|
PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.
ĐỊA DANH THẢO MỘC
Địa danh cũng như tên người. Tên các thôn ấp, thành phố được đặt dựa theo: 1- Ước vọng của cư dân trú ngụ. Ước vọng đó có thể là ước vọng luân lư, đạo đức theo tinh thần Tam Giáo, ước muốn phồn vinh, thái b́nh để được an cư lạc nghiệp. Địa danh mang chữ H̉A, AN, B̀NH, PHÚ, THÁI (THỚI), PHƯỚC, LỘC, THỌ rất phổ biến ở Việt Nam. Sau cuộc nội chiến giữa họ Nguyễn và nhà Tây Sơn trong tỉnh Gia Định, hay nói rộng hơn ở Nam Kỳ, có nhiều địa danh mang chữ TÂN. 2- Cách đặt tên địa danh của Trung Hoa hay do Trung Hoa để lại sau hàng ngàn năm Bắc Thuộc trên đồng bằng sông Hồng và sông Mă, sông Cả và sông Chu, tức Bắc Bộ và các tỉnh miền bắc Trung Bộ bây giờ. Ở Trung Hoa có Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Trường An, Tây Hồ. Trên đồng bằng sông Hồng cũng có những địa danh tương tự. 3- Đặc điểm của địa điểm như cái vịnh, cái vũng, cái bến, mủi đất de ra ngoài biển, núi non, sông ng̣i, thung lủng, đèo, b́nh nguyên, đầm lầy, rừng, trảng, thảo mộc đặc thù tại địa phương v.v... Địa danh mang tên thảo mộc được t́m thấy rất nhiều trong nước, nhất là ở miền Nam với Rạch Bắp, Rạch Giá, Đám Lá Tối Trời, Bến Cỏ, Bến Củi, G̣ Vấp, Hóc Môn, Quán Tre, Xóm Thơm, Xóm Cây Xợp v.v… Những địa danh mang tên thảo mộc là những địa điểm nhỏ lấy thảo mộc đặc trưng ở địa phương làm chuẩn để chỉ đường cho dễ t́m. Dần dần số người cư trú tăng lên khiến cho địa điểm nhỏ trở thành một thành phố lớn đông dân cư như trường hợp Sài G̣n (Sài: củi, G̣n: cây g̣n), G̣ Vấp, Hốc Môn là một điển h́nh.
Sau nhiều bài
viết về địa danh và thảo mộc, bài viết nầy là bài sau cùng về chủ đề nầy với các
địa danh Cù Lao Ré, G̣ Gàng, Quế Sơn, Trà Mi, Hương Trà, B́m Sơn, Hoàng Liên
sơn.
Cù Lao Ré tức đảo Lư Sơn nằm ngoài khơi tỉnh Quảng Ngăi cách bờ biển lối 38km. Đó là một nhóm đảo gốc núi lửa với 13 đảo, trong đó chỉ có 9 đảo c̣n ngầm dưới biển và 4 đảo nổi trên mặt biển và có người cư trú. Cù Lao Ré hay đảo Lư Sơn trở thành quận Lư Sơn theo tổ chức hành chánh hiện hành. Bốn đảo gốc núi lửa của Cù Lao Ré rộng lối 10km2 trên tọa độ 15 độ bắc vĩ tuyến và 109 độ 12' đông kinh tuyến. Huyện Lư Sơn có 3 xă: An Vĩnh, An Hải, An B́nh. Sinh hoạt kinh tế của cư dân sống trên Cù Lao Ré là ngư nghiệp và nông nghiệp. Đất núi lửa trên cù lao rất màu mỡ. Cư dân trên đảo trồng tỏi rất tốt. Trong những năm gần đây ngư dân trên đảo Lư Sơn (Cù Lao Ré) luôn luôn bị tàu Trung Quốc chận bắt, tịch thâu cá, tàu và bắt phải trả tiền phạt khi đánh cá gần quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam Cộng Ḥa đă mất vào tay Trung Quốc đầu năm 1974.
Cây hột
ré là thảo đậu khấu Alpinia katsumadai thuộc gia đ́nh Zingiberaceae của
gừng, nghệ, riềng. Cây cao từ 60 - 80cm, lá dài xanh mướt, hoa h́nh ṣ màu vàng
hay đỏ-trắng kết thành chuỗi dài rất đẹp. Các nhà thực vật cho rằng hoa của gia
đ́nh họ Gừng là hoàng hậu của các hoa. Lá, thân, củ, hột ré đều có hương thơm.
Hột ré có cineole, farnesol, alipinetin, cardamonin. Thảo đậu khấu dùng
làm thuốc trị ói mửa, rối loạn tiêu hóa, bịnh dạ dày, yếu tỳ, giải rượu v.v...
Thảo đậu khấu được t́m thấy nhiều ở Nhật, Taiwan (Đài Loan), Guangdong (Quảng
Đông) v.v... Đó là một vị thuốc Bắc nhập cảng đối với nước ta. Có thể trước kia
có nhiều cây hột ré trên Cù Lao Ré (đảo Lư Sơn). Ngày xưa vùng nầy thuộc vương
quốc Chiêm Thành, chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ rồi Hồi Giáo. Cây hột ré (thảo
đậu khấu) là một hương liệu như hồi hương, đinh hương, hồ tiêu, gừng, đậu
khấu... rất có giá ở Âu Châu. Người Âu Châu mua hương liệu qua trung gian các
thương nhân Á Rập. Về sau nhờ sự phát triển hàng hải, họ mở Đường Hương Liệu
(Spices Road) để trực tiếp mua hương liệu không qua trung gian các thương nhân Á
Rập. Giá hương liệu giảm dần trên thị trường Âu Châu. Ngày nay cư dân trên Cù
Lao Ré sản xuất nhiều tỏi Allium sativum, gia đ́nh Alliaceae. Có
lẽ trồng tỏi mang lợi nhuận trực tiếp, thường xuyên và nhiều hơn lợi nhuận do
việc trồng cây hột ré (thảo đậu khấu) để bán làm thuốc. G̉ GÀNG VÀ CÂY GÀNG GAI G̣ Gàng là một xóm nhỏ trong xă Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh B́nh Định. G̣ Gàng lại nổi tiếng về nghề làm nón lá và truyền thống nhóm chợ bán nón từ giữa đêm đến sáng th́ tan chợ. Nón lá G̣ Gàng được xem là nón lá nghệ thuật tinh xảo dành cho người khá giả dùng mà thôi. Nghề nầy đ̣i hỏi sự khéo léo và có giá trị nghệ thuật hơn là lợi nhuận kinh tế. V́ người giỏi tay nghề không sản xuất đến 10 cái nón lá trong ngày!
Địa danh G̣ Gàng gắn liền với cây gàng, một loại cây có gai lởm chởm. có hai loại cây gàng: – Gàng trắng Randia tomentosa thuộc gia đ́nh Rubiaceae có lá xanh xậm, hoa trắng, trái có nhiều cơm. Gỗ cứng được dùng làm lược chải tóc. Trái được dùng để gội đầu như shampoo.
– Gàng trâu hay
gàng tu hú Randia spinosa (spinosa: gai), lá dày h́nh bầu dục,
thân có gai dài và nhọn, hoa màu trắng hay vàng có mùi thơm. Trái chín màu vàng.
Gàng trâu có iridoid glycoside, randinoside. Trái dùng để trị nôn mửa nên
người Anh gọi trái gàng trâu là emetic nut. Ngoài ra nó c̣n trị kiết lỵ,
tiêu chảy và gây trụy thai. Vỏ có nhiều tannins cầm máu và trị tiêu chảy,
kiết lỵ. Rễ dùng để sát trùng.
Hương Trà là một huyện của tỉnh Thừa Thiên. Huyện nằm về phía bắc thành phố Huế. Huyện Hương Trà rộng 521km2 (28,6km x 28, 6km). Hầu hết các xă trong huyện đều có chữ HƯƠNG như Hương Phong, Hương Vĩnh, Hương Toàn, Hương Chữ, Hương Xuân, Hương Vân, Hương An, Hương Thọ, Hương Hộ, Hương B́nh. Sông chảy qua huyện là sông Hương. Trong những năm gần đây bờ biển xă Hải Dương trong huyện Hương Trà bị xâm thực nặng nề. Nạn đất chuồi v́ mưa lũ xảy ra trong xă Hương Hộ. Trong tỉnh Quảng Nam có địa danh Trà Mi. Trà mi hay đồ mi là hoa trà. Theo tổ chức hành chánh hiện hành có hai huyện Trà Mi: Bắc Trà Mi rộng 823km2 (28,60km x 28,60km) và Nam Trà Mi rộng 787km2 (28,5km x 28,5km). Hai huyện nầy không nổi tiếng về trà mà nổi tiếng về quế (sẽ nói ở phần kế tiếp).
Địa danh Hương Trà hay Trà Mi liên hệ đến cây trà: – Camellia sinensis [Camellia do tên của giáo sĩ Tiệp Khắc ḍng Jesuit Georg Kamel (1661 - 1706) nghiên cứu cây trà khi giảng đạo ở Phi Luật Tân] thuộc gia đ́nh Theaceae. Cây trà nầy cao từ 5m - 10m; lá dày, có răng cưa ngoài ŕa. Lá láng màu xanh đậm. Hoa trắng, nhụy vàng có hương thơm. Người Âu Châu thích cây trà Camellia japonica của Nhật không phải v́ trà ngon mà v́ cây trà nầy có hoa rất đẹp. Trà có glucosides, tannins, quercetol, myricetol, catechol, sinh tố A, B, C, caffeine, theophylline, ác xít panthothenic. Trà nhuận tiểu, tiêu hóa, trị tiêu chảy, kiết lỵ, hưng phấn thần kinh, phát hạn v.v... Trà và cà phê là thức uống được quảng bá khắp thế giới. Người Trung Hoa thích uống trà và có nhiều kinh nghiệm trong thuật ướp trà. Người Nhật biến thuật uống trà thành Trà Đạo (Chanoyu). Trà Đạo phát triển song song với sự phát triển Thiền (Zen) ở Nhật. Chưởng môn Trà Đạo Sn-No-Rikyu đưa ra 4 nguyên tắc Trà Đạo:
a- Hỏa (Wa). Trong Cung Oán Ngâm Khúc có câu thơ nói về hoa trà:
Cái đêm hôm ấy
đêm ǵ? Ca dao Việt Nam nói về trà:
Chẳng chè,
chẳng chén sao say? Vườn trà Bắc Ninh ngày xưa là nơi sản sinh ra Ỷ Lan Thái Phi đời nhà Lư và Bà Chúa Chè Đặng Thị Huệ thời chúa Trịnh Sâm. Đó là hai đệ nhất phu nhân đầy quyền uy thời quân chủ phong kiến. Năm 1773 Anh ban hành đạo luật Trà (Tea Act) gây phẫn uất cho người Mỹ khiến họ thành lập Boston Tea Party (Trà Đảng Boston) tổ chức liệng trà của người Anh xuống biển ở Boston năm 1773, mở đầu cho cuộc Chiến Tranh Cách Mạng giành độc lập và khai sinh ra Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Trong văn chương Pháp có Alexandre Dumas Fils [Alexandre Dumas Con (1824 - 1895) để phân biệt với Alexandre Dumas Cha] viết tác phẩm La Dame aux Camélias (Trà Hoa Nữ) rất nổi tiếng.
Ở vùng Thừa
Thiên có một loại hoa hải đường, nhưng không thuộc ḍng Sorbus và gia
đ́nh Rosaceae như hải đường Sorbus domestica thường thấy, mà thuộc ḍng Camellia và gia đ́nh Theaceae của trà. Tên khoa học của loại hoa hải đường
ḍng Trà nầy là Camellia amplexicaulis hay Thea amplexicaulis, gia
đ́nh Theaceae. Hoa to màu trắng hay hồng rất đẹp nhưng không có hương.
QUẾ SƠN VÀ CÂY QUẾ Quế Sơn là một huyện của tỉnh Quảng Nam. Theo tài liệu hiện nay huyện nầy rộng 707km2 (26,5km x 26,5km). Sông Thu Bồn chảy ngang qua huyện. Đó là nơi thường xảy ra những trận đụng độ đẫm máu trong cuộc chiến tranh Việt Nam II. Trước khi tách ra làm hai huyện Quế Sơn và Nông Sơn (nơi có quặn than đá), quận Quế Sơn cũ rất rộng và trong quận có nhiều xă mang chữ QUỀ như Quế Lộc, Quế Trang, Quế Ninh, Quế Phước, Quế Lâm. Tên các địa danh kể trên liên hệ đến cây Quế, một cây hương liệu và cây thuốc rất quí được t́m thấy nhiều trong tỉnh Quảng Nam. Những địa danh Quế Sơn, Quế Lâm cho thấy đó là những cây Quế mọc thiên nhiên trên núi và trong rừng. Điều đáng lưu ư là Quế Sơn lại không nổi tiếng về quế như huyện Trà Mi (Bắc Trà Mi và Nam Trà Mi).
Tên khoa học của cây quế gốc ở Tích Lan là Cinnamomum zeylanicum thuộc gia đ́nh Lauraceae. Năm 1536 Bồ Đào Nha chiếm đảo Ceylon, bây giờ là Sri Lanka, và trở thành quốc gia độc quyền bán quế ở Âu Châu. Vào thế kỷ XVII và XIX Ḥa Lan trồng quế ở Indonesia quần đảo để trở thành quốc gia buôn bán quế quan trọng trên thế giới. Tên khoa học của quế Việt Nam là cinnamomum louieirii mà người Pháp gọi là quế Sài G̣n mặc dù Sài G̣n không hề có cây quế! Tên khoa học của cây quế rừng, tức quế mọc hoang trong rừng, núi là Cinnamomum malabathrum hay Cinnamomum iners. Quế Tàu Cinnamomum aromaticum hay C. cassia có công dụng đa dạng trong thức ăn và vị thuốc v́ hầu hết việc sản xuất bánh kẹo hay điều hành tiệm thuốc Bắc ở Việt Nam đều do người Trung Hoa nắm giữ. Cây quế cao từ 10m - 15m, lá h́nh bầu dục màu xanh đậm. Hoa màu xanh nhạt. Trái tṛn màu đen láng khi chín. Vỏ, lá, rễ cây đều có mùi thơm cay nồng. Quế là một loại hương liệu dùng trong nấu nướng (cho vào bánh ngọt, kẹo, nước lèo phở v.v...) và làm thuốc trị bịnh. Dầu quế có ethyl cinnamate, eugenol, cinnamaldehyde, betacaryophyllene C15 H24, linalool, methyl chavicol. Quế được dùng để trị cảm, nghẹt mũi, rối loạn tiêu hóa, tiểu đường II, hạ huyết áp, phong thấp. Phụ nữ có thai không được dùng. Ở Việt Nam các tiệm thuốc Bắc thường dùng quế để đổi lấy trần b́ (vỏ quít). Cây quế được người Việt Nam đề cập đến nhiều với những từ quế cung, thềm quế, đan quế, quế ḥe, củi quế gạo châu, v.v... Vào thế kỷ XIV, khi Huyền Trân Công Chúa gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân th́ trong dân gian có câu:
Tiếc thay cây quế giữa rừng, Triều đ́nh nhà Trần giải thích đường lối của ḿnh qua hai câu:
Hai châu Ô, Rí xa ngàn dậm, Khi Trần Khắc Chung giải cứu công chúa Huyền Trân khỏi bị hỏa thiêu theo chồng th́ dân gian lại có câu:
Tiếc thay hột gạo trắng ngần, Ca dao Việt Nam nói về quế đại để có những câu:
Ở như cây quế giữa rừng, B̀M SƠN VÀ DÂY B̀M B̀M B́m Sơn là một trong các thị xă lớn trong tỉnh Thanh Hóa. Thành phố nằm trên tọa độ 20 độ 18' bắc vĩ tuyến và 105 độ 55' đông kinh tuyến. B́m Sơn nằm cách tỉnh Thanh Hóa 34km về phía bắc gần Lam Sơn, nơi Lê Lợi khởi nghĩa chống quân Minh năm 1418. Thành phố có núi, đèo bao quanh và nhiều suối.
Địa danh B́m Sơn gắn liền với một loại thảo mộc: dây b́m b́m tức khiên ngưu (dây dắt trâu), hắc sửu, bạch sửu. Đó là một loại dây giống như rau muống, hoa màu tím-xanh giống như hoa rau muống. Khi gần tàn, hoa chuyển sang màu đỏ bầm. Tên khoa học của dây b́m b́m là Ipomoe hederacea thuộc gia đ́nh Convolvulaceae. Người Anh gọi là Ivyleaf morning-glory, Indian jalap. Đối với người Hoa Kỳ đó là một loại dây lấn đất. Đối với Trung Hoa và Ấn Độ khiên ngưu là một dược thảo. Hột có dầu, chất nhờn albumin, tannins, pharbitistin. Hoa có peonin chloride. Toàn dây có độc chất v́ có nhiều loại ác xít.
Dây b́m b́m (khiên ngưu, hắc sửu, bạch sửu) lợi tiểu, nhuận trường, trị śnh
bụng, trục lăi, hạ sốt, trị ghẻ, trị bịnh về da, bịnh gan, lá lách (tỳ), điều
kinh, trị cước khí, lọc máu, điều tiết túi mật.
Dăy Hoàng Liên Sơn là dăy núi trẻ được xem là phần nối dài ở phía đông của dăy Hy Mă Lạp Sơn. Dăy núi Hoàng Liên Sơn nằm trong huyện Sa Pa (Chapa) trong tỉnh Lào Cai. Đỉnh núi cao nhất ở Việt Nam nằm trong dăy núi nầy. Đó là đỉnh Fansipan cao 3.142m. Người ta cũng gọi đỉnh Fansipan là Hoàng Liên Sơn.
Coptis trifolia Hoàng Liên Sơn là núi có nhiều cây hoàng liên. Cây hoàng liên cao lối 50cm. Cọng mềm, màu xanh. Lá chẻ, dài và láng. Hoa nhỏ màu vàng-trắng, nhụy dài như sợi chỉ màu vàng, trái ăn được. Rễ đắng, màu vàng. Tên khoa học của hoàng liên là Coptis teeta thuộc gia đ́nh Ranunculaceae của mao lương hoa vàng. Thường thường thảo mộc thuộc gia đ́nh Ranunculaceae có độc chất. Nhưng cây hoàng liên không độc. Người Anh gọi cây hoàng liên là yellow root (hoàng căn - v́ rễ màu vàng), gold thread root, canker root (rễ dùng làm thuốc trị loét miệng). Người Trung Hoa gọi là yunnan huang lian (Hoàng Liên Vân Nam), yun lian (vân liên), huang lian (hoàng liên). Người Ấn Độ gọi là marmeera nên nhiều nơi người Anh cũng dùng chữ marmira hay tita để chỉ cây hoàng liên. Hoàng liên là một dược thảo quan trọng mọc thiên nhiên ở Ấn Độ, dăy Hy Mă Lạp Sơn, miền núi Yunnan (Vân Nam), miền Bắc Việt Nam v.v.
Về thành phần hóa học cây hoàng liên có berberine C20 H18 NO4, akaloid coptine, albumen, lignin, dầu, đường, v.v... Bộ phận dùng làm thuốc là rễ có tính kháng viêm, kháng trùng, trị táo bón, lợi cho thị giác, trị hoàng đản, sốt rét, suy nhược, lâm lậu, v.v... Y học cổ truyền Ấn Độ và Trung Hoa trân quí dược tính trị liệu của cây hoàng liên. Hoàng liên Nhật mang tên khoa học coptis japonica. Người Anh cũng gọi Hoàng liên Nhật là gold thread root (ám chỉ nhụy vàng dài và nhuyển như chỉ). Người Nhật gọi là Ouren. Hoàng liên Nhật có thân màu đỏ bầm. Lá chẻ ba. Hoa trắng, cánh hoa nhỏ và dài; nhụy vàng dài và nhuyển. Hoàng liên Nhật có berberine, coptisine, jatrorrizhine, chlorophyll, magnoflorine. Củ dùng làm thuốc kháng viêm, hạ sốt, kích thích máu lưu thông điều ḥa, trị kiết lỵ, tiêu chảy, viêm ruột, bịnh về mắt, loét miệng, lưỡi, v.v... Đại cương công dụng trị liệu cũng giống như cây hoàng liên Coptis teeta. Ở miền hàn đới như Alaska, đảo Greenland băng giá quanh năm có cây hoàng liên hàn đới Coptis trifolia hay Coptis groenlandica. Người Anh gọi loại hoàng liên hàn đới nầy là Alaska gold thread. Về thành phần hóa học và công dụng trị liệu cũng tương tự như hoàng liên Coptis teeta. Hoàng liên hàn đới được gọi là tam diệp hoàng liên v́ cây có ba lá chụm lại ở một cuống (trifolia). Hoàng liên hàn đới được dùng làm thuốc bổ cho người bị bịnh kinh niên. Các loại hoàng liên gai (jaundice berry) mang tên khoa học Berberis vulgaris, hoàng liên gai Ấn Độ hay hoàng mộc Berberis asiatica và hoàng liên ô rô Berberis bealei thuộc gia đ́nh Berberidaceae tuy không cùng ḍng Coptis và gia đ́nh Ranunculaceae của cây hoàng liên mà chúng ta đề cập ở phần trên nhưng vẫn được mang tên hoàng liên v́ có nhiều berberine và công dụng trị liệu như hoàng liên ḍng Coptis.
Người Trung Hoa gọi Coptis teeta là hoàng liên với tất cả sự trân quí v́ hoàng
liên có nghĩa là SEN VÀNG, không phải v́ vẻ đẹp và hương thơm của hoa sen mà v́
có dược tính đặc biệt của loại thảo mộc có nhiều berberine C20 H18 NO4
và coptine C19 H4 NO4 nầy.
|