PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

 

HƯƠU CAO CỔ VÀ THÂN THUỘC

 


          Cả hội trường vỗ tay hoàn nghinh đại diện Hươu Cao Cổ vì chiều cao dị thường của ông ta. Ông không già mà ở vào tuổi trung niên nhưng tướng đi của ông xiêu vẹo như muốn ngã. Ông mặc bộ đồ rằn ri viền trắng với vô số đốm vàng đỏ trông đẹp mắt. Thấy tướng đi xiêu vẹo của đại diện Hươu Cao Cổ, ban nhạc Equine của Mã tộc trỗi bản Ngựa Phi Đường Xa cho đại diện dòng Giraffa lấy lại thăng bằng. Quả nhiên bản nhạc có tác dụng phần nào. Đại diện Hươu Cao Cổ đi chậm lại, bước đi có phần vững chắc hơn. Ông đứng trước máy vi âm và đọc bài tham luận bằng một giọng nói nhỏ nhẹ rất khó nghe.

 

****


Tôi là đại diện Hươu Cao Cổ Phi Châu. Hôm nay tôi đại diện cho dòng Giraffa và dòng Okapia tức Hươu Chân Rằn để đọc bài tham luận về dòng tộc chúng tôi.

Quê hương của chúng tôi là thảo đã và rừng xanh Phi Châu xích, nhiệt đới. Tên La Tinh của dòng tộc chúng tôi là Giraffa camelopardalis ( Lạc Đà Beo) thuộc gia đình Giraffidae. Tên thường gọi là:

Anh

Pháp

Ả Rập

Somalia

Ý

Giraffe

Girafe

Zarafah

Geri

Giraffa

 

Chúng tôi là động vật có vú, ăn cỏ nhai lại như các anh chị Ngưu và Thuỷ Ngưu. Loài người cho rằng chúng tôi là động vật có vú cao hơn cả Voi và Tê Giác. Có người nói chúng tôi có mặt lạc đà, mắt to, lông nheo dài và rậm nhưng vẻ mặt ngơ ngác. Chúng tôi mặc áo có đốm vàng- đỏ, viền trắng như áo quần của anh chị Báo tức Beo. Đặc điểm của chúng tôi là có mắt to, con ngươi có màu, có hai sừng nhỏ tựa như lỗ tai. Điểm nổi bật trên hình vóc của chúng tôi là cổ dài từ 2 đến 2. 5 m; chân cao từ 1.80 m đến 2 m; đuôi dài gần 1 m. Chiều cao thường thấy của tộc Giraffa là 6 m.

 

Thức ăn của dòng Giraffa là cỏ, lá cây, mầm non cây kể cả gai nhỏ. Lá cây ưa thích nhất của chúng tôi là lá me keo có mùi nồng; cây có nhiều gai. Chúng tôi không ngại lá trên cao vì cổ chúng tôi dài; lưỡi chúng tôi dài từ 45 - 55 cm.

Về hình dáng sự phân biệt giữa nam và nữ Hươu Cao Cổ căn cứ vào:

Phái

Chiều dài

Trọng lượng

Cổ

Nam

4.80 - 6 m

1500 kg

2 - 2.6 m

Nữ

4 - 4.65

850 kg

1.5 - 2m

 

Chân có móng guốc. Mỗi chân có 02 móng. Dòng Giraffa có vài đặc điểm chung sau đây:

1. Có thể uống nước một lần cho nhiều ngày liên tiếp. Khi uống nước Hươu Cao Cổ chúng tôi phải bẹt hai chân trước ra để giữ cho thân hình thăng bằng khi cái cổ dài chúi xuống mặt nước.

2. Luôn luôn đứng kể cả lúc ngủ

3. Các chị Hươu Cao Cổ sinh đứng

4. Hươu Cao Cổ chúng tôi rất ít ngủ. Khi ngủ cũng đứng. Mỗi ngày chúng tôi ngủ nhiều nhất là 02 giờ trong ngày. Vậy mà sao không ho lao nhỉ?

5. Hươu Cao Cổ chúng tôi là động vật tương đối hiền. Sức mạnh của dòng Giraffa được tìm thấy nơi cổ. Hầu hết các anh Hươu Cao Cổ đều có cổ dài và nặng hơn các chị. Cổ chúng tôi là võ khí và sức mạnh của chúng tôi. Hươu Cao Cổ đánh nhau bằng cổ. Dù cổ dài như vậy, cổ của Hươu Cao Cổ chỉ có 07 đốt xương như cổ của loài người. Cố nhiên mỗi đốt xương cổ của Hươu Cao Cổ rất dài và to lớn: từ 28 - 35 cm.

6. Bề ngoài xem chúng tôi mặc quần áo da Beo như giống nhau. Thực tế không quần áo Hươu Cao Cổ nào có đốm giống nhau cả nếu quan sát thật kỹ. Cổ dài và nặng là võ khí tốt để thắng đối phương trong trận đấu bằng cổ (necking) trong việc tranh giành quyền giao tình với nữ phái dòng Giraffa. Các chị Hươu Cao Cổ cũng có sự lựa chọn người yêu qua chiều dài và trọng lượng của cổ của các anh Hươu Cao Cổ.

7. Hươu Cao Cổ không ồn ào như những động vật có vú khác. Họ liên lạc với nhau bằng những tiếng kêu rất nhỏ, nhỏ đến đỗi loài người không thể nào nghe được nếu không có mấy khuếch tán âm thanh.

8. Hươu Cao Cổ chúng tôi có mắt sáng, con ngươi có màu, lông nheo rậm rạp và mũi rất thính để tránh ánh sáng chói lọi của mặt trời miền xích, nhiệt đới Phi Châu và những trận bão cát sa mạc. Thị giác, thính giác và khứu giác của Hươu Cao Cổ rất tốt.

9. Lưỡi của dòng Giraffa chúng tôi rất dài (55 cm) nên Hươu Cao Cổ có thể dùng lưỡi để lau mặt, mũi, tai và ăn lá me keo trên cao.

10. Trái tim của Hươu Cao Cổ dài 60 cm (06 tấc) và cân nặng 11 ki- lô.

11. Hai chân sau của dòng Giraffa rất mạnh. Giống như Mã tộc, Hươu Cao Cổ đá giò lái rất mạnh. Nếu đã trúng Sư Tử cũng bị vỡ sọ hay thê thảm hơn đầu rời khỏi cổ như bị chém vậy.

12. Chân của dòng Giraffa có những tuyến tiết ra một chất dầu như hắc ín lỏng có mùi để Hươu Cao Cổ nhận ra lãnh thổ sinh sống của mình

  Tuổi yêu đương của các chị Hươu Cao Cổ sớm hơn các anh. Tuổi yêu đương của Hươu Cao Cổ nữ xê dịch từ 03 - 05 tuổi. Tuổi yêu đương của Hươu Cao Cổ nam là 06 - 07 tuổi. Các anh Hươu Cao Cổ tìm người yêu để ái ân bằng cách đánh hơi nước tiểu của các chị. Sau khi giao tình các chị mang thai từ 14 đến 15 tháng thì sinh con. Hươu Cao Cổ con ra đời đã cao từ 1 - 1.5 m và cân nặng từ 45 - 50 ki lô. Sinh ra trong 01 tiếng đồng hồ Hươu Cao Cổ con có thể đứng dậy. Sau 10 tiếng đồng hồ Hươu Cao Cổ con có thể đi xung quanh mẹ. Hươu Cao Cổ con bú sữa trong vòng một năm thì dứt sữa. Họ ăn thuần lá cây để sống như các Hươu Cao Cổ trưởng thành.

Hươu Cao Cổ có chân cao nhưng tướng đi như không vững. Khi đi hai chân phải bẹt về phía bên phải; hai chân bên trái bẹt về phía trái để thân hình được thăng bằng. Mỗi chân có hai móng guốc. Hươu Cao Cổ chúng tôi chạy khá nhanh. Tốc độ trung bình xê dịch từ 50 - 60 km giờ.

Trong trạng thái hoang dã tuổi thọ của Hươu Cao Cổ xê dịch từ 20 - 25 tuổi. Trong trạng thái bị giam cầm tuổi thọ của dòng Giraffa cũng không hơn kém bao nhiêu so với đời sống hoang dã. Vì thiếu lá me keo Acacia leucocephala trong tình trạng bị giam cầm chăng?

Hàng ngày Hươu Cao Cổ chúng tôi phải vất vả đi tìm lá cây để ăn. Mỗi anh Hươu Cao Cổ ăn trung bình 45 ki- lô lá mỗi ngày. Dòng Giraffa chúng tôi giống các anh chị Lạc Đà. Chúng tôi uống nước một lần để khỏi phải uống trong vài ngày liên tiếp. Mắt và mũi chúng tôi rất nhạy nên cát không vào mắt hay mũi khi có bão cát.

Trong đời sống hoang dã trong rừng hay trên các thảo dã Phi Châu chúng tôi rất ghét bọn Chó Sói, Linh Cẩu, Beo, Sấu, Sư Tử. Bọn này tìm cách tấn công chúng tôi để ăn thịt.

 

 

  Bọn Sư Tử, Beo, Chó Sói, Sấu... khủng bố tinh thần các thân thuộc của chúng tôi thuộc dòng Okapia. Nhiều khi các anh chị ấy trốn Beo 08, 09 tuần lễ trong rừng mà không ăn uống gì cả. Cho đến năm 1901 các anh chị dòng Okapia vẫn chưa được loài người cho vào gia phả động vật. Các anh chị ấy nhút nhát lắm. Họ sống âm thầm trong rừng thẳm Phi Châu. Thân hình của các anh chị ấy khác thường. Họ mặc quần áo màu hung đỏ- đen. Đầu cổ giống ngựa hay lừa, bốn chân vằn vện giống ngựa rằn. Nhưng họ được các nhà động vật học liệt vào gia phả Giraffidae của Hươu Cao Cổ chúng tôi. Người Việt Nam gọi họ là Hươu Chân Rằn hay Hươu Đùi Rằn. Người Anh gọi họ là Okapi. Tên khoa học của các anh chị Hươu Chân Rằn dòng Okapia là Okapia johnstoni đặt theo tên của nhà vạn vật học và nhà hành chánh thuộc địa Anh ở Uganda, Harry Johnston. Người Anh gọi họ là Okapi. Thực sự họ không phải là Hươu (wapiti- Cervus elaphus), thân thuộc của Nai (Lộc) thuộc gia đình Cervidae. Nhưng cũng khó gọi các anh chị Okapi là Hươu Cao Cổ Đùi Rằn (thực sự bốn chân đều rằn) vì các anh chị ấy không có cổ cao như chúng tôi. Địa bàn sống của anh chị Okapi là Congo, Uganda và các quốc gia Trung Phi. Vóc dáng các anh chị Okapi tạm ghi như sau:

Chiều dài

Chiều cao

Trọng lượng

2 - 2.50 m

1.65 m 180

320 ki-lô


Thức ăn của Okapi là cỏ, lá cây, mầm non cây cối, trái cây, nấm, than hầm, đất sét hầm (lò gốm). Kẻ thù của Hươu Cao Cổ cũng là kẻ thù của Okapi. Các anh chị Hươu Chân Rằn sống âm thầm và kiếm ăn vào ban đêm nên thị giác của các anh chị ấy mạnh hơn thính giác.

Okapi được xem là trưởng thành khi được 03 tuổi. Như Hươu Cao Cổ và các động vật có vú to lớn khác, vào mùa động cỡn các anh Okapi cũng đấu đá nhau tranh giành ưu thế giao tình với các chị Okapi tức Hươu Chân Rằn hay Hươu Đùi Rằn. Sau khi giao tình, các chị Okapi mang thai lối 14, 15 tháng mới sinh. Thường thường các chị sinh một con. Trường hợp sinh đôi ít khi xảy ra. Okapi con bú sữa mẹ đến 06 tháng thì dứt sữa mặc dù Okapi mẹ vẫn còn nhiều sữa.

Giống như Hươu Cao Cổ chúng tôi, Hươu Chân Rằn có lưỡi rất dài khả dĩ dùng lưỡi lau mặt, mũi và tai. Hươu Chân Rằn có sừng nhỏ khi được 01 tuổi. Giống như sừng Hươu Cao Cổ, sừng của Hươu Chân Rằn rất ngắn. Ở xa không biết là sừng. Chân của các anh chị Okapi có hạch tiết một chất nhờn tựa như một loại nhựa lỏng có mùi để các anh chị nhận ra lãnh thổ của mình. Giống như Hươu Cao Cổ dòng Okapi truyền thông nhau bằng một âm thanh rất nhỏ loài người không sao nghe được. Các anh chị Okapi còn có biệt tài tránh né bọn Sư Tử, Beo, Chó Sói rất tài tình trong rừng sâu, cây cối rậm rạp.

****

Dòng Giraffa chúng tôi là động vật to lớn sớm tiếp xúc với người Ai Cập cổ ngay từ năm 2500 trước Tây Lịch. Nhiều người tưởng quê hương gốc của chúng tôi là Ai Cập. Các vua chúa Ai Cập được xứ Nubia triều cống Hươu Cao Cổ mà họ gọi là Mama. Từ Punt, Hươu Cao Cổ được đưa vào sở thú của nữ hoàng Ai Cập Hatshepsu (1508 - 1482 trước Tây Lịch). Trong đàn thú do vua Ramses II nuôi có Hươu Cao Cổ. Jules Caesar đem Hươu Cao Cổ từ Ai Cập về Rome (La Mã) năm 46 trước Tây Lịch. Đó là anh Hươu Cao Cổ đầu tiên vượt Địa Trung Hải đến Âu Châu. Pliny (23 - 79 sau Tây Lịch), tác giả bộ Historia Naturalis (Lịch Sử Thiên Nhiên) gồm 37 quyển, gọi Hươu Cao Cổ chúng tôi là Trừu Rừng (Ovis ferae, Ovis orientalis, Ovis musimon - mouflon- thuộc gia đình Bovidae của Ngưu tộc).

Người Hy Lạp cho rằng Hươu Cao Cổ chúng tôi là sự pha chủng giữa Lạc Đà và Báo tộc. Do đó chúng tôi mang tên khoa học Griffa camelopardalis.

Người Iran (Ba Tư) gọi chúng tôi là Ushturgas tức Lạc Đà Bò.

Năm 1421 Zheng He ( Trịnh Hoà) chỉ huy đoàn tàu vượt Thái Bình Dương vòng qua Ấn Độ Dương để đến Đông Phi. Ông chở về Trung Hoa một cặp Hươu Cao Cổ. Lúc bấy giờ người Trung Hoa chưa biết Hươu Cao Cổ nên gọi cặp Hươu Cao Cổ này là Kỳ Lân (Qilin). Người Nhật và Triều Tiên cũng gọi na ná như vậy: Kirin.

Người Ả Rập gọi chúng tôi là Zarafah có nghĩa là động vật đi nhanh, động vật duyên dáng. Họ nhìn chúng tôi dưới nhiều nhãn quan khác nhau:

a. có người xem chúng tôi là kết quả của sự hợp chủng giữa Lạc Đà và Báo

b. có người nói chúng tôi là Lạc Đà lai Linh Cẩu và Bò (Ngưu)

c. có người nói chúng tôi là Lạc Đà pha chủng với Ngựa ( Mã tộc).

Năm 1826 phó vương Ai Cập là Muhammed Ali (1769 - 1849) thời đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) tặng vua Charles X của Pháp một chị Hươu Cao Cổ Zarafa. Người Pháp cho chị Zarafa đi diễn hành từ Marseille đến Paris qua nhiều thành phố khác. Đâu đâu chị Zarafa cũng được dân chúng hoan nghinh. Chị Zarafa là món quà ngoại giao của Pasha ( phó vương) Muhammed Ali cho vua Pháp với hy vọng Pháp đừng can thiệp vào cuộc khởi nghĩa của người Hy Lạp chống đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Con trai Muhammed Ali chỉ huy quân Ai Cập trấn áp cuộc nổi dậy của Hy Lạp. Các văn sĩ, thi sĩ, hoạ sĩ Pháp không ngớt tán tụng chị Zarafa (duyên dáng). Văn sĩ Honore de Balzac viết bài ca ngợi chị. Gustave Flaubert còn trẻ cũng nô nức rời Rouen đi Paris để được thấy mặt chị Zarafa. Phong trào ái Zarafa tức ái Hươu Cao Cổ (Zarafamania hay Giraffomania) dậy lên ở Pháp. Hình ảnh Zarafa xuất hiện khắp nơi, trên các giá vẽ, trên các đĩa sành sứ, cà vạt, bàn ghế v. v.. Người ta nói về cuộc hành trình 2, 000 dặm ( lối trên 3, 200 km) của Zarafe vừa rời mẹ xuống thuyền đi từ thượng nguồn sông Nile đến cảng Alexandria của Ai Cập. Rồi từ đó chị Zarafa ngồi tàu vượt Địa Trung Hải để đến Marseille. Chị Zarafa được gọi một cách trìu mến và kính trọng le bel animal du Roi (Động Vật Đẹp của Quân Vương). Phụ nữ chải tóc theo một kiểu mới gọi là à la girafe tức theo kiểu Zarafa. Bàn ghế quí phải có chữ à la girafe (theo kiểu Hươu Cao Cổ). Chén, đĩa, ly cũng có chữ à la girafe. Bất cứ sản phẩm gì kể cả nón, cà vạt đều có chữ à la girafe đều bán cao giá. Chị Zarafa sớm được danh dự như vậy nhưng đời chị cô đơn tẻ nhạt. Chị không có con mặc dù chị có chung sống với một anh Hươu Cao Cổ ở Ý. Phong trào ái mộ chị Zarafa sớm tan biến. Năm 1845 chị mất. Thi thể chị được bảo quản và được đưa về Bảo Tàng Viện Lịch Sử Thiên Nhiên (Museum d’Histoire Naturelle) ở La Rochelle nơi có tượng của chị như biểu tượng của Viện Bảo Tàng vậy. Năm 2012 phim Zarafa được ra mắt khán giả ái mộ Hươu Cao Cổ ở Pháp.

 

Zarafa tại Bảo Tàng Lịch Sử Thiên Nhiên ở La Rochelle


Nếu chị Zarafa được tung hô ca ngợi như vậy thì anh Marius lại bị giết oan uổng năm 2014 tại Sở Thú Copenhagen, Đan Mạch, giữa lúc anh khoẻ mạnh và vừa đến tuổi yêu đương. Lý do bị xử tử cho Sư Tử ăn thịt là vì người ta sợ anh yêu chị Hươu Cao Cổ cùng chuồng và cùng giống. Nhiều người ký tên xin đừng giết anh và hỏi rõ tại sao đã tiệt trùng Marius rồi còn phải giết anh ấy làm gì? Người có thẩm quyền giải thích không có chỗ để chứa Marius. Nhiều nơi khác sẵn sàng chứa Marius nhưng Marius vẫn bị hành quyết và xẻ thịt cho Sư Tử ăn.

Trong Cựu Ước Kinh phần Deuteronomy (Phục Truyền Luật Lệ Ký) 14: 5 đề cập đến những con vật có móng chẻ và nhai lại được xem là động vật sạch có thể ăn được như Nai, Trừu Rừng, Dê Rừng, Sơn Dương. Không thấy đề cập đến Hươu Cao Cổ mà chỉ đề cập đến Trừu Rừng Ovis orientals, Ovis musimon thuộc gia đình Bovidae của Ngưu tộc. Người Anh gọi là Mouflon. Điều hiểu được là Do Thái không có Hươu Cao Cổ. Như đã thấy Pliny cũng có cái nhìn giống với Cựu Ước Kinh về Hươu Cao Cổ và Trừu Rừng.

Người Việt Nam có vẻ xa lạ với dòng Giraffa chúng tôi nên trong ngôn ngữ của họ không thấy nói về dòng tộc chúng tôi. Chữ Girafe của tiếng Pháp chỉ Hươu Cao Cổ và ám chỉ người ốm, cao lều khều như Hươu Cao Cổ chúng tôi.

Trong Thiên Văn Học có sao Giraffe hay Cameloardalis ( Lạc Đà Báo: Hươu Cao Cổ) nằm giữa chòm sao Ursa Major (Đại Hùng Tinh) và Perseus (anh hùng trong uyền thoại Hy Lạp. Perseus là con của Thần Zeus và Danae).

Ở Hoa Kỳ có nhiều bài hát về động vật dành cho nhi đồng. Trong đó có bài hát về dòng Giraffa của chúng tôi. Laurent St John viết cuốn The White Giraffe: And, Dolphin Song. Michael Allin viết quyển Zarafa: Giraffe s True Story nói về chị Zarafa du hành từ Trung Phi đến sông Nile., từ nguồn sông Nile đến cảng Alexandria để xuống tàu vượt Địa Trung Hải để sang Pháp bằng cảng Marseille. Chị du hành các thành phố Marseille, Lyon, Paris và được đông đảo người Pháp đến chào đón chị.

Hươu Cao Cổ chúng tôi là động vật cao nhất. Người Tây Phương xem chúng tôi là biểu tượng của sự lãnh đạo. Người lãnh đạo phải là người cao lớn. Tương truyền Saul, vị vua của Do Thái, là người cao lớn. Ông được mô tả như người đẹp trai, cao lớn và có bàn chân và đôi vai to lớn hơn bất cứ người nào ở Do Thái thời bấy giờ. Tổng thống Charles De Gaulle của Pháp là người cao 1.91 m. Chữ HAUT trong tiếng Pháp được dùng như danh từ lẫn tính từ. Từ chữ HAUT có tính từ HAUTAIN có nghĩa là cao ngạo, tự cao tự đại.

Người ta cho rằng nằm chiêm bao thấy Hươu Cao Cổ thì được nhiều phúc lợi và hạnh phúc.

Dòng Giraffa và Okapia hiền hoà, không bon chen trong cộng đồng động vật, không hữu ích cho loài người như các anh chị Ngưu, Thủy Ngưu, Mã, Tượng nên không được loài người biết đến. Người Phi Châu biết chúng tôi nhiều. Và vì vậy chúng tôi bị sát hại không ít. Như quí vị biết, 25% đến 50% Hươu Cao Cổ con bị bọn ăn thịt sống Sư Tử, Sấu, Beo, Chó Sói giết hại. Các nhà săn bắn Phi Châu giết hại chúng tôi để ăn thịt và lấy da. Họ thích giết hại dòng Giraffa vì có nhiều thịt; thịt ngon; da đẹp bán có giá ngoài thị trường. Họ bán óc và xương tuỷ của Hươu Cao Cổ cho người ăn với hy vọng trị được bịnh AIDS!!! Da thân thuộc chúng tôi dùng để làm áo, giày, dép, bóp, túi xách v. v.
Từ năm 1999 đến 2014 dân số dòng Giraffa ở Phi Châu sụt giảm từ 140, 000 xuống còn 80, 000 (tỷ lệ sụt giảm: 40%). Chánh phủ các quốc gia Phi Châu có Hươu Cao Cổ ra lịnh cấm săn bắn Hươu Cao Cổ nhưng lịnh ấy không được thi hành chặt chẽ.

Liên Hiệp Quốc Tế Bảo Tồn Thiên Nhiên (International Union for Conservation of Nature) cảnh báo về sự tuyệt chủng của dòng Giraffa. Họ khen ngợi Niger ngăn cấm việc săn bắn Hươu Cao Cổ hữu hiệu. Chẳng những vậy Niger còn nuôi 50 Hươu Cao Cổ vào thập niên 1990. Đến đầu thế kỷ XXI số Hươu Cao Cổ tăng từ 50 lên đến 400. Trong khi ở Tanzania thợ săn bắn giết bừa bãi dòng họ Giraffa chúng tôi. Thân nhân chúng tôi mất dần địa bàn sống, nhường đất và rừng cho loài người đốn cây làm củi, hầm than, bán gỗ, xây nhà cửa, chợ búa, giáo đường, trường học, bịnh viện, cơ sở thương mại, lập cầu kỳ, đường sá, hệ thống hoả xa v. v.

 

Nữ trang làm bằng lông đuôi Hươu Cao Cổ ở Phi Châu

Thức ăn ưa thích của chúng tôi là lá me keo Acacia leucocephala. Bây giờ tìm đâu đủ lá me keo cho chúng tôi theo khẩu phần 45 ki-lô mỗi ngày cho một Hươu Cao Cổ trưởng thành? Sở thú nuôi được bao nhiêu Hươu Cao Cổ? Đó là nguy cơ to lớn đe doạ sự sinh tồn của các động vật ăn cỏ to lớn như Voi, Tê Giác, Hà Mã, Hươu Cao Cổ trong tương lai. Càng ngày chúng tôi càng bị giết hại nhiều hơn khi loài người gán cho chúng tôi quá nhiều đặc tính hiếm hoi. Nào là những chiếc vòng làm bằng lông đuôi của Hươu Cao Cổ mang vào sẽ gặp nhiều may mắn. Nào là óc và xương tuỷ của chúng tôi có khả năng trị bịnh AIDS. Nói như vậy nên các thợ săn Phi Châu hăng hái vác súng hay cầm giáo, mác đi tìm chúng tôi để giết.

Hỡi cộng đồng động vật! Đừng vui sướng nghe lời khen ngợi của loài người! Lời khen của họ trở thành bản án tử hình đối với động vật chúng ta.

Ngọt mật chết ruồi.

Đó là thông điệp mà dòng Giraffa gởi đến quí vị.

Đại diện Hươu Cao Cổ Rothschild Giraffa camelopardalis peralta.

 


PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
__________________

Hình ảnh trong bài a2a trích từ internet

 

 

Trang Phạm Đình Lân

art2all.net