Ninh Giang Thu Cúc
 

ĐỌC

“HỒI ỨC VỀ CHA TÔI-ƯNG B̀NH THÚC GIẠ THỊ”

(Của Tôn Nữ Hỷ Khương)

 


 

So với tập “Hồi ức về cha tôi - Ưng B́nh Thúc Gia Thị” của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương xuất bản năm 1996 th́ tập tái bản năm 2002 phong phú hơn từ h́nh thức đến nội dung, trước tiên về mảng hồi ức tập in 1996 có 37 mẩu chuyện th́ lần tái bản vào năm 2002 có đến 43 mẩu chuyện qua trí nhớ của tác giả Hỷ Khương. Phần bổ sung cũng dồi dào phong phú hơn với phần tiểu sử của nữ sĩ Mộng Tuyết như bản in lần đầu, nếu bản in lần đầu chỉ có bốn bức thi họa và thủy tự th́ tập này nghệ sĩ Vũ Hối đă “Tay tiên gió táp mưa sa” phóng bút đến mười bốn bức, h́nh ảnh các buổi sinh hoạt về thơ ca của cụ được làm phụ bản rất đa dạng, nhiều bài viết, nhiều tham luận của các nhà văn nhà báo, nhà giáo nhà thơ – tên tuổi tiêu biểu như tham luận của nữ sĩ Mộng Tuyết, bài viết của giáo sư Phan Thế Roanh, giáo sư Bửu Cầm,… Với 12 bài viết công phu, nghiên cứu kỹ lưỡng đă làm cho tập hồi ức tái bản lần một được nâng cao giá trị về nội dung. H́nh thức, khuôn khổ cũng mới hơn, b́a một mang tính ẩn dụ khá cao qua nét vẽ của cố họa sĩ Bửu Chỉ.

Qua “Hồi ức về cha tôi – Ưng B́nh Thúc Gia Thị”, nữ sĩ Hỷ Khương đă tái hiện lại nếp sống, nếp sinh hoạt thanh cao, hào hoa của một nhà văn hóa lớn, một nghệ sĩ lớn sống chan ḥa trong t́nh thơ, t́nh bạn, nếp sống của một vị hưu quan đă sớm xa ṿng cương tỏa bằng ư niệm tri túc:

“Biết đủ dầu không chi cũng đủ

Nên lui đă có dịp thời lui”

Với tấm ḷng thương yêu dành cho mọi người, từ một bác làm vườn lam lũ đến những em bé bán hàng rong, đến chị bán chè bán cháo, đến mọi vật từ cái ngơ, cái nhà, mọi loài từ con chó, con gà, con ếch, con sâu, ai ai cũng được đối xử chân t́nh, cụ không tham phú phụ bần, không phân biệt người hèn kẻ quư, đó là ǵ – đó là hạnh nguyên của bồ tát Thường Bất Khinh, là đạo đức của một phật gia.

Đi theo hồi ức của tác giả Hỷ Khương, trước mắt chúng ta hiện ra một con người mà suốt đời không biết khom lưng để đội trên đạp dưới, mưu cầu ấm tử vinh thê, bạc vàng ngất ngưởng mặc dân đen con đỏ đói rách lầm than, một vị đại thần thất phẩm với ba mươi năm hoạn lộ lúc lui về trí sĩ, tài sản độc nhất là một ngôi nhà ba căn hai chái mà vẫn tự tại ung dung:

“Đ́nh hưu vách mảy lại ngâm nga”

Một con người mà xem phẩm hàm chức tước chỉ là :

“Hàng ghế dịch lên năm bảy tấc

Thẻ bài thêm lớn một vài ly”

Quan trường đối với bậc hiền giả này chỉ là chuyện đóng kịch trên sân khấu, mà sân khấu quan trường cũng có nhiều loại diễn viên, cụ không phải là diễn viên “hoạt náo” bởi:

“Thuở ra sân khấu không làm rộn

Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi”

V́ không làm rộn, không mọt nước sâu dân, không bị ám ảnh lo sợ cái tội: “cướp ngày là quan” nên lăo vương tôn thi bá rất bằng ḷng, rất sung sướng khi rũ áo từ quan:

Mừng đến bến ba mươi năm bể hoạn

Lái con thuyền lèo lạc hăy c̣n nguyên

Ngoắc ông câu cậy gởi con thuyền

Ôm sách cũ lại theo miền núi cũ

Biết đủ dầu không chi cũng đủ

Nên lui đă có dịp thời lui

Sẵn có đây phong nguyệt kho trời

Câu hành lạc cập thời ta chớ trễ

Có lầu Ngạc liên huy, có đ́nh lai vũ thể

Hội Kỳ Anh thêm lắm vẻ phong tao

Thỏa ḷng rày ước mai ao.

Lui về Chu Hương Viên vui câu tuế nguyệt ôm túi thơ bầu rượu đăi khách tri âm khai mở tao đàn thi ca ngâm vịnh cùng bốn cơi bạn hiền thế là “thỏa ḷng rày ước mai ao”.

Trong ḍng hồi ức găy gọn của Hỷ Khương về cụ Ưng B́nh người đọc thấy mẩu chuyện nào cũng có tác dụng giáo dục lớp hậu sinh trong nhiều lĩnh vực, lối giáo dục không nặng phần rao giảng giáo điều mà là những hành xử trực tiếp nhẹ nhàng sâu sắc về ḷng nhân ái, về sự độ lượng bao dung, về cách đối nhân xử thế của cụ với phương châm nhớ ân đừng nhớ oán…

Dưới triều đại quân chủ phong kiến nhà Nguyễn, có một bộ phận dân chúng tại Huế cứ đinh ninh rằng các “Mụ” các “Mệ” hoàng thân quốc thích và các gia đ́nh quan lại được hưởng thụ no nê bổng lộc của triều đ́nh nên ăn uống toàn cao lương mỹ vị, tất nhiên là có, nhưng chỉ một số thôi, c̣n lại nhà nào cũng sống căn cơ cần kiệm, trong nguồn thu khiêm tốn, các bà mẹ trong những gia đ́nh ấy luôn chắt chiu thu vén cái chi dùng, ăn bận hằng ngày, cái để dành cho ngày sóc vọng, cái để đăi đằng khách khứa đồng liêu,…

Con cái trong nhà thường được dạy dỗ đức tính tiết kiệm bằng những lời ví von như: “Cứ tằn tiện thà chết bỏ c̣n hơn sống mà xách giỏ đi xin” hay câu cách ngôn “Lúa đầy căn (lẫm) ăn có lường áo đầy rương mặc có mớ”, đó là buổi b́nh thường thời cuộc, c̣n gặp khi thiên tai dịch họa mất mùa th́ hoàng thân hay bá tánh, quan lại hay thường dân đều sắn khoai trừ bữa.

Sở dĩ tôi phải dài ḍng một đoạn như trên là v́ có một số bạn đọc khi xem đến mẩu chuyện Thầy Khóa Thâm trong hồi ức của nữ sĩ Hỷ Khương đă cười và bảo tác giả là bi thảm hóa gia cảnh chứ nhà hoàng thân quan quyền làm ǵ mà ăn khoai sắn thay cơm, trời ạ, có nhiều sự thật mà chẳng ai chịu tin, nhưng Huế là vậy đó, kiêu sa đài các thế đấy và cũng nghèo thế đấy, nhưng chưa ai là người Huế mà không tự hào khi nhớ đến câu: “Đói cho sạch rách cho thơm”, hay “Giấy rách phải giữ lấy lề” của các bà mẹ Huế dạy con.

Người đọc hồi ức của Hỷ Khương cũng từng ngạc nhiên là sao một vị hưu quan thanh bạch, không vàng thoi bạc nén không ruộng sâu trâu nái chỉ có mấy đồng lương hưu trí cho cả gia đ́nh mà sao lúc nào cũng phong lưu, trà dư tửu hậu chén tạc chén thù, Chu Hương Viên lúc nào cũng yến tiệc ca ngâm khách xa khách gần tới lui nườm nượp… Vậy ngân khoản dựa vào đâu?

Chao ôi! Nếu quư vị biết Huế có chủ trương từ xưa là nhịn miệng đăi khách th́ chẳng ngạc nhiên chút nào! Niềm hạnh phúc của những người phụ nữ Huế là chỗ đó, là biết hy sinh cho niềm vui của chồng con, là phải biết chắt chiu thu vén, nảy mực cầm cân, tảo tần xoay xở sao cho trong, ngoài êm đẹp nở nang mày mặt chồng con… đó là đức tính của mọi tầng lớp phụ nữ Huế, cái đức chịu thương chịu khó của phụ nữ Huế nói chung, và của các phu nhân trong Chu Hương Viên đă được cụ Ưng B́nh ngợi khen và tỏ ḷng biết ơn một cách kín đáo, một lời thâm tạ ân t́nh qua bài thơ thác lời vợ một ông quan về hưu:

Mấy chục năm thừa khéo uổng công

Vô duyên gặp phải cái ông chồng

Khoa danh có sẵn, quan quyền có

Của cải không ǵ ruộng đất không

Dăi chữ thường ôm ba quyển sách

Yêu hoa lại rảo mấy bồn bông

Bạc hưu tháng lănh xài đâu hết

Thiếp hỏi khôn lưa lấy một đồng

Cái dại ngàn đời của phụ nữ là khổ cực mấy cũng chịu đựng được, miễn người bạn đời biết cho chút công lao và chia xẻ bất kỳ bằng h́nh thức ǵ… là họ sẵn sàng:

“Lặn lội thân c̣ khi quăng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đầu đông”

(Tú Xương)

Cái khôn ngàn đời của quư ông là biết “khen” biết “nịnh” đúng lúc, mà mấy ông cụ nhà thơ th́ cách khen của họ cao thủ lắm, tự mắng mỏ bản thân ḿnh để nói lên công lao của vợ, khiếp thật! Chúng ta đọc tiếp hai khổ thơ tứ tuyệt của cụ Ưng B́nh trong mẩu hồi ức của Hỷ Khương:

“Vách mảy ngồi trên đống bạc tiền

Chồng không nên chị sướng như tiên

Chồng em đọc sách ngâm thơ măi

Như dại như ngây ngó dễ phiền

Em giận chồng em lắm chị ơi

Giậm chân em cũng muốn kêu trời

Bảo đừng đọc sách ngâm thơ nữa

Va cứ lơ lơ lại mỉm cười”

“Va cứ lơ lơ lại mỉm cười”, câu thơ mà lớp hậu sinh đọc lên là muốn cười x̣a khi tưởng tượng ra cái cảnh “lơ lơ lại mỉm cười” của ông cụ mới dễ thương và hóm hỉnh làm sao!...

Dọc theo 43 mẩu hồi ức của nữ sĩ Hỷ Khương – khi người đọc gặp một người thơ cực kỳ lăng mạn đề huề phong nguyệt bầu rượu túi thơ.

“Rượu có mùi hương nên uống măi

Thơ là thuốc bổ cứ ngâm chơi”

Khi lăng đăng với giọng ḥ tiếng hát trong trẻo của các nàng ca nữ trong Tỳ Bà Viện, khi đàm đạo t́nh thơ ư nhạc cùng người bạn vong niên – nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba tại Tỳ Bà trang thơ mộng, ḷng quư mến của người thơ phong vận Ưng B́nh dành cho nhạc sư đă được thể hiện qua câu ḥ cụ đặt:

“Con chim hoàng oanh đậu cành dương liễu

Con chim hoàng điểu đậu nhánh mai hoa

Giữa Xuân kinh có Viện Tỳ Bà

Nhạc sư có Nguyễn Hữu Ba nước ḿnh”

Trong mọi thể loại sáng tác của cụ Ưng B́nh đều thể hiện phong cách khi dân gian đại chúng khi bác học hàn lâm v́ vậy tầng lớp độc giả nào cũng dễ tiếp nhận, cảm thụ…

Nhiều mẩu chuyện khiến người đọc cảm động đến chảy nước mắt bởi ḷng nhân ái của cụ, có nhiều chuyện thích thú bởi chất đa cảm nghệ sĩ của một lăo vương tôn:

“Tội nghiệp cho con bươm bướm bà

Quanh ṿng cứ măi liệng theo ta

Huê râm mái tóc cḥm râu bạc

Nó ngỡ cành lau, ngỡ đóa hoa?”

Một chuyện lư thú hơn trong một đời người, trong một đời thơ của Người thơ hào sảng, người nghệ sĩ rất mực tài hoa, người con ưu tú của miền đất kinh kỳ Hương Ngự đó là cái lễ điếu sống mà các bằng hữu, các bạn thơ trong Hương B́nh Thi Xă đă làm cho cụ vào năm nhà thơ vào tuổi bảy lăm (75). Lễ sanh điếu của cụ Ưng B́nh là dịp để bạn thơ xa gần gặp gỡ nhau, và cùng nhau viết những bài thơ tâm huyết, những bài văn tế chân t́nh để tạng người thơ vương tôn mà họ mến yêu quư trọng và ước mong cụ được sống lâu bởi:

“Hoàng gia nguyên lăo c̣n không mấy…”

Có lẽ đó là niềm vui lớn niềm hạnh phúc lớn của cụ, niềm sung sướng khiến cụ cảm xúc hạ bút:

Xuân Phong vô dạng

Ḿnh, c̣n đây mà liễn điếu bạn đi đây

Xanh xanh, đỏ đỏ chưng đầy

Hàng nhật có, hàng Âu, Tây cũng có

Ngâm luận ngôn ngôn giai cẩm tú

Ca trù tự tự tẩn châu kỳ

Thiệt chết cũng e khi mừng sống lại

Huống thử bạch đầu xuân tự tại

Bảy mươi lăm xuân hăy c̣n xuân

Ngơ lời tạ đấng văn nhân

Nhiều nguồn vui từ gia đ́nh họ tộc bạn bầu là liều thuốc bổ, mà liều thuốc bổ quan trọng có hiệu lực duy tŕ tuổi thọ là thơ ca.

Sau lễ sanh điếu mười năm (1951 – 1961) cụ bị lâm bệnh, bị “Viên đá ba sinh chận giữa đường”, đó là sỏi bàng quang, đă được gia đ́nh chăm nuôi cẩn thận bằng hữu thăm viếng thường xuyên, nhưng với tấm thân mảnh khảnh sức đề kháng có là bao ở tuổi tám mươi lăm (85).

Vào đầu ngày vía đức Quán Thế Âm (19/2 năm Tân Sửu) nhà văn hóa lớn, vị hưu quan thanh bạch, một vương tôn của hoàng gia Nguyễn Phước đă nhẹ nhàng phất áo giă biệt trần gian, giă biệt gia đ́nh, bầu bạn, giă biệt cô con gái út cưng yêu để về miền thiên cổ, nhưng điều đó không phải là dấu chấm hết cuộc đời cụ Ưng B́nh Thúc Gia Thị, bởi:

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử

Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh".

 

Ninh Giang Thu Cúc


 

Trang Ninh Giang Thu Cúc

art2all.net