PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

 

NỖI L̉NG ĐẠI THỬ KANGAROO

           Đă đến giờ ḍng Đại Thử Kangaroo đọc tham luận nhưng không thấy đại diện Đại Thử đâu cả. Chuyên viên âm thanh cho trổi lên bài quốc ca Úc Đại Lợi Advance Australia Fair. Trưởng lăo Hồng Đại Thử Macropus rufus nghe quốc ca thúc giục nên biết đến phiên ḿnh đọc bài tham luận về Kangaroo. Hướng về hội trường ông vận dụng hết sức mạnh của ḿnh phóng thẳng lên máy vi âm với những lời xin lỗi chân thật giữa tiếng hoan hô vang dội trong hội trường ngoại trừ sự im lặng khó hiểu của Chó Dingo.

****

          Chúng tôi gốc ở Úc Đại Lợi, Nam Bán Cầu, tương đối xa lạ với các dân tộc khác trên thế giới. Có lẽ gọi chúng tôi là Kangaroo được nhiều người biết hơn là gọi chúng tôi là Đại Thử hay Chuột Túi. Gọi chúng tôi là Đại Thử hay Chuột Túi v́ thấy chúng tôi giống Chuột (Thử) nhưng khác với Chuột về chiều cao, chiều dài và trọng lượng to lớn của chúng tôi. Các chị Kangaroo c̣n mang một cái túi đựng con trước bụng. Mơm của Kangaroo chúng tôi to chớ không nhọn như mơm của các anh chị Chuột. Tai chúng tôi cao và rộng lớn. Tai chúng tôi giống tai Thỏ. Quần áo của chúng tôi giống quần áo của Dê và Nai nhưng chúng tôi nhỏ hơn Dê và Nai và chúng tôi không có sừng như Dương tộc và Lộc tộc.

Người Tây Phương nói nhiều về nguồn gốc của tên gọi Kangaroo. Nào là thuyền trưởng James Cook (1728 - 1779) sửa thuyền ở đông bắc Úc Đại Lợi. Ông gặp một tiền nhân của chúng tôi và hỏi một thổ dân động vật đó gọi là ǵ. Ông được trả lời là Kangaroo. Người ta cho rằng tiếng của thổ dân vùng đó Kangaroo có nghĩa là “Tôi không biết” hay “ Tôi không hiểu". Gần đây giả thuyết này bị bác bỏ. Người ta cho rằng Kangaroo là âm trại của chữ Ganguru, cách gọi tên ḍng tộc chúng tôi của thổ dân Gungu Yimidhirr.

Ḍng chính của tộc chúng tôi là Macropus (chân to) thuộc gia đ́nh Macropodidae. Nữ phái ḍng Macropus có túi để mang con trên bụng. Túi này xuất hiện rơ nét khi các chị bắt đầu đến tuổi dậy th́. Tên thông thường của chúng tôi là Kangaroo. Người Anh gọi:

Nam Kangaroo  Nữ Kangaroo Kangaroo con
Buck, Jack, Boomer   Doe, Jill Joey

Kangaroo chúng tôi là động vật có xương sống, có vú, có máu đỏ, sinh con, ăn cỏ và nhai lại như các anh chị Ngưu, Thuỷ Ngưu v. v. Địa bàn sinh sống của chúng tôi là các đồng cỏ, rừng, rừng chồi ở vùng khí hậu khô hạn ở Úc Đại Lợi. Ở khía cạnh nào đó chúng tôi giống Lạc Đà về địa bàn sống khô hạn và khả năng không uống nước trong nhiều ngày.

Ḍng tộc Kangaroo chúng tôi mặc quần áo màu hung đỏ hay màu xám có chút màu trắng. Chúng tôi sống theo đàn lối 40 50 Kangaroos. Xă hội Kangaroo là một xă hội đa thê, đoàn kết và tương trợ lẫn nhau. Đàn của Kangaroo có thể lên đến hàng ngàn Kangaroos vào mùa hạn hán, thiếu nước và thiếu cỏ trầm trọng.

Chúng tôi ăn cỏ, trái cây, các loại hột, mầm non cây và cả những cành cây tươi c̣n non. Có nhà thực vật học cho rằng chúng tôi vừa là động vật ăn cỏ vừa là động vật ăn tạp (v́ chúng tôi có ăn các loại côn trùng).

Kangaroo chúng tôi không đi mà nhảy lủng củng. Đuôi dài của ḍng Kangaroo giữ thăng bằng khi chạy hay nhảy. Chúng tôi có hai chân sau dài và mạnh có thể phóng nhảy xa đến 9 m. Hai chân trước ngắn được dùng như hai tay. Chúng tôi dùng hai chân sau để đá và hai chân ngắn phía trước để đánh đối phương khi chiến đấu. Tốc độ chạy nhảy của ḍng Kangaroo chúng tôi lối 50 - 60 km giờ tương đương với tốc độ xe hơi chạy trong thành phố ở Hoa Kỳ.

Kangaroo chúng tôi rất nhút nhát. Chúng tôi đi kiếm ăn ban đêm.

Kangaroo to lớn có thể dài từ 1 - 1.6 m; đuôi dài từ 0.90 - 1 m; cân nặng: 80 - 90 ki- lô.

Kangaroo nhỏ nhất là Kangaroo Chuột Xạ ( Musky Rat Kangaroo) dài từ 20 - 30 cm và cân nặng lối 340 - 500 grams.

Tuổi thọ của Kangaroo sống hoang dă lối 4 đến 10 tuổi. Tuổi thọ của Kangaroo bị giam cầm trong các sở thú có thể dài đến 20 hay 23 năm v́ họ có thức ăn đầy đủ hàng ngày, được chăm sóc sức khoẻ và không sợ các thợ săn, Rắn và Chó Dingo hoang (Canis lupus dingo) hay Chó Dingo thuần hoá (Canis familiaris dingo) đe doạ.

Kangaroo nam, nữ lên 2 hay 3 tuổi th́ bắt đầu làm công tác truyền giống. Như các động vật khác, vào mùa động cỡn, các anh Kangaroo đấu đá nhau bằng hai tay (hai chân trước) và hai chân sau. Anh Kangaroo thắng trận được độc quyền ái ân với các chị trong đàn. Thời gian mang thai của các chị kéo dài từ 30 đến 33 ngày. Mỗi lần chị sinh 01 hay 02 con nhỏ lối 2.5 cm nghĩa là chỉ bằng hột đậu to. Ít khi các chị Kangaroo sinh 04 con. Kangaroo con mới sinh nhỏ như hột đậu ván nhưng các cháu chóng lớn và được mẹ bỏ vào túi trước bụng. Khi nằm trong túi của mẹ Kangaroo các cháu để hai tay (hai chân trước) ra ngoài miệng túi. Các cháu thôi bú sữa mẹ sau khi được 01 tuổi.

Chúng tôi biết quí vị ít biết về ḍng họ chúng tôi. Ḍng họ Kangaroo có hai họ lớn:

a. Họ Macropodidae

b. Họ Hypsiprymnodontidae

 

MACROPODIDAE  

Đại gia tộc Macropodidae gồm có các ḍng:

- Macropus fuliginous: là Kangaroo xám ở tây nam và đông nam Úc Đại Lợi mặc dù tên gọi thường thấy là Kangaroo xám tây bộ Úc Đại Lợi. Các anh chị Kangaroo này được gọi là Kangaroo Lọ Nồi ( Sooty Kangaroo) hay Kangaroo Mặt Đen (Black- faced Kangaroo) v́ có lông mặt màu đen. Các anh chị Kangaroo xám ở tây nam và đông nam Úc này mặc đồ màu xám-đen- hung đỏ  sô-cô-la. Khác biệt giữa các anh chị Kangaroo này rất rơ rệt.

Phái  Dài Cao Đuôi Trọng Lượng
Nam 1- 1.4 m 1.3 m 0.8- 1 m 25- 50 ki- lô
Nữ 0.8- 1.1 m 0.95 m 0.75 m 15- 35 ki- lô

Tuổi dậy th́ của Nam là 20 tháng (01 tuổi 08 tháng) và Nữ là 17 tháng (01 tuổi 05 tháng).

Chỉ có anh Kangaroo Lọ Nồi nào đánh ngă đối thủ trong mùa động cỡn mới giao t́nh với các chị. Thời gian mang thai lối 30 ngày. Kangaroo Mặt Đen con rời khỏi túi mẹ khi được 07 tháng tuổi nhưng các cháu vẫn bú sữa mẹ đến 17 hay 18 tháng tuổi mới thôi sữa hạn. Khi Kangaroo con thôi sữa các chị Kangaroo sẵn sàng chuẩn bị cho những Kangaroo con khác.

Xă hội Kangaroo Mặt Đen là xă hội mẫu hệ, đa thê sống theo đàn từ 15 đến 20 thành viên. Dân số Kangaroo mặt đen ở tây nam và đông nam Úc Đại Lợi lối 1.5 triệu.

- Macropus giganteus: Chữ giganteus trong tên khoa học cho thấy các anh chị ḍng Kangaroo xám đông bộ Úc Đại Lợi này có vóc dáng to lớn nhưng không phải là to lớn nhất. Các anh chị ấy c̣n được gọi là Kangaroo Rừng. Điều đáng lưu ư về tộc Macropus giganteus là sự sinh sản mạnh của các chị Kangaroo Rừng. Các chị Kangaroo Rừng to lớn này bắt đầu đời sống pḥng the sau khi sinh con được 150 ngày. Do đó dân số Kangaroo Rừng rất cao so với các ḍng Kangaroo khác: 11.5 triệu. Một Kangaroo Rừng trên đảo Tasmania ở cực nam Úc Đại Lợi dài 2.92 m không kể đuôi và cân nặng 90 ki- lô. Chiều dài các anh Kangaroo Rừng khác xê dịch từ 0.95 - 2.30 m; đuôi dài từ 0, 50 đến 1.10 m; cân nặng lối 85 ki- lô. Các chị th́ nhỏ hơn nhiều. Trọng lượng trung b́nh của các chị lối 42 ki- lô. Tuổi dậy th́ của các chị là 17 tháng. Tuổi dậy th́ của các anh có khi lên đến 25 tháng. Thời gian mang thai là 36 ngày. Kangaroo Rừng con mới sinh nặng 0.8 gram. Các cháu rời túi mẹ 283 ngày sau khi sinh và thôi bú vào ngày thứ 320.

 

- Macropus rufus:   Loài người gọi ḍng họ Kangaroo này là Hồng Đại Thử tức Kangaroo Đỏ v́ nam phái ḍng này mặc quần áo màu hung đỏ. Nữ phái mặc quần áo xám- xanh. Ở một vài vùng màu sắc trên đảo ngược lại cho nam và nữ phái Hồng Đại Thử. Kangaroo ḍng Macropus rufus sống rải rác khắp nước Úc trên các thảo dă, sa mạc, rừng cây bụi. Đây là ḍng Kangaroo có h́nh dáng to lớn. Trọng lượng trung b́nh lên đến 90 ki- lô cho nam phái. Đuôi dài từ 1 - 1.2 m. Chiều dài không tính đuôi xê dịch từ 1.3 - 2 m. Hai chân sau của Kangaroo Đỏ dài và mạnh có thể phóng xa 9 m và nhảy cao 3 m. Tuổi yêu đương của nam phái là 24 tháng tuổi và nữ phái là 20 tháng tuổi. Sau khi ái ân các chị Kangaroo Đỏ mang thai trong ṿng 33 ngày th́ sinh. Kangaroo Đỏ con mới sinh lối 2.5 cm. Các cháu sống trong túi trước bụng mẹ 235 ngày và chỉ thôi bú sữa sau khi được 01 tuổi tức 365 ngày sau khi sinh. Kangaroo Đỏ có thị giác, thính giác và khứu giác rất tốt. Họ thường đi kiếm ăn vào buổi chiều và ban đêm.

- Macropus antilopinus:  Người Anh gọi tộc này là Antilopine Kangaroo, Antilope wallaroo, Antilopine wallaby tạm dịch chung là Kangaroo Linh Dương v́ các anh chị Kangaroo này giống Linh Dương qua màu hung đỏ- vàng của quần áo. Ḍng Kangaroo Linh Dương sống ở miền bắc Úc Đại Lợi nhất là trên các đảo. Các anh chị Kangaroo Linh Dương thường có vết lông trắng dưới chân và bụng có lông đen. Các anh có mũi có hai lỗ rất rộng. Các anh có vóc dáng to gấp đôi vóc dáng của các chị. Trung b́nh các anh cân nặng 70 ki- lô trong khi các chị chỉ cân nặng trung b́nh từ 15 đến 30 ki- lô. Tuổi yêu đương của các chị Kangaroo Linh Dương là 16 tháng và tuổi yêu đương của các anh là 20 tháng. Thời gian mang thai của các chị sau khi ái ân là 35 ngày. Kangaroo Linh Dương con rời túi của mẹ sau 06 tháng tuổi nhưng vẫn tiếp tục bú sữa mẹ đến 15 tháng tuổi. Xă hội Kangaroo Linh Dương có vẻ là một xă hội đa thê và mẫu hệ v́ đa số thành viên trong đàn là nữ với một anh đầu đàn mạnh và độc quyền ân ái với các chị. Các anh khác trở thành kẻ độc thân cô đơn.

 

- Dendrolagus bennettianus:  Ḍng Dendrolagus là ḍng Kangaroo sống trên cây. Các anh chị Kangaroo ḍng này có tai nhỏ, quần áo màu hung đỏ-đen, mơm đen. Người Anh gọi các anh chị ấy là Bennett’s tree Kangaroo, Dusty tree Kangaroo. Người Pháp gọi là Kangourou des arbres hay Dendrolague de Bernett. Địa bàn sống của các anh chị Kangaroo ḍng Dendrolagus là miền đông bắc Queensland, Úc Đại Lợi. So sánh với các anh chị Kangaroo sống dưới đất, các anh chị Kangaroo sống trên cây có hai chân trước dài và hai chân sau ngắn hơn chân trước và chân sau của các anh chị Kangaroo sống dưới đất. Đặc điểm khác của ḍng Dendrolagus là có đuôi dài hơn cả thân ḿnh.

Phái Đuôi Chiều dài thân ḿnh Trọng lượng
Nam 0.8- 0.9 m 0.7- 0.8 m 15 ki- lô
Nữ 0.7- 0.75 m 0.65- 0.7 m 10 ki- lô

So với các anh chị Hồng Đại Thử trọng lượng của các anh chị ḍng Dendrolagus chỉ bằng 16%. Nhưng các anh chị ḍng Dendrolagus có thể phóng từ cành cây này sang cành cây khác cách xa nhau 9 m hay có thể nhảy từ trên cây cao 15 m xuống đất một cách an toàn như Miêu tộc. Ḍng Kangaroo Dendrolagus giảm dân số trầm trọng v́ các chị chỉ sinh vỏn vẹn một cháu. Các cháu sống bám bên mẹ 02 năm. Trên 50% các Kangaroo con ḍng Dendrolagus sống trên cây tự túc một cách khó khăn.. 

 

HYPSIPRYNODONTIDAE

            Thân thuộc nhỏ bé của Kangaroo chúng tôi là Kangaroo Chuột Xạ ( Musky Rat Kangaroo) mang tên khoa học Hypsiprymnodon moschatus v́ toát mùi xạ. Các anh chị này có vóc dáng của Thử tộc từ kích thước, màu quần áo, đuôi không có lông nhưng có vẩy, mỏ nhọn. Các chị ḍng này chỉ giống Kangaroo ở cái túi đựng con trước bụng. Địa bàn của các Kangaroo Chuột Xạ là rừng nhiệt đới ở miền bắc Úc Đại Lợi. Các anh chị sống trong các bộng cây, trong ổ làm bằng các loại dây. Chiều dài của các anh chị Kangaroo Chuột Xạ xê dịch từ 20 - 35 cm. Đuôi dài từ 10 - 15 cm. Trọng lượng lối 300 - 600 grams. Hai chân trước và sau gần như bằng nhau. Chân có 05 ngón có móng nhọn. Các anh chị này chạy rất nhanh chớ không nhảy lủng củng như Kangaroo thường. Kangaroo Chuột Xạ rất nhút nhát nhưng nhanh nhẹn như Thử tộc. Loài người ít quan tâm đến các anh chị này có lẽ v́ mùi xạ khó chịu của các anh chị ấy chăng?

 

Các anh chị Koala mang tên khoa học Phascularctos cinereus thuộc gia đ́nh Phascolarctidae (Theo Hy Lạp ngữ Phaskolos: túi đựng con- pouch); arktos: con gấu; Cinereus: màu tro (La Tinh) là thân thuộc xa của gia đ́nh Kangaroo chúng tôi. Các anh chị ấy có tướng gấu, không có đuôi, quần áo màu xám tro, mồm và mũi tṛn và đen. Mặt tṛn, mắt tṛn và to, tai tṛn vểnh lên. Quanh tai có nhiều lông xám và đen. Chân có móng vuốt bén nhọn. Các anh chị ấy sống trên cây và thích ăn lá khuynh diệp. Kẻ thù của các anh chị Koala mà người Anh thường gọi là Koala bear (Koala Gấu) là Rắn, Trăn, Chó Dingo, thợ săn và các người đốn phá rừng khiến cho chỗ ở của họ ngày càng bị thu hẹp. Các anh chị Koala (tạm hiểu là không uống nước v́ Koala có thể không cần uống nước khi ăn lá cây có một số lượng nước cần thiết nào đó)  dài từ 0.60 - 0.85 cm và cân nặng từ 04 - 15 ki- lô. Tuổi yêu đương trung b́nh là 02 tuổi. Thời gian mang thai là 35 ngày. Koala con mới sinh bằng con ong. Koala con nằm trong túi của mẹ như các Kangaroo con. Koala được xem là thân thuộc của Kangaroo chúng tôi v́ các chị cũng có túi đựng con như các chị Kangaroo.

 

Trong động vật học có một loài Chuột Kangaroo (Kangaroo Rat) mang tên khoa học Dipodomys phillipsii được liệt vào gia đ́nh Heteromyidae. Loài Chuột này được t́m thấy nhiều ở Mễ Tây Cơ, Arizona, California, Úc Đại Lợi. Đó là Chuột có túi nhỏ sống trong sa mạc.

 

Trong thực vật học có:

- Thanh Hoa Đại Thử Cước ( Hoa Chân Kangaroo Màu Xanh- Kangaroo’s Foot Plant ) Amigozanthus manglesii. Cây có hoa màu xanh.

- Đại Thử Đằng (Kangaroo vine) Cissus hypoglauca hay Cissus antartica, c̣n được gọi là Dây Nước hay Nho Rừng v́ người đi rừng uống nước từ dây nước. Trái ăn như trái nho.

Có một loại toà án không xử theo luật pháp được gọi là Kangaroo Court ( Đại Thử Pháp Đ́nh).

****

            Nhân loại biết ḍng tộc Kangaroo chúng tôi trễ tràng. Măi đến hậu bán thế kỷ XVIII người Tây Phương (Anh, Pháp) mới biết chúng tôi với sự diễn giải mơ hồ về chữ Kangaroo. Măi đến thế kỷ XIX chúng tôi mới đặt chân lên lục địa Âu Châu. Trong Thánh Kinh có ghi đủ thứ động vật trên chiếc thuyền khổng lồ của Noah nhưng không có tên ḍng Kangaroo của chúng tôi. Chúng tôi sớm xuất hiện trên Trái Đất và sớm trở thành động vật bị lăng quên.

Tổ tiên người Úc là người Anh và Ái Nhĩ Lan. Về sau có nhiều người Âu Châu khác nhập cư vào nước này. V́ chúng tôi gốc Úc Đại Lợi ở Nam Bán Cầu nên người Úc dành cho ḍng Macropus chúng tôi vài ân huệ như cho h́nh ảnh chúng tôi trên tem thơ, dấu hiệu quân đội, dấu hiệu Hàng Không Qantas của Úc. Trẻ em Úc Đại Lợi rất quen thuộc với h́nh ảnh của Kangaroo chúng tôi.

Úc là một lục địa hay nói cách khác đó là một đảo khổng lồ được bao quanh bởi Nam Thái B́nh Dương và Ấn Độ Dương. Khí hậu rất khắc nghiệt trong nội địa nơi có sa mạc rộng lớn. Vũ lượng thấp. Cây cỏ nghèo nàn. Thân nhân chúng tôi luôn trải qua nạn đói khát v́ hạn hán và thiếu cỏ, hột, trái cây và mầm non cây cỏ. Trong những năm khắc nghiệt như vậy dân số Kangaroo sụt giảm đáng kể. Một số bị chết v́ đói. Sự sinh sản sụt giảm rơ rệt v́ các anh Kangaroo kiệt sức. Tỷ lệ thụ thai sụt giảm đáng kể vào những năm hạn hán và đói kém. Rắn, Trăn, Chim Ưng, Chó Dingo không ngừng đe doạ mạng sống của chúng tôi và con em chúng tôi. Bọn Chó Dingo rừng Canis lupus dingo hay Chó Dingo do loài người thuần hoá trong nhà Canis familiaris dingo đều tàn ác đối với chúng tôi như nhau.

Ban đầu loài người xem chúng tôi là động vật lạ, hiền hoà, dễ thương. Dần dà họ thay đổi thái độ đối với tộc Kangaroo. Họ loan tin ở nơi này, nơi kia có anh Úc Đại Lợi A, B, C, D, E, F nào đó bị Kangaroo quào hay đá song phi đến trọng thương phải đưa vào bịnh viện. Các anh chị Trừu, Dê, Ḅ ghét Kangaroo chúng tôi v́ tranh giành đồng cỏ với các anh chị ấy. Các anh chị Thỏ cũng bị ghét lây. Thế là người ta phá rừng làm đường sá, xây nhà cửa khiến chúng tôi thiếu đất sống và nguồn thức ăn thiên nhiên. Người ta mở những trung tâm du lịch, lấn đất sống của Kangaroo, cấp giấy phép cho người du lịch bắn giết chúng tôi như một tṛ giải trí. Thợ săn bắn giết chúng tôi để ăn thịt, lấy da bán. Các anh chị Koala cùng đồng chung số phận. Chỉ có các anh chị Kangaroo Chuột Xạ không bị loài người chiếu cố. Nhưng thưa quí vị, đến ngày nào đó, có một thầy thuốc Đông Y nào đó ở Shenxi (Thiểm Tây) hay Kansu (Cam Túc) ǵ đó đến Úc và t́m mua Kangaroo Chuột Xạ để lấy xạ trị nan chứng ǵ đó th́ an ninh của Kangaroo Chuột Xạ bị đe doạ trầm trọng. Chúng tôi có dịp đi qua Canberra, Melbourne, Sydney, Brisbane. Đâu đâu tôi cũng nghe nói về tầm quan trọng kinh tế của Kangaroo và Koala khiến chúng tôi mất ăn mất ngủ v́ khiếp sợ khi nghĩ đến cảnh loài người giết chết tộc Kangaroo và Koala, lột da đem bán và lấy thịt chế biến thành những món ăn ngon và bổ dưỡng. Thịt Kangaroo chưa được phổ biến rộng răi ngoài chợ nhưng các nhà dinh dưỡng học đưa ra một nhận xét tai hại cho an ninh ḍng Kangaroo: thịt Kangaroo ngon và ít cholesterol. Rồi một ngày không xa ḍng Kangaroo sẽ trải qua một cuộc Đại Khủng Bố triền miên khi các nhà t́nh dục học có uy tín kết luận rằng thịt Kangaroo cường dương bổ thận!    

Thưa quí vị, chúng ta phải làm ǵ?  Hay chỉ gặp nhau định kỳ để ngâm Truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du:

Thôi đành nhắm mắt đưa chân

Thử xem con tạo xoay vần đến đâu?

 

Trưởng lăo Hồng Đại Thử Macropus rufus.

           

 

 

Trang Phạm Đ́nh Lân

art2all.net