|
DẠ NGUYỆT HƯƠNG HOA
Hình : Đạm Tuyết - Hoa Quỳnh
Thượng Đế ban cho loài người hai nguồn ánh sáng khác nhau do hai nhà máy phát ánh sáng khác nhau. Nhà máy phát ánh sáng ban ngày là mặt trời. Nhà máy phát ánh sáng ban đêm là mặt trăng. Không biết hai cái máy vĩ đại này chạy bằng nguyên liệu gì mà từ trước đến giờ không nghe nói nó bị ‘sự cố kỹ thuật’. Cũng không biết, nếu chúng trục trặc, ai sửa chúng? Nhà nông thích ánh sáng mặt trời để trồng trọt và được sự ấm áp. Thi nhân thích ánh sáng mát dịu của mặt trăng sau ngày dài lao động dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời. Theo Hán- Việt thì trăng là Nguyệt. Trong ngôn từ Việt Nam có cụm từ: - Nguyệt Hạ Lão Ông: Đó là ông Tơ ngồi dưới ánh sáng trăng. Ông là vị Tiên đặc trách hôn sự cho nam- nữ trên trần thế. Ông cầm một cuốn sổ và một cuộn chỉ ngồi dưới bóng trăng xem người nam và nữ nào hợp nhau đúng theo sổ sách đã định để cột họ lại để họ trở thành vợ chồng. - Nguyệt Hạ Hoa Tiên: tình yêu giữa nam- nữ dưới trăng nôm na là trăng hoa. - Nguyệt (trăng) là Thái Âm (-) đối lại với Thái Dương (Dương) (+) ám chỉ ban đêm Trên quốc kỳ của các nước Hồi Giáo thường có hình trăng lưỡi liềm. Các nước Hồi Giáo không chấp nhận chữ Thập Đỏ của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế vì chữ thập gợi lại hình ảnh cây thánh giá của đạo Christ (Thiên Chúa, Tin Lành, Chính Thống Giáo và Anh Quốc Giáo). Trong âm lịch có tháng chẳn và tháng lẻ. Tháng chẳn có 30 ngày. Tháng lẻ có 29 ngày. Mặc cho tháng chẳn hay tháng lẻ cứ đến ngày 15 âm lịch thì trăng tròn. Sự vận hành của mặt trăng ảnh hưởng đến thủy triều với cảnh trăng thanh gió mát. Cơ thể con người cũng chịu ảnh hưởng của tuần trăng vì có 80% nước. Chữ Nguyệt cũng có nghĩa là tháng trong chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ. Nhà thơ Hàn Mạc Tử bị lại chứng (1). Khi trăng tròn ông bị đau nhức khó chịu. Ngày trăng tròn cũng ảnh hưởng đến vài bịnh tật của loài người như đau khớp xương, bịnh Lyme, bịnh Alzheimer, chứng động kinh v.v. Bịnh Lyme do bọ chét nai cắn truyền ký sinh trùng Borrelia burgdorferi vào cơ thể. Người bịnh bị nóng, lạnh bất thường. Da bị lở. Dần dần các khớp xương bị đau nhức. Chu kỳ trăng tròn là 29.53 ngày. Chu kỳ sinh sản của trùng Borrelia burgdorferi xê dịch từ 28- 30 ngày. Hiện tượng trăng tròn cũng ảnh hưởng đến tánh tình, tình trạng giảm giấc ngủ của con người vì kích thích tố melatonin kiểm soát giờ giấc ngủ và thức bị sút giảm. Thảo mộc cần ánh sáng của mặt trời để tăng trưởng và đồng hóa diệp lục tố. Đa số các loài hoa đều nở ban ngày khi mặt trời mọc. Cũng có một số loài hoa nở chiều, tối và tỏa hương thơm vào buổi tối như dạ lý hương, hoa thiên lý, quỳnh hoa, hoa thanh long, hoa sứ, hoa bưởi...mà chúng ta đã có dịp đọc qua. Trong thực vật học Việt Nam có vài loại thảo mộc mang tên mặt trăng như: - nguyệt bạch Artemisia vulgaris, - nguyệt quế Murraray paniculata. Thực vật có chữ Moon (nguyệt- trăng) trong tiếng Anh có: - nguyệt hoa (moonflower) hay nguyệt đằng (moon vine) Calonyction aculeatum giống như dây rau muống, hoa rất thơm - nguyệt đằng (moon creeper) tức dây nhựa không lá Sarcostemma viminale - nguyệt phong lan (moon orchid) Phalaenopsis amabilis v.v. Trong bài này chúng tôi sẽ đề cập đến những loài hoa thơm nở vào buổi chiều hay buổi tối và tỏa hương thơm sau khi mặt trời lặn, vào buổi tối hay những đêm sáng trăng. Vài loài hoa trong số này có thể xa lạ với người Việt Nam nhưng rất quen thuộc với những người làm vườn ở Hoa Kỳ.
HOA HUỆ CASABLANCA
Tên khoa học của huệ Casablanca là Lilium casablanca thuộc gia đình Liliaceae. Cây hoa cao từ 1 đến 1.50 m; lá dài; hoa 06 cánh (hoa huệ luôn luôn có 06 cánh) màu trắng; nhụy màu hung đỏ. Hoa được trồng bằng củ. Thường thường người ta trồng vào mùa Xuân hay mùa Thu. Hoa nở vào mùa Hạ. Hoa huệ Casablanca hữu sắc và hữu hương. Hương thơm tỏa ra vào buổi chiều và tối. Hoa huệ Casablanca được thấy trong bó hoa cưới hay trong bình hoa của các nhà cắm hoa nghệ thuật Ikebana Nhật Bản. Hoa huệ Casablanca được mệnh danh là Nữ Hoàng của các loài hoa. Đó là cách nhìn riêng của các nhà thực vật học hay nhà trồng tỉa Tây Phương. Vì hoa gừng (khương hoa) (3) Zingiber officinale cũng được các nhà thực vật học khác xem là Nữ Hoàng của các loài hoa! Nên rất khó so sánh vẻ đẹp của hai nữ hoàng của các loài hoa này.
HOÀNG HÔN ANH THẢO
Tên khoa học của hoàng hôn anh thảo là Oenothera biennis, Oenothera muricata, Oenothera centralis, Oenothera pycnocarpa, Onagra biennis, Brunyera biennis. Người Anh cho loài hoa này nhiều tên qua đặc điểm và sự hữu dụng của nó như: evening primrose, evening star, sun drop, king’s cure all (vì ngày xưa người ta dùng hoa này để trị nhiều loại bịnh của loài người), fever plant (cây trị sốt), night willow herb (dạ liễu thảo), war poison. Chữ Oenothera trong tên khoa học của hoa hoàng hôn anh thảo phát xuất từ tiếng Hy Lap Oinos có nghĩa là rượu nho và Ther: dã thú. Tương truyền rằng ngày xưa người ta dùng củ của hoa anh thảo ngâm với rượu nho để thuần hóa dã thú. Cây hoa cao từ 1- 1.20 m; lá thon dài; gân lá không rõ. Hoa to, màu vàng tươi rất đẹp. Hoa nở vào buổi chiều và khép lại vào buổi sáng khi mặt trời mọc. Hoa rất thơm về đêm. Hoa anh thảo gốc ở Bắc Mỹ nhất là miền đông Hoa Kỳ. Nó được tìm thấy nhiều ở Florida và Texas. Hoa có trái. Hột có dầu ăn được và dùng để chữa bịnh hay dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm. Lá và củ hoa anh thảo ăn được. Củ là thức ăn của người Da Đỏ. Thợ săn Da Đỏ dùng củ hoa anh thảo xát trên gót giày để thú rừng không nhận được hơi người đến gần chúng. Hột dùng để lấy dầu. Dầu được dùng để nấu nướng và trị bịnh. Lá, củ, hoa, hột (dầu) dùng để trị cao huyết áp, cholestrol cao, huyết áp thấp, trị viêm, tiểu đường, béo phì, cổ trướng, suyễn, ho gà, cầm máu, nhuận trường. Dầu lấy từ hột hoa anh thảo có gamma- linolenic acid, linoleic acid kháng viêm và làm giảm đau nhức. Hoa anh thảo dùng làm màu nhuộm vàng. Hoàng hôn anh thảo vừa có hoa đẹp, có hương thơm về đêm lại có giá trị trị liệu và công dụng trong kỹ nghệ mỹ phẩm và màu nhuộm. King’s cure all vừa là tên gọi thông thường vừa là biệt danh trị bá bịnh của loài hoa vàng nở vào buổi chiều này.
HUỆ KIẾM NAM PHI
Huệ kiếm Nam Phi ngày nay được tìm thấy nhiều ở các vùng khí hậu ôn đới và Địa Trung Hải.
NGUYỆT QUẾ
Chữ Murraya trong tên khoa học được đặt dựa vào tên Murray (1740- 1791) của nhà thực vật học Thụy Điển. Người Anh gọi nguyệt quế Murraya paniculata là orange jasmine, orange jessamine (Hoa Lài Cam vì hương thơm cam của hoa). Nguyệt quế Việt Nam cao từ 1- 5 m; lá láng hình bầu dục màu xanh sậm như là cam, bưởi. Hoa 05 cánh màu trắng rất thơm về đêm. Hoa nguyệt quế có mùi thơm cam. Trái hình bầu dục màu đỏ khi chín. Lá và hoa được dùng để ướp trà. Cây được trồng trong vườn hay trồng làm hàng rào để có hoa thơm. Người Ấn Độ gọi nguyệt quế này là Kamini. Hoa, lá, vỏ, rễ cây nguyệt quế có flavones, coumarins, indole alkaloid yuehchukene. Nguyệt quế có tác dụng cầm máu, trị kiết lỵ, bịnh phong tình và gây trụy thai.
DẠ HƯƠNG HOA TÍM CÁNH DÀI
Tên khoa học của dạ hương hoa tím cánh dài là Matthiola longipetala, Matthiola bicornis (hai sừng), Matthiola oxyceras, Matthiola aspera, Matthiola kralikii, Cheiranthus longipetalus, Triceras oxyceras thuộc gia đình Brassicaceae của cải bắp, cải mù-tạt. Chữ Matthiola trong tên khoa học là tên của nhà thực vật học Thụy Điển Pietro Andrea Mattioli vào thế kỷ XVI. Người Anh gọi dạ hương hoa tím cánh dài là night-scented stock (cây thơm về đêm), perfume plant, evening stock. Loại hoa này là loài thảo mộc gốc ở Tây Á (Trung Đông) và vùng Địa Trung Hải tức vùng khí hậu khô hạn. Cây cao từ 50- 70 cm; thân ốm và phủ đầy lông. Lá nhỏ, dài và nhọn. Hoa 04 cánh màu tím, nhụy vàng (cũng có loại hoa trắng, nhụy vàng). Trái có hột nhỏ dùng làm giống để trồng hay lấy dầu. Hoa nở về đêm và tỏa hương thơm va- ni hay hương liệu cay nồng. Dạ hương hoa tím có hương thơm vì có nhiều flavone glycoside. Theo sự nghiên cứu của các nhà khoa học Tunisia màu tím của hoa có acylated cyanidin 3- sambubioside- 5- glucoside. Theo kinh nghiệm của người Ả Rập loài dê rất thích ăn cây hoa có hương thơm này. Họ cho rằng dê ăn hoa dạ hương hoa tím cánh dài thì có nhiều sữa.
NGUYỆT ĐẰNG
Đây là một loại dây dài từ 3- 5 m hay hơn nữa. Dây nhỏ, có nhựa trắng đục như sữa. Lá hình trái tim màu xanh sậm. Hoa hình kèn có 05 cánh màu trắng, nhụy vàng. Lấy nhụy hoa làm tâm ta thấy xuất phát 05 sọc vàng nhạt gần nơi hai cánh hoa tiếp giáp nhau. Nguyệt đằng có trái và có hột. Nguyệt đằng được trồng bằng hột và phải có giàn cho dây leo. Chúng tôi dùng chữ nguyệt đằng dựa vào cách gọi của người Anh moon vine. Tên khoa học Calonyction album là tên khoa học cũ. Tên hiện được dùng là Ipomoea alba. Hoa nguyệt đằng nở và tỏa hương thơm về đêm. Vào lúc bình minh của ngày hôm sau hoa khép lại. Lá nguyệt đằng khô có calonyctin A: convolvulinolic acid và jalapinolic acid. Hoa có nhiều flavones. Hoa nguyệt đằng rất thơm về đêm nhất là những đêm sáng trăng vào mùa hè nên nó được người Tây Phương trồng trong các nguyệt viên của họ.
HOA PHẤN tức HOA BỐN GIỜ CHIỀU
Gọi là hoa 4 giờ chiều vì hoa nở sau 4 giờ chiều và tỏa hương thơm vào buổi chiều và tối. Đến sáng ngày hôm sau hoa khép lại. Ở Florida hoa nở vào lúc 8 giờ tối. Nếu ngày hôm sau có mưa hay khí trời mát mẻ hoa khép lại hơi trễ một chút. Cây hoa phấn cao từ 60- 90 cm. Thân cây nhỏ và mềm. Lá hình bầu dục màu xanh tươi. Hoa hình kèn có 05 cánh; nhụy vàng. Hoa có nhiều màu khác nhau: tím, đỏ, hồng, vàng, trắng. Hoa phấn được trồng bằng hột hay bằng củ. Củ nằm dưới đất suốt mùa đông và sống dậy vào mùa xuân. Tên khoa học của hoa phấn là Mirabilis jalapa (4) hay Mirabilis lindheimeri thuộc gia đình Nyctaginaceae. Tên gọi thông thường:
Ở Nam Mỹ người ta gọi hoa phấn là Clavilla. Các tài liệu mâu thuẩn nhau về ích lợi và độc tính của hoa phấn. Người ta cho rằng củ và hột hoa phấn rất độc đối với chó và hoa phấn gây ray rức cho da khi đụng vào. Ở Cambodia người ta giã lá hoa phấn chà xát trên thân thể khi bị sốt. Như đã nói, người Aztec đã dùng cây hoa phấn để trị bịnh. Hoa phấn có flavonoids, alkaloids, steroids, proteins, triterpenes. Nó gây ảo giác. Hoa dùng làm màu nhuộm thức ăn. Hoa phấn được dùng để chữa chứng sưng hàm, gãy xương, gây nhuận tiểu. Củ hoa phấn gây tẩy xổ rất mạnh. Không chối cãi được rằng hột và củ hoa phấn có độc chất. Nhưng không vì thế mà hoa phấn mất đi sự quan trọng của nó trong vườn hoa vì hương và sắc đặc biệt của hoa về đêm cũng như công dụng trị liệu và việc dùng hoa làm màu nhuộm thức ăn.
HOA DẠ NỮ HƯƠNG
Có một loại phong lan được người Anh gọi là Lady of the Night (Dạ Nữ) hay nói rõ hơn là Lady of the Night Orchid tức:
DẠ NỮ LAN
Dạ nữ hương lan là một loài chùm gởi sống bám vào cây. Người ta chiết ra để trồng trong chậu hay bình đặt trong nhà. Lá dạ nữ hương lan dài, láng và dày màu xanh tươi. Hoa hình trái tim màu trắng toát rất thơm về đêm. Dạ nữ lan dễ trồng, ra hoa thơm thường xuyên. Hoa chậm tàn. Đó là ưu điểm của loài dạ hương lan này. Người Tây Ban Nha gọi dạ nữ lan là Dame de Noche (Dạ Nữ) như người Anh. Dạ nữ lan có liên hệ gần với lan Cattleya labiata (do tên của William Cattley). Lan Cattleya có hoa có màu sắc đẹp. Có loại có hương thơm. Có loại không có hương mà chỉ có hoa có màu sắc và hình dáng đẹp hơn dạ nữ lan chỉ có màu trắng với hình trái tim đơn điệu nhưng có hương thơm đặc biệt. Người ta có khuynh hướng tháp giống dạ nữ lan Brassavola với lan Cattleya để có hoa to hình ngôi sao.
VỀ TÊN GỌI DẠ HƯƠNG HOA BRAHMA KAMAL CỦA ẤN ĐỘ Khi viết về các loài hoa nở và có hương thơm vào buổi tối chúng tôi thấy các nhà thực vật học lọng cọng về việc nhận chân dạ hương hoa mang tên tiếng Hindi: Brahma Kamal. Chúng tôi xin được dài dòng ở điểm này với hy vọng góp ý làm sáng tỏ sự nhận dạng thảo mộc qua tên gọi thông dụng. Trên phần trên chúng ta thấy có sự trùng hợp trong cách gọi tên Lady of the Night cho hai loại hoa khác nhau: 1. dạ nữ hương Brunfelsia gigantea thuộc gia đình Solanaceae của cà tím, khoai tây 2. dạ nữ lan Brassavola nodosa thuộc gia đình Orchidaceae. Để phân biệt người Anh dùng tên gọi Lady of the Night cho dạ nữ hương thuộc gia đình Solanaceae và Lady of the Night Orchid cho dạ nữ lan thuộc gia đình Orchidaceae. Trường hợp tên gọi Brahma Kamal của Ấn Độ khá rắc rối và dễ tạo sự nhầm lẫn: a. Kamal: hoa Sen b. Brahma là Thần Tạo Hóa của Ấn Giáo tức Thần của các Thần
Nhưng hoa Sen nào là quốc hoa? - Hoa Sen Nelumbo nucifera mọc dưới nước. Hoa Sen này (trắng, đỏ- tím) được các tín đồ Ấn Giáo và Phật Giáo trân quí. Ít người biết đến hoa Sen Hi Mã Lạp Sơn Saussurea obvallata. Hoa Sen Hi Mã Lạp Sơn mọc trên cao độ từ 3500 đến 4500 m nên rất hiếm nếu không nói là có nguy cơ mất giống.
Như vậy, quỳnh hoa mới thực sự là dạ hương hoa vì hoa thơm, nở và tàn trong cùng một đêm. Hoa Thanh Long Hylocereus undatus đẹp, thơm, nở ban đêm và cùng mang tên gọi thông thường của quỳnh hoa trong tiếng Anh: night blooming cereus.
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I. ---- (1) Lại chứng là một trong tứ chứng nan y: Phong, Lao, Cổ, Lại. (2) Theo từ nguyên Tây Ban Nha Casablanca là Nhà Trắng. (3) Gừng: Khương (Hán- Việt) (4) Jalapa là tên một thành phố ở Mễ Tây Cơ (Mexico).
|