trong cuốn sách đời.

Gibran đi rất xa khi gọi t́nh yêu là cuộc đóng đinh đầy ân sủng vào thập giá. Đôi khi t́nh yêu tàn bạo và dă man v́ nó trồng hoa và nhổ trụi cánh đồng, làm chúng ta sống lại chỉ một ngày và bất tĩnh suốt một đời. Bằng bàn tay này, t́nh yêu dâng hiến khoái lạc hân hoan, và bằng bàn tay kia t́nh yêu cho ta khổ đau cay đắng. T́nh yêu là sầu khổ và sầu khổ là t́nh yêu.

Khao khát một khát vọng nhất định là thành phần làm nên nỗi khổ của con người. Dường như chúng ta thích thanh gươm ấy chém xuống thân ḿnh và mũi tên ấy xuyên thủng ngực ḿnh. Chúng ta cảm thấy khuây khỏa khi bị chấn thương, và chỉ khi uống máu của chính ḿnh, chúng ta mới có thể say sưa ngất ngây. Khi trái tim chúng ta nhỏ máu bên trong ḿnh, chúng ta gọi kẻ làm ta bị thương ấy bằng những tên dịu dàng.

Chúng ta phải được t́nh yêu diệt tuyệt mọi dục vọng mới có thể sống tự do và đức hạnh. T́nh yêu giả dối hoặc t́nh yêu có giới hạn đ̣i hỏi sở hữu người ḿnh yêu nhưng t́nh yêu chân chính và vô hạn chỉ đ̣i hỏi chính nó. T́nh yêu cho chúng ta sự tự do duy nhất trong thế giới này v́ nó làm thăng hoa tinh thần con người tới độ luật lệ của loài người cùng các hiện tượng thiên nhiên không thể làm biến đổi ḍng chảy của nó.

Gibran có một lối rất thú vị và đáng quan tâm khi ông nh́n phụ nữ. Ông thừa nhận họ có rất nhiều tác động lên cuộc sống cá nhân của ông. Ông cảm thấy ḿnh hoàn toàn mắc nợ về cái được ông gọi là "Tôi" đối với các phụ nữ, thậm chí từ lúc ông là hài nhi. Phụ nữ mở các cửa sổ của đôi mắt ông và cửa lớn của linh hồn ông. Họ đóng vai quan trọng trong cuộc đời của hết thảy mọi đàn ông. Đối với Gibran, "với một liếc nh́n từ đôi mắt ḿnh, nàng có thể biến bạn thành người đàn ông hạnh phúc nhất thế gian." Đối với kẻ than văn không thể nào thấu hiểu người yêu và cáo buộc nàng dối trá hoặc hay thay đổi tâm tư, Gibran dường như cảm thấy buồn cho họ v́ họ không bao giờ hiểu tâm lư hoặc hiểu những ǵ làm cho người nữ thành cái nàng đang là. Ông thúc giục họ "lắng nghe người nữ khi nàng nh́n bạn nhưng đừng nghe khi nàng nói với bạn."

Đối với Gibran, dường như chúng ta đ̣i hỏi quá đáng nơi phụ nữ khi kỳ vọng nàng sẽ bộc lộ cảm xúc bằng lời nói, v́ thông thưởng, lối thích hợp nhất với nàng là truyền đạt qua ánh mắt và t́nh cảm. Gibran nói thêm rằng phụ nữ th́ có nhiều khuyết điểm nhưng để tận hưởng các đức hạnh của nàng, chúng ta trước hết phải đừng chấp nhất các khuyết điểm của nàng.

Vẻ đẹp của người nữ không mang tính vật thể v́ cái làm thành vẻ đẹp của nàng th́ tùy thuộc vào thái độ của chính chúng ta. Hợp âm giữa người nam và người nữ khiến người này yêu thương người kia. Mỗi lần ghé thăm Salma Karamy đáng ngưỡng mộ của ḿnh, Gibran lại đưa ra một ư nghĩa mới về vẻ đẹp của nàng và một cái nh́n thấu suốt mới vào tinh thần dịu ngọt của nàng. Cho tới khi, theo lời ông kể, nàng trở thành như một cuốn sách với những trang ông có thể thấu hiểu nhưng vẫn không thể nào ngưng đọc.

Theo Gibran, phụ nữ – kẻ được Thiên ư Quan pḥng ban cho vẻ đẹp tinh thần và thể xác – là chân lư cả phơi mở lẫn ẩn mật, chỉ có thể thấu hiểu nó bằng t́nh yêu và chỉ có thể chạm tới nó bằng đức hạnh. Im lặng, t́nh yêu và cái đẹp cùng cư trú với nhau và cùng biến người yêu thành một thần tượng để linh hồn có thể thờ phụng và tâm hồn có thể qú gối nguyện cầu trước nó.

C̣n về hôn nhân, Gibran cũng đưa ra nhiều cái nh́n thấu suốt rất thú vị và đáng quan tâm không kém. Ông nỗ lực giải phóng hôn nhân khỏi cái bị ông gọi là lề luật do con người làm ra dù nó có tính dân sự hay tính tôn giáo. Đối với Gibran, lịch sử của con người là sinh ra, kết hôn và chết. Hôn nhân là cực điểm của t́nh yêu trong thế giới này. Hôn nhân là hoặc chết hoặc sống, không có lơ lửng ở giữa. Gibran so sánh đôi phối ngẫu trong cuộc kết hôn với những sợi dây trong cây đàn: dù mỗi sợi nằm riêng nhưng cùng rung chung một điệu nhạc.

Gibran xem hôn nhân là thiêng liêng và rằng bất cứ lề luật nào do con người làm ra mà gây nhiễu cho nó là sỉ nhục tính chất thiêng liêng của nó. T́nh yêu chân chính là sự hiệp nhất của hai tâm hồn, không nên có kẻ trung gian hoặc mai mối nào can thiệp vào. Hễ khi nào có nhiễu loạn, Gibran cho đôi bên được hoàn toàn tự do li dị, để t́m kiếm kẻ linh hồn ḿnh khao khát. Trong nhiều câu truyện, Gibran công kích các cuộc hôn nhân giả dối, gọi chúng là hỏa ngục giữa cuộc đời. Câu chuyện về Phu nhân Rose-Al Hani trong Linh hồn nổi loạn, kẻ bỏ người chồng áp đặt của nàng cùng với tài sản và sự giàu sang của hắn để đến sống nghèo khó với người nàng yêu, là nhân vật độc đáo trong nhiều câu truyện được Gibran tường thuật nhằm minh họa cho triết lư của ông.

Gibran đúc kết bằng cách nói rằng phụ nữ ấy quyết định rời bỏ người đàn ông sau khi đă vượt qua sự mông muôi của nàng để thấy ḿnh đang sống chung với kẻ ḿnh không yêu dù hắn có khả năng tuôn như mưa vàng bạc và châu báu lên nàng, điều đó có nghĩa rằng đă không hiện hữu một t́nh yêu chân chính và không cách ǵ tinh thần của nàng được toại nguyện với rượu thiêng liêng được Thượng đế khiến cho tuôn trào từ đôi mắt của một người nam và tâm hồn của một người nữ.

Triết lư tổng thể của Gibran về t́nh yêu và hôn nhân có thể gây bối rối và làm xáo lộn những độc giả có niềm tin tôn giáo sâu xa v́ ông từ khước lề luật hôn nhân của Giáo hội Công giáo. Nhưng chúng ta hăy trấn an họ rằng dù quan điểm của Gibran không chính thống trong mọi khía cạnh của nó, giáo dân cũng như giáo sĩ có thể học được nhiều điều từ nơi ông về bản chất con người và các vấn đề nghiêm trọng do những cuộc hôn nhân không có t́nh yêu chân chính và mang tính khế ước gây ra./.

 

_______________________________________________________

 

Ghi chú:

* David. Vị vua thứ hai và minh quân của Do Thái, thân phụ của vua Solomon. Ôâng xuất thân mục đồng, đàn giỏi hát hay. Cai trị khoàng thế kỷ 19 trước C.N, ông được qui cho là tác giả các Thánh vịnh cổ đại, làm thành một cuốn trong Kinh thánh Cựu ước.

* Thân mẫu của Gibran là con gái của một linh mục Giáo phái Công giáo Maronite, nên bà có học và biết nhiều kinh truyện trong thời buổi các thiếu nữ Trung Đông thương chỉ có khả năng biết đọc biết viết v́ không được theo học dài ngaỳ trong nhà trường.

* Selma Karamy. Xem Găy cánh uyên ương.

* Tính đến nay, tôi đă dịch xong toàn bộ tác phẩm của Kahlil Gibran được viết bằng tiếng Anh hay dịch từ tiếng A Rập sang tiếng Anh. Tất cả được tôi sắp xếp san thành 27 cuốn (23 cuốn tiểu tập & 4 cuốn toàn tập), xin để tùy duyên mà lần lượt phổ biến trên các trang web cùng in thành sách tại Việt Nam.

* Để biết thêm về cuộc đời và tư tưởng của Kahlil Gibran, có thể t́m đọc cuốn, “Kahlin Gibran, ngọn lửa vĩnh cửu” , Nxb Văn hóa Sàig̣n, năm 2009, do Đỗ Tư Nghĩa dịch toàn văn từ cuốn tiểu sử về K. Gibran This Man from Lebanon (Người này đến từ Liban) của Barbara Young, một nữ tác giả rất thân thiết suốt bảy năm cuối đời của Gibran. Cuốn này xuất bản năm 1945 tại Hoa Kỳ, nxb Alfred A. Knopf. Bản dịch của Đỗ Tư Nghĩa rất lưu loát, trung thực và thi vị kèm thêm một số b́nh chú kỹ lưỡng về tôn giáo và triết học của người dịch vốn là thi sĩ và giáo sư triết ở Đà Lạt.

  

 

Trang Nguyễn Ước

 

art2all.net