Ninh
Giang Thu Cúc
Sư Bà DIỆU KHÔNG ( 1905 - 1997 )

Thế danh: Hồ Thị Hạnh
Tên thân mật: Cô Tám
Pháp danh: Trừng Hảo
Pháp hiệu: Diệu Không
Năm sinh: 1905 tại Huế
Quê quán: làng An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên Huế
Giáo phẩm: Đại lăo Ni Ḥa Thượng
PHẦN TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG
Cho phép người biên soạn nói qua một chút: tiền thân của sư bà Diệu Không: -
chắc là một ngôi sao văn khúc được đầu thai vào gia đ́nh vị nhất phẩm đại thần
qua các giai đoạn hưng phế của Nguyễn triều. Đó là, Thượng thư bộ Học kiêm Bộ Lễ
Hồ Đắc Trung, sau này khi tiểu thư Hồ Thị Chỉ được vua Khải Định nạp phi th́
Thượng thư Hồ Đắc Trung mới được tấn phong là Quận công Quốc Trượng (nhạc phụ
vua Khải Định).
Là con gái út của vị quan đầu triều cùng phu nhân Châu Thị
Lương. Cô Hạnh được sống trong t́nh yêu thương của song thân và hai bà chị gái,
một bà là phu nhân của hoàng thân Ưng Úy - mẹ của nhà bác học nguyên tử Bửu Hội,
sau này là sư bà Diệu Huệ (tiểu thư Hồ Thị Huyên). Một người chị thứ hai là tiểu thư Hồ Thị Chỉ, bà hoàng phi
sầu muộn của vua Khải Định.
Nh́n chân dung của tiểu thư Hồ Thị Hạnh, hẳn không ai không cảm mến dung nghi
nhu ḿ diễm lệ và nét nhân ái, trí tuệ tỏa sáng, nét tài hoa trên toàn gương mặt
mỹ miều. Nhưng quan niệm nhân sinh của cô tiểu thư này lại khác với bao khách
hồng quần (là yên vị thụ hưởng những đặc ân đặc lợi mà cuộc đời đă hào phóng ban
tặng)
Thiên hướng sống cho mọi người đă có sẵn trong trái tim đa cảm, trong phong cách
sống của một cô gái đoan trang, nết hạnh, được học hành và giáo dục đến nơi đến
chốn. Cô biết cảm thông và chia sẻ nỗi bất hạnh của bao cuộc đời chung quanh
bằng hành động thiết thực xẻ áo nhường cơm, những việc làm ấy là tiền đề cho sự
xuất gia cầu đạo xiễn dương chánh pháp của đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni sau này -
để từ một tiểu thư trở thành nữ tu Diệu Không.
Thời son giá cô đă có dịp theo phụ thân đi dự hội chợ ở Phnôm Pênh, trong phái
đoàn đi dự hội chợ triển lăm do cụ Thượng thư Hồ Đắc Trung lựa chọn ấy có một
gương mặt, một tên tuổi mà như định mệnh đă an bài cho cô gặp một chướng duyên
(chướng duyên hiểu theo thuật ngữ Phật học) bắt đầu cho bước đường hành đạo từ
bi ban vui cứu khổ.)
Thượng tá Cao Xuân Xang, thuộc Cơ mật viện là bạn đồng liêu vong niên của cụ
Thượng Trung và là thành viên trong phái đoàn đi Cao Mên vào năm 1929, trong
cuộc du hành quan san diệu vợi ấy, có những lúc dừng chân nghỉ ngơi; và các bậc
tri thức quan trường lại có dịp bàn đến quốc gia đại sự, đến sự xâm lược của
thực dân Pháp. Trong các buổi cao đàm khoát luận ấy, cô tiểu thư lá ngọc cành
vàng Hồ Thị Hạnh với tư tưởng cầu tiến, xin phụ thân cho tham dự và tham gia bàn
luận. Bằng lối chính luận hùng hồn, bằng tấm ḷng yêu nước của một công dân, cô
đă làm cho các đấng mày râu nể phục. Riêng quan Thượng tá Cao Xuân Xang đă nh́n
cô với ánh mắt quư trọng.
Cao Xuân Xang vốn xuất thân từ một gia đ́nh khoa bảng, là con trai của Đông các
học sĩ Cao Xuân Dục. Ông có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, nên tuy làm quan
nhưng cảnh nhà thanh bạch gieo neo, góa vợ sớm, ông phải làm thân gà trống nuôi
sáu (6) đứa con, nhưng không v́ vậy mà xao lăng bổn phận với dân với nước, xuất
xử phân minh.
Sau vài lần bàn luận, và sau vài lần qua mọi người, cô tiểu khuê các này hiểu
được gia cảnh đơn chiếc của quan Thượng tá. Cô suy nghĩ và đi đến quyết định là
xin phép song thân được kết hôn cùng ông quan góa vợ và đang mang trong cơ thể
hàng tỉ con vi trùng lao (cook) ở giai đoạn thập tử nhất sinh. Ở thời đại đó với
đất nước Việt Nam này, tây học c̣n phôi thai và dân ta c̣n mang nặng định kiến
“Phong lao cổ lại tứ chứng nan y” th́ quyết định của vị thiên kim tiểu thư này
là một quả bom nguyên tử nổ giữa gia đ́nh Thượng thư Hồ Đắc Trung và gia tộc…
Sau nhiều lần dỗ dành phân phô điều hơn lẽ thiệt, tất nhiên có cả giận dỗi la
rầy nhưng vẫn không lay chuyển, không đổi thay lời yêu cầu và quyết định sắt đá
của con gái, ông bà Thượng thư đành thúc thủ đầu hàng với lời tự an ủi mang chút
chua chát khôi hài. Thôi, con muốn là trời muốn… (đây là suy diễn của người biên
soạn).
Và chuyện ǵ xảy ra - đó là một đám cưới đầy đủ nghi thức và nghi lễ của đất Đế
Đô với cau lồng rượu ché, với lọng tía tàng vàng, rượu nồng pháo đỏ đưa nàng về
dinh thất quan Thượng tá Cao Xuân Xang để lên ngôi kế thất, và kế mẫu của 6 đứa
con côi cút đang chờ bàn tay tế độ của bà mẹ kế, của bồ tát Quan âm cảm ứng tùy
thời hiện…
Qua (11) mười một tháng lửa hương (chẳng hiểu có mặn nồng không?) th́ quan
Thượng tá Cao Xuân Xang vĩnh biệt người vợ trẻ với đứa con măng sữa và sáu đứa
con riêng để về ḷng đất lạnh. Đứa con đầu của bà quả phụ Cao Xuân Xang được cha
đặt tên là Cao Xuân Chuân.
Vào những năm thuộc thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Ông Cao Xuân Chuân là Tiến sĩ
Nguyên tử học đồng nghiệp với người anh con d́ (sư bà Diệu Huệ) là giáo sư Bửu
Hội.
Với hai mươi lăm tuổi đời đă thành quả phụ một nách bảy con, chao ôi! Nỗi đoạn
trường làm sao kể xiết, nhưng với nghị lực, đức kiên cường quả cảm, cộng với
phẩm chất chịu thương chịu khó của phụ nữ đă giúp bà lèo lái gia đ́nh mẹ góa con
côi xuôi chèo mát mái. Người đàn bà đức hạnh ấy làm tṛn bổn phận thờ chồng nuôi
con, nỗi niềm hương khói đều gởi vào vần điệu mỗi khi ngồi bên ngôi nhà vĩnh cửu
của người chồng vắn số:
Đắp điếm cho nhau chút gọi là
Hẳn người thanh khí thấu cho ta
Bơ vơ trước núi chim t́m tổ
Ngơ ngẩn bên ḿnh trẻ gọi cha
Cây cỏ như cười người mệnh bạc
Non sông nào phụ kẻ tài hoa
Muốn lên nắm thử quyền ông Tạo
Th́ biển trầm luân lấp phẳng qua
(Thăm mộ - thơ Diệu Không)
Đạo hạnh đă ươm mầm trong A Lại Da thức. Ruộng phước đă được cấy cày - song song
với việc tề gia nội trợ dạy con đèn sách, bà bước vào hoạt động Phật sự đầu tiên
với “An Nam Phật học hội” mà hội trưởng là Bác sĩ Tâm Minh Lê Đ́nh Thám.
Con đường của vị chân tu đạo hạnh cứ thế tiếp tục từ tại gia cư sĩ, ngũ giới tam
quy, đến xuất gia thành nữ tu nâu ṣng đạm bạc, rồi tiến lên bậc giáo phẩm uy
nghi đa đoan Phật sự, đào tạo ni chúng, xây dựng già lam đóng góp tài nguyên vật
lực cùng các đồng đạo, pháp đệ pháp huynh, thành lập Viện đại học Vạn Hạnh để có
nơi chốn đào tạo nhân tài tăng chúng phụng sự đạo pháp, đồng thời với những hoạt
động nhập thế để nâng cao giá trị nữ giới ngoài xă hội, như cùng phu nhân Ưng Úy
và hoàng phi Hồ Thị Chỉ mở mang tiểu thủ công nghệ hàng nội hóa năm 1932 với tâm
niệm:
Nữ công sáng lập tại Thừa Thiên
Kinh tế nâng cao bước nữ quyền
Gánh vác giang sơn thân gái Việt
Duy tŕ ṇi giống đất Rồng Tiên.
(Thơ Diệu Không)
Tuy hoạt động Phật sự không ngừng nghỉ với các chức trách:
1. Đại diện hội An Nam Phật học
2. Ủy viên Hội đồng trị sự Hội Phật giáo Việt Nam
3. Ủy viên Thường trực ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế
Bà vẫn dành nhiều th́ giờ cho công việc sáng tác, và có nhiều tác phẩm giá trị
như: Khuyến tu (thơ), Giáo dục phụ nữ (văn), Câu chuyện đạo lư
(văn), Diệu Không thi lục… cùng nhiều tác phẩm dịch từ chữ Hán như:
Thành duy thức luận, Hiển Phật luận…
Năm 1952 Người đă cùng với Pháp huynh Trừng Nguyên Thích Đôn Hậu sáng lập nhà in
Liên Hoa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ấn hành kinh sách và báo chí của Phật
giáo. Liên Hoa Nguyệt san cũng ra đời từ đấy do ngài Đôn Hậu làm chủ nhiệm và bà
làm quản lư kiêm biên tập viên cho tờ báo này. Đồng thời, bà cộng tác với các
báo Viên Âm, Giác Ngộ, Từ Quang… với ng̣i bút đa năng đa dạng, qua nhiều mảng từ
dịch thuật đến lư luận, văn xuôi, thơ. Đường luật là mảng thơ sở trường của nữ
sĩ Diệu Không.
Người nữ tu sĩ tinh thông này đă từng viết thư cho Tổng thống nước Pháp, là
Mandes France để yêu cầu Chính phủ Pháp chấm dứt chiến tranh Đông Dương trả đất
nước Việt Nam lại cho chủ quyền dân Việt vào năm 1954 trước khi chiến trận Điên
Biên Phủ kết thúc.
Về việc làm này trong bộ sách “Nữ sĩ Việt Nam cổ cận - hiện đại” soạn giả
Như Hiên đă b́nh luận: “Hành động sáng suốt hùng hồn trên chứng tỏ tấm ḷng
yêu nước thiết tha của nữ tu sĩ Diệu Không đáng khâm phục! Hẳn là bức thư của bà
vào thời điểm đó ít nhiều cũng đă gây tiếng vang cho nữ giới Việt Nam ra nước
ngoài? Phải chăng đây là một hạnh nguyện của ni sư nữ sĩ đă được thực thi? V́
chỉ ít lâu sau Hiệp định Geneve được kư kết giữa các đại diện bốn bên. Ai cũng
biết rằng, hội nghị này đă trải qua bao năm tháng bàn luận, soạn thảo với biện
pháp chia đôi đất nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17 để chấm dứt chiến tranh Đông
Dương. Cuối cùng th́ Hiệp ước Geneve được kư kết vào ngày 20.7.1954”.
(NSVNCCHĐ, trang 570, NHNNH)
Giai đoạn Phật giáo Thừa Thiên Huế bị chính quyền nhà Ngô đàn áp (1963) các hàng
giáo phẩm đă t́m mọi đối sách để bảo vệ sự tự do tín ngưỡng của phật tử, và ngăn
chặn mọi hành động phá hoại tự viện chùa chiền của chế độ đôc tài này. Ni sư
Diệu Không được cử làm đại diện vào Sài G̣n thương thuyết cùng Ngô triều, cuộc
thương thuyết không đạt kết quả, bà quyết định tự thiêu nhục thân để cúng dường
Tam Bảo, để nói lên sự phản đối chế độ độc tài, thức tỉnh lương tâm của những
con người không có lương tri, và yêu cầu chính quyền Ngô Đ́nh Diệm giải quyết
thỏa đáng năm nguyện vọng của Phật giáo đồ.
Để giữ sự sống mang lại nhiều lợi ích cho đạo pháp ở giai đoạn lửa bỏng dầu sôi
này, mà ni sư Diệu Không là linh hồn của ni chúng, của toàn thể tín nữ tại gia,
của phong trào tranh đấu, nên tăng sĩ Thích Quảng Đức đă xin thay thế bà Diệu
Không để tự thân thắp lên ngọn đuốc kêu gọi sự tự do b́nh đẳng tôn giáo vào ngày
11.6.1963 tại ngă sáu Sài G̣n.
Cuộc tự thiêu của ngài Thích Quảng Đức thành công viên măn trước bao lực lượng
đàn áp của xe ṿi rồng, lựu đạn cay… nhục thân của vị tu sĩ đă thành tro bón
tưới cho niềm hy vọng xanh màu chánh tín của toàn dân tộc, toàn thể Phật giáo
đồ, nhưng điểm chói ngời của vị thánh tử đạo là một trái tim, trái tim nguyên
lành tươi rói đă hóa thành khối kim cương bất tử của ngài, của vị Bồ tát, đă làm
chấn động dư luận thế giới, sự xúc động tột đỉnh của toàn dân miền Nam nước Việt
lúc bấy giờ. Chí thành thông thánh - sự chí thành trong hạnh nguyện của Bồ Tát
Thích Quảng Đức đă được mười phương chư Phật gia tŕ…
Trong không khí căng thẳng giữa chính quyền và tôn giáo, những bậc cao tăng thạc
đức đă sát cánh kề vai để ǵn giữ ngôi nhà Như Lai. Bằng mọi biện pháp, 2 vị ni
sư là bà Diệu Không và Diệu Huệ đă tổ chức nhiều cuộc họp báo để nói lên tiếng
nói của kẻ tay không đă bị xe tăng lựu đạn lưỡi lê đàn áp và tiêu diệt. Giáo sư
Bửu Hội, con trai của ni sư Diệu Huệ và cháu gọi bà Diệu Không bằng d́ ruột đă
nhiều lần lo lắng cho sự an nguy của mẹ và d́, trước sự can trường dũng cảm
không chùn bước bởi họng súng và nhà tù để bảo vệ chánh pháp…
Sự can thiệp để được ra khỏi nhà tù trong một lần ni sư Diệu Không bị bắt giam
của giáo sư Bửu Hội (lúc đó giáo sư Bửu Hội đang hợp tác cùng chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm) đă làm bà Diệu Không phật ư và bà Diệu Huệ cho là giáo sư Bửu Hội đă
đi ngược lại nguyện vọng của Phật giáo đồ, của mẹ và d́ - nghĩa là giáo sư đứng
về phía đối phương…
Những năm Pháp nạn bao nhiêu tăng ni, phật tử bắt bớ giam cầm, tù đày, tra khảo.
Ni sư Diệu Không đă từng cùng pháp lữ chịu điều đau đớn, nhưng với ḷng kiên
định của một Như Lai sứ giả bà xem chuyện ấy chẳng là ǵ, nếu có chỉ là một kỷ
niệm lao tù.
Cùng cảnh tăng ni bị bắt giam
Bao ngày đói rét thảy đều cam
Một ḷng vị pháp thân nào tiếc
Vạn kiếp theo thầy lợi chẳng tham
Sống chết phù du trường đại mộng
Nhục vinh huyễn hóa cảnh già lam
Chịu nhiều oan trái càng sanh phước
Lịch sử ghi thêm nét thánh phàm.
(Thơ Diệu Không - 1963)
Dọc dài theo hành trạng của một ni sư trên lộ tŕnh vị pháp quên thân, xiễn
dương giáo pháp ban vui cứu khổ của đấng cha lành, tấm thân ngũ uẩn đă dần dần
bị luật đào thải của thời gian chi phối, không c̣n ngược xuôi vạn lư để làm bao
việc lợi đạo ích đời. Bà quay về ngôi chùa Hồng Ân là công tŕnh xây dựng đầu
tiên trong Phật sự của bà để làm chức sự trụ tŕ dạy dỗ ni chúng ở đây và đóng
góp tịnh tài tịnh vật cho các cơ sở cô nhi…
Những năm cuối thập kỷ bảy mươi (1978) của thế kỷ XX, bà thường đau yếu, pháp
thể bất an. Có một lần đại chúng trong ni tự đă tưởng Người thu thần thị tịch.
Mọi người đang vây quanh thiền sàng hộ niệm văng sanh, cố nén ḷng không làm
kinh động, nước mắt chảy quanh mi khi nh́n sư phụ, sư tổ đă ngừng hô hấp. Thế
nhưng trong hàng ni chúng nhỏ tuổi có ai đó đă không kiềm được và cất tiếng khóc
to… Và lạ chưa sư bà bỗng dưng mở mắt tỉnh táo, nhịp tim trở lại b́nh thường,
đại chúng kinh ngạc bàng hoàng và vui mừng khôn xiết. Từ đó bà mạnh dần sau sự
tái sinh kỳ diệu, tiếp tục lănh đạo ni chúng phụng sự Phật Pháp thêm 19 năm nữa
mới an nhiên thị tịch ở tuổi 92 vào ngày 22.8 năm Đinh Sửu (23.9.1997).
Với 53 hạ lạp bậc nữ lưu tu sĩ này đă hành đạo độ đời không một ngày ngừng nghỉ,
đă đào tạo bao thế hệ ni chúng tiếp tục kế thừa sự nghiệp trên đền bốn ơn nặng
dưới cứu khổ tam đồ của sư phụ Diệu Không, một trong những học tṛ xuất sắc của
Người là ni sư Trí Hải.
Nhục thân bà được an trí trong bảo tháp cạnh chùa Hồng Ân, gần đó là ngôi mộ
song tán của cố Thượng thư Hồ Đắc Trung cùng phu nhân Châu Thị… trong không gian
u nhă thấm đẫm đạo vị.
Quê hương Thừa Thiên Huế rất tự hào đă sản sinh một cô con gái trinh nguyên đă
v́ nghĩa cả, hy sinh cho hạnh phúc của bao người mà hành động phi thường là cầu
hôn một người đàn ông góa vợ, bịnh hoạn ngặt nghèo…
Phật giáo Thừa Thiên Huế phước lượng không thể nghĩ bàn, khi đào tạo nên một
thích tử lương đống đầu đàn trang nghiêm giới luật, để tiếp dẫn hậu lai, kế thừa
mạng mạch - mà tiếng thơm c̣n vọng thiên thu.
Văn học Phật giáo Thừa Thiên Huế hạnh lạc biết bao bởi có một nhà báo, một nhà
thơ thông tuệ…
Và phụ nữ Thừa Thiên Huế qua bao thế hệ, hôm nay và mai sau từ hàng xuất thế,
đến chúng tôi những kẻ duyên mỏng nghiệp dày đang ngắc ngoải giữa ḍng đời hệ
lụy bỗng thật an lạc và giải thoát khi vọng nhớ đến sư bà Thích nữ Diệu Không.
PHẦN THƠ TIÊU BIỂU CỦA SƯ BÀ
Mộng xuất gia tu đạo
(Phiên âm)
Thác thân vương giả nữ h́nh hài
Ẩn tại vương cung ngọc điện giai
Sứ điệp gieo cầu tu sính lễ
Hữu như y lễ, thị duyên hài
Tấn nhất tràng châu nhất măo ni
Bồ đề bách bát sinh vi kỳ
Lam kiều định kiến giai nhân hội
Bạch mă lai nghinh tốc lực phi
Đáo sơn Bạch Mă hạ đơn quỳ
Thâm cảnh thi nhân độ thử ni
Thế phát ấn sơn an tịnh tọa
Nhập thâm thiền định kiến liên tŕ.
(Thơ Diệu Không)
Vịnh phong lan
Phong lan tạm sống giữa trần gian
Nhờ gió nuôi thân hoa nở tàn
Hương sắc giúp đời thêm vẻ đẹp
Ẩn trong rừng núi chẳng khoe khoang.
Vịnh trăng
Trăng treo lồng lộng giữa hư không
B́nh đẳng soi cùng vạn nẻo thông
Tự tánh có hư th́ có thật
Tịch mà thường chiếu khắp tây đông.
Hỏi trăng
Hôm kia trăng sáng cả rừng thông
Thử hỏi v́ sao nay lại không
Hay bởi cḥm mây làm chướng ngại
Khiến người trường dạ luống ngồi trông
Bóng trăng
Muốn biết trăng kia có với không
Thử xem đáy nước bóng trăng lồng
Gió ôm nước đứng trăng thường chiếu
Gió gợn thời trăng ắt khó trông
Nước giữa ḍng sâu trăng giữa không
Nước ngâm trong vắt bóng trăng lồng
Nước dù như động trăng không động
Nước lặng th́ trăng mới khá trông.
Ngày xuân tặng chị em phụ nữ
Ngày xuân hoa nở khắp nơi nơi
Hoa nở đương xuân đúng gặp thời
Ḱa sắc cẩm nhung tươi sáng đất
Mà hương đạo lư ngát đầy trời
Gốc cây phúc đức vun trồng măi
Ngành lá từ bi nảy nở hoài
Năm mới thân tâm thêm mới nữa
Mong sao phụ nữ trổ anh tài.
T́nh vô tận
T́nh vô tận là t́nh không hạn cuộc
T́nh đơn phương chẳng thuộc mối t́nh thường
Thương không cần vay trả mới là thương
Thương để được âm thầm trong trí tưởng
Thương tưởng tượng người thương trên án
An ủi ḿnh trong khổ hận vô biên
Người ấy là người tột định trung kiên
Không lay chuyển trước uy quyền nhân thế
Bỏ ngôi báu t́nh riêng đời dẹp lại
Mà trời t́nh vô ngại hướng muôn nơi
Hỡi người ai đau khổ bởi t́nh đời
Hăy quay lại với trời t́nh vô tận
Thương những kẻ khổ đau c̣n lận đận
An ủi người lẩn quẩn trong thương đau
V́ lầm mê phải chịu lắm âu sầu
Nương thuốc Phật nhiệm mầu mà an ủi
Bỏ cho hết nỗi niềm sầu tủi
Ta cùng người lầm lũi dắt nhau ra
Gỡ cho nhau nỗi khổ cảnh ta bà
Đường tịnh độ chỉ cho người ra khỏi
Làm phận sự cùng đời ta theo dơi
Dắt d́u nhau ra khỏi chốn lầm mê
Nỗi khổ đau thiên hạ quá ê chề
V́ không biết bờ mê là bến khổ
Thuyền bát nhă lại qua không bến đỗ
Với những người đau khổ giữa trần gian
Trải mắt xem trần thế quá phũ phàng
Ḷng se thắt quặn đau ngao ngán quá
Thương đứt ruột nói ra thêm bỡ ngỡ
Chỉ âm thầm tương trợ mối thương tâm
Làm sao cho thiên hạ bớt mê lầm
Về với Phật nhất tâm không tà vạy
Trọng tâm tịnh cảnh đời ta sẽ thấy
Cảnh huy hoàng ta nhận lấy trong tâm.
Tim tôi
Tôi khóc cho người lắm khổ đau
Tôi buồn cho kẻ măi u sầu
Tôi thương người trí chưa t́m đạo
Tôi giận người si măi cứng đầu
Tôi nguyện nhân dân đừng đói rét
Tôi mong thiên hạ măi sang giàu
Lời nguyền muôn kiếp không thay đổi
Xin Phật cho con vẹn trước sau.

Trang Ninh
Giang Thu Cúc
art2all.net