PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

 

CHUYỆN KHOAI M̀

 


 

          Về chuyện khoai ḿ tôi có rất nhiều kỷ niệm. Tôi xin kể ra đây hai chuyện:

 

1. Câu Chuyện Thứ Nhất: Một nhà giáo vừa hưu trí ở tuổi 55 th́ miền Nam sụp đổ. Tiền hưu trí chưa lănh đă mất. Con trai của ông đi học tập. Rể cũng đi học tập. Hai vợ chồng đau khổ v́ không có tiền đi thăm nuôi con và rể. Vốn liếng mà ông có được sau mấy chục năm dạy học là mái nhà nhỏ trong một thành phố nhỏ. Không thể bấu víu đời sống thành thị trong cảnh nghèo đói ông giáo quyết định bán nhà. Nhưng ai mua giữa lúc mọi người đều hết tiền sau hai đợt đổi tiền và cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc? Hai vợ chồng ông giáo nghĩ đến việc bán từng bộ phận của căn nhà để có chút tiền về quê vợ nơi bà giáo c̣n một miếng đất g̣ do ông bà, cha mẹ để lại.

Về quê vợ ông giáo cất mọi cái cḥi tranh nhỏ, vách đất, cửa lá buôn để che nắng mưa và vừa đủ cho hai vợ chồng già sống cho hết kiếp người. Ông bà giáo cuốc mảnh đất g̣ khô cằn để trồng khoai ḿ.   

Khoai ḿ tương đối dễ trồng. Chỉ cần ghim lóng khoai ḿ lối 20 cm đúng cách (ghim phần phía gốc xuống đất và phần phía ngọn hướng lên trời. Nếu không, cây khoai không mọc) th́ 06 tháng sau khi trồng sẽ có củ ăn được. Khoai ḿ không thể so sánh với cơm được nhưng khoai ḿ có nhiều điều lợi:  

1. khoai ḿ không đ̣i hỏi đất màu mỡ và có đầy đủ nước  

2. khoai ḿ chỉ cần lột vỏ th́ nấu ăn được. Từ hột lúa biến thành gạo và từ hột gạo biến thành cơm phải mất nhiều th́ giờ và công sức.
Ăn cơm lạt rất khó. Trái lại ăn khoai ḿ nấu có chút muối là đủ, không cần phải có thịt, cá như ăn cơm.   

3. khoai ḿ lát mỏng phơi khô hay ngâm nước nhiều ngày cho ră rụt để có bột ḿ dùng làm bánh hay biến chế thức ăn khác trong thời kỳ thiếu thốn lương thực ngặt nghèo như đă xảy ra vào năm 1945 và những năm sau 1975 ở Việt Nam.  

4. củ khoai ḿ càng giữ dưới đất càng lâu th́ càng nặng cân. Như vậy không phải tốn không gian để chứa khoai.

Đám khoai của ông giáo làm cho ông sung sướng. Nó bảo đảm vợ chồng ông sẽ không bị chết đói.  

Dân chúng càng nghèo khổ, thiếu ăn, nạn trộm cắp càng hoành hành. Cái ǵ cũng có thể mất trộm. Ngồi tréo chân vài phút ngó xuống th́ thấy mất một chiếc dép. Nhà càng nghèo càng dễ bị trộm v́ vách không kín, cửa nẻo không có. Ban đầu chỉ là cắp vặt hay ăn cắp thứ ǵ để ăn qua ngày. Từ ăn cắp vặt người ta chuyển sang việc trộm cắp qui mô và có tổ chức của nhóm người không nghèo cũng không thiếu ăn! Từ ăn cắp củ khoai lang, khoai ḿ người ta chuyển sang việc dùng xe cam nhông và một đám người đông đảo để nhổ đậu phọng, hái đậu đen, đậu xanh, chặt mía, nhổ khoai ḿ trên một diện tích rộng lớn để bán làm giàu. Đám khoai ḿ của ông giáo nằm trong kế hoạch ăn cắp qui mô của nhóm trộm cắp có tổ chức này v́ vợ chồng ông là người già yếu, neo đơn và cô thế trong xă hội.

Một buổi tối không trăng sao, trời tối đen như mực ông giáo đi tuần ngoài đám khoai ḿ.
Ống nghe có tiếng động lạ trong đám khoai của ông. Linh tính ông cho biết có một đám người khá đông đang nhổ khoai ḿ của ông. Đám người nghe tiếng tiếng ho của ông bèn lên tiếng hỏi khô khan: “Ai đó?”. Ông giáo thấy nguy. Tay chân ông run rẩy. Ông cảm thấy lạnh người v́ sợ đám người lạ mặt giết ông nếu họ biết ông là chủ đám khoai ḿ. Ông cố giữ b́nh tĩnh và đáp lại một cách yếu ớt v́ kinh sợ: " Đói quá ra đây ăn cắp vài củ khoai về nấu ăn.”

Những người ăn trộm khoai ḿ kêu ông lại và cho ông vài củ khoai mà họ nhổ trong đám khoai của chính ông. Mùa khoai ḿ năm ấy ông ăn được vài ki- lô khoai do ông trồng và được nhóm người ăn trộm ban cho.

Sáng hôm sau ông bà giáo nấu khoai ḿ ăn lót dạ vừa nghe tiếng trẻ nít hát từ xa vọng về:

Cây cuốc cong làm cho cây cuốc găy,
Cây cuốc găy th́ khỏi ra đồng.
Giải phóng vô đây th́ ta đi kinh tế mới
Lao động suốt ngày mà chỉ có khoai.
Tổ quốc ơi! Sao thế nầy măi măi?
Giải phóng vô đây ta ăn độn dài dài

Ăn khoai xong ông giáo thấy vẫn c̣n đói. Đôi mắt ông lim dim buồn ngủ v́ mệt mỏi và băn khoăn lo nghĩ. Ông từ từ nhắm mắt ngủ, một giấc ngủ thay cơm. Ông thực hành câu: "Ngủ tức là ăn “ (Qui dort dine).

Không biết bây giờ ông bà giáo c̣n sống hay đă chết. Tôi viết lại câu chuyện này do chính ông kể lại như để tưởng nhớ đến một thầy giáo tỉnh lẻ trong cơn túng quẫn trong một giai đoạn lịch sử của một quê hương chưa bao giờ thấy được cảnh b́nh minh.  

 

2. Câu Chuyện Thứ Hai: Cảnh thất nghiệp, cuộc sống thiếu thốn và sự ḍm ngó của chánh quyền địa phương làm cho tôi ngao ngán ít muốn thăm viếng bạn bè hay người thân. Một buổi chiều chạng vạng tối, được tin một người bạn thân t́nh dù lớn tuổi hơn tôi rất nhiều bị bịnh nặng, tôi cỡi xe đạp đến nhà thăm anh.  

Anh bạn nầy xuất thân từ một gia đ́nh khá giả tại địa phương thời tiền chiến. Thuở nhỏ anh học trường Pellerin ở Huế. Theo lời anh khoe với tôi, anh có gặp bà hoàng hậu Nam Phương trong một buổi lễ nào đó ở Huế. Anh nói được tiếng Pháp và tiếng Nhật. Ngày rời Sài G̣n về quê cũ cuộc đời anh càng ngày càng thê thảm. Tôi biết anh khi chưa học hết bậc trung học và giúp anh t́m việc làm qua sự giới thiệu của những người quen biết với tôi. Do đó hai vợ chồng và các con anh anh rất quí mến tôi. Các cháu đinh ninh tôi là em của mẹ các cháu v́ nghe mẹ các cháu gol tôi là cậu Sáu. Cuộc sống của gia đ́nh anh bạn cũng không có dấu hiệu vươn lên. Con cái càng lúc càng tăng thêm. Một hôm anh nói với tôi em của anh có một người bạn được bổ nhiệm làm tỉnh trường một tỉnh ở miền đông. Đó là một tỉnh không an ninh v́ nằm trong chiến khu D. Em của anh giới thiệu anh với người bạn cùng khóa vừa được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng. Anh hỏi ư kiến tôi. H́nh như anh có vẻ không muốn lên đó v́ lư do an ninh.

Tôi khuyến khích anh nên lên đó cùng với gia đ́nh. Anh lấy làm lạ tại sao tôi lại có ư kiến như vậy. Anh hỏi tôi: "Tại sao cậu khuyến khích tôi đưa gia đ́nh lên trên đó?” Tôi đáp: “Anh chị đều tuổi Dần. Ngày ở Sài G̣n th́ khá giả. Khi về quê quán th́ lận đận. Vậy là có số sống xa quê th́ tốt hơn. Phải đùa giỡn với hiểm nguy mới thành công.” Mặc dù tôi nhỏ tuổi hơn anh rất nhiều nhưng anh rất tin vào lời nói của tôi v́ anh kiểm nhận sự chính xác của nó trong quá khứ. Anh nghe lời tôi lên tỉnh tân lập c̣n khét mùi khói súng. Vài tháng sau anh về thăm tôi với những lời nói bi quan của người như đang trối chết. Nào là xe đ̣ chở anh bị ḿn. Nào là tỉnh bị pháo kích. Nào là ngày nào cũng thấy người chết và bị thương. Tôi an ủi anh nhưng quả quyết anh sẽ thành công ở đó. Lần này niềm tin của anh đối với tôi vơi đi rất nhiều v́ anh chứng kiến cảnh chết chóc gần như hàng ngày. Không bao lâu quân đội Hoa Kỳ được phái lên tỉnh được xem là bất an ninh. Tỉnh bất an trở thành chốn đô hội. Quán tiệm mọc lên như nấm. Hàng ngày nhiều đoàn xe từ Sài G̣n lên để mua hàng Mỹ, đổi tiền đô- la xanh, đô- la đỏ tấp nập. Gia đ́nh anh trở nên khá giả. Thỉnh thoảng anh về quê cũ thăm tôi với những quà tặng như đồng hồ, máy chụp ảnh màu và kẹo, bánh cho con tôi.

Cuộc chiến trở nên ác liệt sau khi hiệp định Paris được kư kết. Anh phải bỏ sự nghiệp gây dựng mấy năm qua ở nơi cư trú mới đề về nơi sinh quán. Anh cất một căn nhà nhỏ trên Quốc Lộ 13 và sống một cuộc đời nghèo khổ của kiếp người mặc áo gấm ở chốn lạ quê người và mặc áo rách và mang bịnh tật ở nơi sinh quán của ḿnh. Sau năm 1975 gia đ́nh anh lâm vào cảnh thiếu ăn thiếu mặc ngặt nghèo.

Anh bị suyễn nặng không làm được việc nặng nhọc. Mọi gánh nặng đè trên vai vợ anh. Chị buôn bán rất giỏi nhưng việc buôn bán bị cấm chỉ nghiêm nhặt. Chị nuôi gia đ́nh bằng cách đi cạy dầu hắc ở căn cứ Sóng Thần. Việc cạy dầu hắc rất vất vả v́ phải chờ trời nóng bức đầu mới dễ cạy. Trong công cuộc mưu sinh này chị bị bộ đội rượt bắt. Nếu không bị bộ đội hù doạ bắt bớ hay bắn chỉ thiên để ngăn chặn làn sóng người xông vào căn cứ quân sự để cạy dầu hắc và lấy những vật phế thải trong căn cứ, th́ chị bị mấy đứa trẻ bụi đời hỗn láo cướp giựt dầu do chị cạy được.

Khi đến thăm người bạn già, tôi không cầm được nước mắt khi thấy người bạn già của ḿnh da bọc thây, hơi thở hụt hỏng, tiếng nói thều thào không rơ ràng. Vợ và các con anh nằm ngủ. Nh́n chị và các cháu ngủ, tôi nói: "Mới giờ nầy sao lại ngủ sớm như vậy?”

- Hôm nay không cạy dầu hắc được nên không có tiền. Tất cả đều ngủ đói. Anh bạn đáp.

Tôi nói chuyện với anh vài ba câu rồi ra về. Lối nửa giờ sau, tôi trở lại nhà anh với vài ki- lô khoai lang và khoai ḿ. Tôi mua khoai ḿ sống bán lậu ngoài chợ. C̣n khoai lang do người bạn ấu thời, Nguyễn Văn Lạc, cho tôi một gánh cách đó vài ngày. Trên 20 năm không gặp nhau không ngờ Lạc vẫn c̣n nhớ đến người bạn được anh ta hướng dẫn bắt dế đá ở Ấp Đồng Tư ngày nào. Tôi vẫn nhớ đến người bạn ấu thời này v́ lúc nào anh cũng đứng về phía tôi trong mọi tranh chấp giữa tôi và những đứa trẻ khác. Tôi đoán biết anh ở đâu sau trên 20 năm xa cách. Tôi không biết tại sao anh biết tôi khổ mà gánh khoai ra cho? Rồi từ đó tôi không gặp lại anh.

Thấy tôi chở một bao khoai, anh bạn vui mừng gọi con: "Dậy bay! Cậu Sáu chở khoai lên nè! Dậy nấu ăn.”

Như cái máy, các con anh đều thức dậy. Đứa lột vỏ khoai ḿ. Đứa rửa khoai lang nấu hai nồi riêng biệt bằng lá cây khô và cây khoai ḿ phơi khô. Khoai chín, tất cả các cháu cùng cha mẹ ngồi ăn ngon lành mặc cho khoai nóng phỏng tay.

 

****

 

Tôi đă trải qua thời kỳ khoai củ và chuối chiên thịnh hành năm 1945. Lúc ấy tôi là một đứa trẻ được mẹ và bà chăm sóc kỹ lưỡng v́ cha mất việc nhưng cuộc sống vẫn ấm no. Mùa khoai củ thịnh hành sau năm 1975 làm cho đời tôi và những người đồng cảnh ngộ trải qua những giây phút kinh hoàng. Ở Hoa Kỳ, nơi 99.9% dân chúng đều được ăn uống đầy đủ nhưng người ta rất quí thức ăn. Khi ăn ở quán tiệm họ xin hộp để đem thức ăn c̣n dư về. Đó là điều tôi hoàn toàn không thấy ở quê nhà mặc dù thịt, cá ở nước ta rất đắt, sự dinh dưỡng của đại đa số dân chúng rất thiếu thốn. 3/4 lương tháng được dùng vào việc mua thực phẩm. Khi vào cửa hàng bán thực phẩm Hoa Kỳ tôi giựt ḿnh khi thấy khoai ḿ được gói trong giấy kiếng với nhăn hiệu rất trịnh trọng. Chuyện làm nhỏ nhưng ư nghĩa rất lớn: trân quí vật nuôi sống ḿnh.

 

Phạm Đ́nh Lân, F.A.B.I.
 

 

Trang Phạm Đ́nh Lân

art2all.net