|
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
CÁC LOẠI DÂY LEO CÓ HOA
THƠM
Xin đừng nhầm dây Ylang Ylang với cây hoa sứ công chúa Ylang
Ylang Cananga Odarata hay Annona Odorata ( tên khoa học này có
nghĩa hương thơm mãng cầu) có hoa cùng màu, cùng hình dáng, cùng gia đình thảo
mộc Annonaceae của mãng cầu và cùng hương thơm ngào ngạt với hoa của dây
Ylang Ylang. Dây Ylang Ylang được tìm thấy nhiều trên quần đảo Phi Luật Tân,
Miến Điện, Ấn Độ, Hoa Nam, quần đảo Indonesia v.v.
- Kim ngân hoa Lonicera periclymenum ở Âu Châu có hoa đỏ.
- Kim ngân hoa Hòa Lan mang tên khoa học Lonicera periclymenum Belgica có hoa trắng rất thơm. Hoa chuyển dần từ trắng sang màu vàng rồi màu đỏ hồng khi gần tàn. Người Anh gọi loài kim ngân hoa Hòa Lan là Dutch honeysuckle.
- Kim ngân hoa nhẫn đông có hoa màu trắng sữa, mang tên khoa học Lonicera fragrantissima. Người Anh gọi loại kim ngân hoa cực thơm này là fragrant honeysuckle hay winter honey suckle.
- Kim ngân hoa Việt Nam mang tên khoa học Lonicera dasystyla. Người Anh
gọi là kim ngân hoa Bắc Kỳ (Tonkinese honeysuckle). Dòng Lonicera của kim
ngân hoa được đặt tên dựa vào tên của vị bác sĩ Đức tên Lonicer, người Âu châu
tìm thấy kim ngân hoa đầu tiên vào thế kỷ XVI.
Dạ lý hương được tìm thấy khắp nơi trên thế giới: ở Đông Nam Á, bắc Úc Đại Lợi, Hoa Nam, Nam Á, các hải đảo trong biển Carribean, Trung và Nam Mỹ.
Người Maya cho rằng Thần Chết Kisin sinh ra trong bụi cây dạ lý hương. Ở một địa phương ở Ấn Độ, người ta cho rằng hương thơm của dạ lý hương hấp dẫn rắn đến nên người ta không trồng dạ lý hương gần nhà. Cũng tại Ấn Độ, người ta dùng hoa dạ lý hương để cúng thần Shiva và Ganesh.
Độc chất trong lá, thân, hoa, trái dạ lý hương gây tử vong cho động vật có vú như chó, ngựa, và cả loài người vì có alkaloids tựa như atropine, glycoalkaloid solanine. Một con bò ăn 15 pounds, lối 6.8 ki-lô, lá, thân dây dạ lý hương thì chết. Ăn trái bị nôn mửa, xùi bọt mép và có thể bị tử vong nếu không cứu chữa kịp thời. Hương thơm của dạ lý hương gây dị ứng cho người bị bịnh suyển, gây ngứa cuống họng, bị nôn mửa vì sự hiện diện của ác xít chlorogenic C16 H18 O9. Lá và hoa dạ lý hương dùng làm thuốc trị động kinh, nhức đầu, mất quân bình. Ở Mễ Tây Cơ, thời văn hóa Maya, người ta nấu lá và hoa dạ lý hương tắm để trị chứng mồ hôi trộm.
Hoạt chất lấy từ dạ lý hương làm chết lăn quăng của muỗi Ardes aegypti gây ra sốt xuất huyết ( sốt Dengue). Flavonoids của hoa dạ lý hương hủy tế bào beta của chuột bị tiểu đường ( thí nghiệm). Thí nghiệm này cho thấy dạ lý hương có thể được dùng để trị bịnh tiểu đường. Nhưng phải thận trọng vì dạ lý hương có độc chất có thể gây tử vong.
DÂY THIÊN LÝ
Lá thiên lý hình trái tim màu xanh sậm. Hoa màu vàng-xanh nhạt. Hoa búp thon dài. Hoa rất thơm về đêm vì sự hiện diện của geraniol, beta- ionone, dihydro- beta ionone, dihydro beta- ionol. Hoa và lá dùng để nấu canh hay chiên với hột gà. Đó là nguyên liệu nấu nướng được yêu thích ở miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam, Trung Hoa, Mã Lai, Ấn Độ, Thái Lan v.v. Người Ấn Độ cho hoa thiên lý vào món cà-ri của họ. Người Mã Lai cho hoa thiên lý vào món gulai của họ. Ca dao Việt Nam về hoa thiên lý được ghi chép như sau:
Thương chồng nấu cháo cao lương Nấu canh hoa lý, nấu chè hột sen
* Tóc em dài, em cài hoa thiên lý Miệng em cười có ý anh thương
Hoa thiên lý có sinh tố A, B1, B2, proteins, carbohydarates, chất vôi, sắt, phosphorus v.v.
Tên khoa học của hoa thiên lý là Telosma cordata ( còn nhiều tên khác) thuộc gia đình Asclepiadaceae. Người Anh gọi hoa thiên lý là Tonkin jasmine (Hoa Lài Bắc Kỳ), Tonkin creeper (dây leo Bắc Kỳ) (2), Chinese violet, Pakalana vine, cowslip creeper ; Mã Lai: Bunga Tongteng (2); Thái Lan: Dok salit; Tamil: Chambanga; Pháp: Parfum nocturne (dạ hương); Tây Ban Nha: Fragancia nocturna.
Ở Việt Nam, Cambodia, Lào, hoa thiên lý được xem là nhuận tiểu. Theo Giáo sư Nguyễn Văn Dương trong quyển Medicinal Plants of Viet Nam, Cambodia and Laos, tr. 77, năm 1962 bịnh viện Thái Bình báo cáo dùng lá thiên lý làm thuốc đắp trị sa ruột và sa tử cung có kết quả tốt.
Ở Trung Hoa, đó là nguyên liệu sản xuất một loại dầu thơm đắt tiền có hương thơm như dầu thơm Chanel No.5. Ngoài việc dùng hoa thiên lý trong nhà bếp, người ta còn dùng nó để trị đau mắt ( nhậm mắt).
Rễ dây hoa thiên lý dùng làm thuốc trị hàn chứng ( bị lạnh) vì tiểu đường, tẩy độc trong cơ thể, hạ nhiệt, tiểu viêm, đau mắt. Lá thiên lý có tính sát trùng, trị trĩ ( hemorrhoid), ung nhọt.
Hoa có nhiều flavonoids kháng trùng, bảo vệ gan nhưng gây trụy thai.
Lá và rễ có steroids, nhiều alkaloids, tannins, beta- sistosterol, glucoside, calactin, caletropin. Ở Ấn Độ ngày xưa người ta dùng thiên lý Ultaran để trị phong hủi, thiếu hồng huyết cầu, trĩ. Lá dùng để trị tiểu đường, tê thấp. Lá thiên lý Ultaran nhuận tiểu, nhuận trường, trị sạn thận, bịnh gan.
DÂY HOA LÀI VÀNG
Hoa lài vàng có hương thật thơm dùng để cất nước hoa, tạo sự thư giãn cho phụ nữ mang thai sinh sản dễ dàng.
Ngoài hoa lài vàng vừa nói, ở Nhật có nhiều hoa lài vàng Jasminum mesnyi mà người Nhật gọi là Kin- sokei. Người Anh gọi hoa lài vàng Nhật là Japanese jasmine, Primrose jasmine, Winter jasmine (Hoa lài đông tiết); Ấn Độ: peeli malati. Hoa lài vàng Nhật rất thơm và đẹp. Hoa tựa như hoa mai nhưng có hai lớp. Do đó có thể có đến 10 cánh hoa vàng.
Ở Ý có hoa lài vàng Jasminum humile ( chậm lớn). Thực tế hoa lài vàng Jasminum humile này gốc ở Afghanistan, Hy Mã Lạp Sơn, Sichuan ( Tứ Xuyên) nhưng vi1 người ta thấy trồng nhiều ở Ý nên gọi là hoa lài vàng Ý ( Italian jasmine). Hoa lài vàng Ý rất thơm, có nhiều antioxidants, kháng trùng, cầm máu, trị hắc lào ( ringworm ), ích lợi cho tim. Lá phơi khô dùng để nấu nước uống như trà.
Ở miền đông Hoa Kỳ có hoa lài vàng độc không thuộc dòng Jasminum và gia đình Oleaceae mà thuộc dòng Gelsemium và gia đình thảo mộc Loganeaceae. Tên khoa học của loại hoa lài vàng độc này là Gelsemium sempervirens. Người Hoa Kỳ gọi là Carolina jasmine (Hoa lài Carolina). Độc chất do sự hiện diện của alkaloids độc như gelsemine, gelseminine liên hệ đến strychnine C21 H22 N2 O2 dùng làm thuốc diệt chuột. Nhưng trên cơ sở "lấy độc trị độc" hoa lài vàng độc được dùng để trị bịnh thần kinh, suyển, ho gà, hạ sốt, động kinh, bắp thịt co giật. Xin đừng tự ý dùng nếu không có sự hướng dẫn của thầy thuốc. Hoa lài vàng độc là hoa biểu tượng của tiểu bang South Carolina.
DÂY SỬ QUÂN TỬ: DÂY GIUN
Người Anh gọi dây sử quân tử là vermifuge liane (dây giun), Chinese honey suckle (Kim ngân hoa Trung Hoa), Rangoon creeper dịch văn vẻ bác học là Ngưỡng Quang đằng ( Rangoon : Ngưỡng Quang, thủ đô của Miến Điện; Đằng : dây leo) (3) - Pháp: Quisqualis d’Inde - Tây Ban Nha: Quiscual - Tagalog (Phi Luật Tân): talolong; niyog- niyogan - Ấn Độ: Madhu malti; Lào: Khua hung.
Tên khoa học của dây sử quân tử là Quisqualis longiflora ( vì hoa có cuống dài), Quisqualis pubescens (có lông), Quisqualis indica (indica: Ấn Độ; Quisqualis: cái gì?- Quisqualis indica: cái gì ở Ấn Độ nếu dịch sát nghĩa của tên khoa học của dây sử quân tử ( dây giun). Dây sử quân tử thuộc gia đình Combretaceae.
Trái dùng để trị ho, viêm thận. Hột dùng để trục lãi.
Người Phi Luật Tân rất chú ý đế dây sử quân tử nên nghiên cứu khá nhiều về loại dây có hoa thơm và có hột trị lãi này.
Bài viết tổng hợp này đưa vào Thế Giới Thảo Mộc Tự Điển do tác giả Phạm Đình Lân biên soạn.
Phạm Đình Lân
Ghi chú : (1) Không biết vì sao người Pháp đặt tựa bài Scarborough Fair là Chèvrefeuille Que Tu Es Loin và được Phạm Duy dịch thành Giàn Thiên Lý Đã Xa. Nhưng Chèvrefeuille (goat leaf) là Kim ngân hoa chớ không phải hoa thiên lý. Người Pháp gọi hoa thiên lý là Parfum nocturne (dạ hương).
(2) Chữ Tonkin âm từ Đông Kinh (Đông Đô) tức Thăng Long (Hà Nội). Dần dần Tonkin co nghĩa là Bắc Kỳ tức Bắc Bộ bây giờ. Các sách cổ viết : Tonking, Tongking hay Tonquing.
(3) Burma (Birmanie) là danh xưng của nước Miến Điện. Ngày nay danh xưng này được đổi thành Myanmar. Thủ đô Rangoon mà người Trung Hoa âm thành Ngưỡng Quang trở thành Yangon. Hiện nay thủ đô của Miến Điện là Naypidaw có nghĩa là ‘thành phố của các vua '.
|