PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

 

KÊ TỘC THÁN

 

 

            Đại diện Kê tộc trên hoàn vũ là lão Gà Nòi Cao Lãnh. Lão mặc chiếc áo ngắn để lộ cái cổ đỏ, to và dài. Trông lão còn tráng kiện lắm. Chân lão còn ấn dấu bột nghệ mà lão tự thoa trước khi trình bày đề tài Kê Tộc Thán. Đến hội trường lão đập cánh và gáy một hồi dài. Xem chừng lão còn nhiều sinh lực lắm. Trông lão rất tự tin và thích chiến đấu. Lão yêu cầu ban nhạc trổi bản Kê Tộc Hành Khúc và bản Kê Tộc Chiêu Hồn Khúc trước khi lão lên diễn đàn. Dưới đây là bài báo cáo của đại diện Kê tộc.

****

 

           Kê tộc chúng tôi là điểu tộc sớm giao tiếp với loài người từ 5000 năm trước Tây Lịch ở Trung Hoa, 2000 trước Tây Lịch ở Ấn Độ. Trên mộ của Pharaoh Tutukhamen (1350 trước Tây Lịch) có hình con Gà. Gà được thuần hoá ở Hy Lạp vào thế kỷ IV hay V trước Tây Lịch.

Tổ tiên của Kê tộc gốc ở Nam Á và các nước Đông Nam Á. Đó là những vị Gà Rừng mặc áo đỏ, vàng, xanh, trắng, đen, mồng đỏ, mỏ vàng và nhọn rất uy nghiêm mang tên La Tinh Gallus gallus. Gà Rừng được thuần hoá mang tên khoa học Gallus gallus domesticus thuộc gia đình Phasianidae. Dưới đây là cách gọi của Anh và Pháp về dòng tộc họ Kê tức Gallus:

Quốc Gia

 Nam Kê

 Nữ Kê

Ấu Kê

Anh

Chicken

Cock, Rooster

 Hen

Chick

Pháp

Poulet

Coq

Poule

Poussin

 

Quần áo nam Kê đẹp và luộm thuộm hơn quần áo của nữ Kê. Màu sắc quần áo Kê tộc gồm có:

-    màu hỗn hợp đỏ, vàng, đen, xanh của các nam Kê trông rất đẹp mắt

-    màu đen ( Gà Ô hay Gà Quạ)

-    màu trắng (Gà Ác hay Gà Ri - quần áo trắng nhưng mỏ, chân và da thịt đen); Gà trắng còn gọi là Gà Chuối (Bạch Kê- Bạch Kê Xích Chủy thời Hậu Trần) nhưng chỉ có quần áo trắng chớ da thịt không đen như Gà Ác.

-    màu đỏ (Gà Điều) (Điều: Đào: màu đỏ)

-    màu vàng nhạt (Gà Phèn)

-    lốm đốm trắng (Gà Nổ)

 

Sự phân biệt giữa nam Kê và nữ Kê tương đối dễ dàng căn cứ vào quần áo sặc sỡ và luộm thuộm, mồng đỏ và cao, móng vuốt dài và bén nhọn của nam Kê. Dĩ nhiên nam Kê to lớn và nặng cân hơn nữ Kê. Chỉ có nam Kê gáy mà thôi.

Giống

Chiều Dài

Trọng Lượng

Nam Kê

65- 75 cm

1.5- 3 ki- lô

Nữ Kê

42- 50 cm

1.0- 2 ki- lô

 

Tổ tiên của Kê tộc trên thế giới có 05 chi tộc lớn:

1. Gallus gallus murghi ở Bắc và Đông Bắc Ấn Độ

2. Gallus gallus spadiceus ở Yunnan ( Vân Nam), Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia

3. Gallus gallus jabouillei ở Bắc Bộ Việt Nam, Yunnan, Hainan ( Hải Nam)

4. Gallus gallus gallus ở Nam Bộ Việt Nam, Thái, Lào, Cambodia

5. Gallus gallus bankiva trên đảo Sumatra, Java, Bali (Indonesia).

Kê tộc bay được nhưng không bay xa (không quá 100 m). Thị giác, thính giác của Kê tộc rất bén nhạy. Nhưng vào buổi tối thị giác của Kê tộc bị giảm rất nhiều.

Kê tộc sống bằng cách bươi đất để kiếm thức ăn như thóc, lúa, hột, cỏ, trùn, dế, kiến và các loài bò sát nhỏ. Kẻ thù của Kê tộc là bọn Chồn Cáo, Diều, Quạ, Chuột. Ở Việt Nam các ấu nhi Kê tộc chạy chui nhủi về với mẹ khi nghe tiếng Diều! Diều!

Xã hội Kê tộc là xã hội đa thê. Một nam Kê có thể có nhiều thê thiếp. Kê tộc thuần hoá được loài người lót ổ giùm trước khi sinh. Ổ gà được lót bằng rơm hay lá cây. Mỗi chị Kê sinh từ 5 đến 10 trứng. Trứng Gà nhỏ hơn trứng Vịt và có màu vàng- đỏ nhạt. Nữ Kê ấp trứng trong vòng 3 tuần thì trứng nở. Gà con mới nở có lông mịn rất đẹp. Khi được 05 tuần Gà thay lông. Đến tuổi 12 tuần tức 3 tháng tuổi Gà mẹ không còn chăm sóc con nữa. Các thiếu niên Kê tộc tự lập và tự tìm bầy cho mình. Khi Gà được 05 tháng tuổi nam, nữ Kê bắt đầu bắt cặp để truyền tử lưu tôn. Ngày nay, nhằm mục đích gia tăng mức sản xuất Kê nhục, loài người thành công trong việc thụ tinh nhân tạo cho các nữ Kê. Số Gà trên thế giới hiện nay trên 50 tỷ. Các quốc gia chăn nuôi Gà nhiều trên thế giới xếp theo thứ tự sau đây: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Indonesia, Brazil, Mễ Tây Cơ v. v. Kê nhục được tiêu thụ nhiều so với các loại thịt khác. Vì dân tộc nào, bất luận tôn giáo gì, cũng ăn Kê nhục. Tín đồ Hồi Giáo không ăn thịt Heo; tín đồ Ấn Giáo không ăn thịt Bò; người Do Thái không ăn thịt Heo. Nhưng tất cả họ đều ăn Kê nhục.

Loài người lập trại chăn nuôi Kê tộc để lấy thịt, trứng và lông. Lông Gà dùng để làm chổi, độn gối hay nệm.

Xưa kia loài người giết Kê tộc chúng tôi bằng dao. Họ cắt cổ các thiếu niên Kê tộc được 3, 4 tháng tuổi. Ngày nay loài người giết và nhổ lông dòng họ Kê chúng tôi bằng máy vừa nhanh lại vừa bảo đảm sạch sẽ. Người Việt Nam dùng huyết nhiệt của Kê tộc để nấu cháo. Thân xác nam, nữ Kê được xé nhỏ trộn với chuối cây non, bắp chuối, cải bắp, cà rốt, dấm, đường. Kê nhục lúc nào cũng có củ Hành, Rau Răm hay Rau Húng Quế đi kèm trong món Gà xé phay hay món gỏi Gà. Tôi có hỏi tiền nhân chúng tôi về lý do tại sao có sự gắn bó giữa Rau Răm hay Rau Húng Quế với Kê nhục. Tiền nhân chúng tôi lắc đầu không biết tại sao. Chỉ biết rằng, thuở sinh tiền, các cụ có cắn mổ Rau Răm hay Húng Quế quanh nhà.  Ngay cả người ăn cũng không giải thích tại sao mà chỉ ăn theo thông lệ do ông bà họ lưu lại. Có lẽ do khái niệm hàn- nhiệt mà ra. Kê nhục nhiệt vì Gà rất sợ nước mà chỉ tắm nắng và tắm cát mà thôi. Rau Răm hàn, chế ngự nhiệt và tạo hương thơm cay nồng cho Kê nhục. Hành ngừa cảm cúm, một thứ bịnh mà họ Kê thường bị. Ở thôn quê người ta chặt thân xác Kê tộc ra từng mảnh nhỏ nấu canh chua với lá dang hay với thơm bằm, giá đậu, cà bắp ( okra), cà tô- mát, một ít me; hay xào Sả Ớt hay kho Gừng. Từ khi tiếp xúc với người Pháp thì dân Việt Nam dùng Kê nhục để nấu ra- gu (ragout) với khoai Tây, cà- rốt và đậu pétit pois hay dùng Kê nhục nấu cà-ri theo cách ăn của người Ấn Độ. Những người sành rượu ca ngợi món ngon trên thân thể Kê tộc qua câu:

 Nhất phao câu

Nhì đầu chéo cánh.

Gan, mề Kê tộc xắc nhỏ trộn với mộc nhĩ, bún Tàu, tròng trắng và tròng đỏ hột Gà đánh tan loãng, cho vào lá môn bạc hà (dọc mùng) và đem chưng để ăn với bánh phồng tôm Sa Đéc. Sa Đéc là thành phố lớn gần sinh quán của Gà Nòi chúng tôi. Trong tiệc cưới người Việt Nam thường đãi thực khách món Gà rút xương. Khéo léo hơn là món Phượng Hoàng Ấp Trứng đầy hương vị lẫn nghệ thuật trang trí món ăn.        

Cuộc đời Kê tộc bị đe doạ thường xuyên. Buồn người ta cũng ăn Kê nhục. Vui cũng ăn. Có khách cũng ăn. Những ngày có trăng thanh niên trai tráng tụ tập nhau đàn ca vọng cổ rồi giết vài anh chị họ Kê để nấu cháo, xé phay. Họ gọi đó là Vọng Cổ Cháo Gà. Có đám giỗ, đám tiệc, đám cưới, đám hỏi, đám ma, đám cung đình thì Kê tộc bị giết nằm la liệt dưới đất. Mấy thằng Khuyển nhìn Kê tộc chết một cách dửng dưng vì hằng ngày bọn chúng cũng rượt và cắn, xé các thân thuộc chúng tôi không thương tâm. Chủ của chúng cho chúng cái gì ngoài vài miếng xương vụn để nuôi dưỡng sự trung thành điên cuồng và mù quáng của chúng!

Người Pháp thích món Gà rô- ti, trứng Gà ốp- la (oeuf sur plat).

Người Trung Hoa thích ăn Gà xối mỡ, Gà hấp muối, Gà hấp cải bẹ xanh, cánh Gà chiên bơ. Họ ăn món phùng chảo (tay phượng) để được bổ gân giống như nhiều người ăn gan Gà để được sáng mắt trên cơ sở ăn gì bổ nấy. Người Trung Hoa hầm Gà Ác (Gà Ri) với các vị thuốc Bắc để tẩm bổ. Nhưng tại sao phải là Gà Ác? Vì Gà Ác có hai màu: Trắng (quần áo) thuộc hành Kim tương ứng với Phổi ( Phế) và màu Đen (da thịt) thuộc hành Thuỷ tương ứng với Thận. Gà được hầm bằng nồi đất ( Thổ) có nước (Thuỷ), than củi cháy bùng ( Hoả) và các vị thuốc bổ lục phủ ngũ tạng ( Mộc). Như vậy nồi hầm Gà Ác với thuốc Bắc hội đầy đủ Âm Dương Ngũ Hành.

Người Hoa Kỳ thích món Kentucky Fried Chicken với hình ông già râu. Các nước Âu Mỹ còn làm Kê nhục vô hộp. Xương cốt Kê tộc được nấu rục ra làm Chicken Broth.

Trứng Kê tộc chúng tôi là thức ăn bổ dưỡng của loài người. Người ta ăn trứng luộc, trứng chiên chín hay nửa sống nửa chín. Vào thập niên 1960 ở Sài Gòn người ta bán trứng Gà lộn nhưng thức ăn này không được hưởng ứng bằng hột Vịt lộn. Ở Việt Nam trứng Gà đắt giá hơn trứng Vịt. Trứng Gà được các bà nội trợ Việt Nam dùng để làm bánh. Loài người nuôi Gà Cồ để làm công tác truyền giống. Họ nuôi Gà Tre và Gà Nòi chúng tôi để chúng tôi đánh giết đồng loại bằng chiếc mỏ nhọn, đôi chân cứng như đá và những cựa mài nhọn đôi khi còn được trang bị bằng một lưỡi dao nhỏ để giết đồng loại không thù oán đôi khi cùng chung một bầy bị bôi mặt để đá nhau.

 

Gà Tre nhỏ con, mặc áo quần đẹp đẽ và rộng thùng thình. Gà Nòi chúng tôi to lớn, cổ đỏ, mồng đỏ, áo quần đơn giản. Đôi cánh và đôi chân cứng cáp. Loài người không cho chúng tôi gần các nữ Kê sợ mất sức trong các trận thi võ sống chết với đối thủ không thù oán trước đó. Vì bị loài người kích thích tính hiếu thắng hay vì bản chất hiếu chiến, hám vinh quang mà Gà Nòi cổ đỏ quên tình thương đồng loại? Chỉ vì miếng ăn và sự lựa chọn của loài người? Cho đến bây giờ chúng tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đơn giản và tầm thường đó. Chỉ biết rằng sau mỗi trận đánh đấm nhau, kẻ thắng bị tàn phế. Kẻ thua bị đưa vào lò nước sôi. Kẻ thắng thực sự là loài người. Họ hay nói: Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.

Gà Nòi tôi nay đã già. Càng suy nghĩ càng hổ thẹn. Vì ham vinh quang, danh dự mà bị loài người khích tướng, Gà Nòi chúng tôi tưởng mình là anh hùng trên mặt đất, tôn thờ khẩu hiệu Ninh Thọ Tử Bất Ninh Thọ Nhục. Vì khẩu hiệu đầy anh hùng tính này mà một bạn Gà Nòi của tôi bị một thằng Vịt Xiêm dìm chết dưới nước vì gây gỗ với hắn. Một bạn Gà Nòi khác gây gỗ với một thằng Gà Tây to lớn hơn anh ta gấp bội. Hậu quả anh ta chết đẫm máu dưới bàn chân đầy vuốt nhọn của thằng Gà Tây hung ác và lạnh lùng!     

Ở Á Châu, Châu Mỹ La Tinh, Tây Ban Nha đá Gà là một món giải trí. Đến thế kỷ XVII thú vui này lan rộng đến Anh. Nuôi Gà đá độ là một công việc kiếm nhiều tiền. Gà đá hay là Gà giỏi chịu đòn, có thế đánh độc đáo bằng cách gây thương tích trên đôi cánh của đối phương rồi tấn công tới tấp nhắm vào đầu cổ đối phương cho đến khi hắn gục ngã hay đau đớn phải bỏ chạy. Nhưng, thưa quí vị, thắng hay bại đều nhục nhã như nhau. Nhục nhã không phải vì thương tích, vì có thắng có thua mà nhục nhã vì cảnh Gà nhà bôi mặt đá nhau, vì cảnh đánh giết đồng loại Kê tộc. Dù là Gà Nòi, Gà Ri, Gà Tre, Gà Cồ, tất cả đều thuộc họ Gallus.

Gặp lúc gió lạnh giao mùa Kê tộc bị bịnh chết hàng loạt. Dù gọi là Gà mắc toi hay khoa học hơn là dịch cúm gia cầm, tất cả đều dẫn đến cảnh chết hàng loạt vì dịch bịnh còn tệ hơn cả bom đạn mà loài người dùng để giết lẫn nhau. Cảm ơn lão Phạm Đình Lân cứu hai anh chị Kê ở An Phú, Bình Dương, bằng lá trường sinh ( lá sống đời Kalanchoe pinnata) khi hai anh chị này đến thời kỳ chảy nước dãi và ngã quị dưới nền đất. Vừa khen lão tôi vội hỏi lại xem lão có ăn Kê nhục không nhỉ? Câu trả lời chắc cũng không khó lắm phải không, thưa quí vị? Lão cho biết chị Kê đẻ 49 trứng sau khi được cứu sống. Anh Kê gặp mưa không bỏ chạy như trước kia. Những anh chị Kê khác bị bịnh được loài người cho ăn Hành, Tỏi hoặc chặt các ngón chân. Họ gọi các anh chị ấy là Gà Cùi nếu họ may mắn thoát khỏi Thần Chết!

Vào thời Trung Cổ người Pháp chọn nam Kê làm quốc huy gọi là Coq Gaulois (Gà Trống Xứ Gaule hay Gallic Rooster) Biểu tượng này được gợi lại khoảng 1899 - 1914. Hình ảnh một anh Kê được tìm thấy trên đồng tiền vàng 20 Francs và trên tem thơ của Pháp.

Từ năm 1824 đến 1874 dấu hiệu của đảng Dân Chủ Hoa Kỳ là một nam Kê.

Nhân loại xem Kê tộc chúng tôi là dòng họ báo thức, tượng trưng cho mặt trời lúc rạng đông. Nghệ nhân Trung Hoa thường vẽ hình nam Kê với mặt trời đỏ chói. Họ cho rằng Gà Ác (Ác: Quạ mặc quần áo đen) xua đuổi tà ma. Đó là lý do người ta đặt tượng Gà trên nóc nhà và treo hình vợ chồng Gà Ác và 05 đứa con (Ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ- Nam Kê: Dương. Nữ Kê: Âm ) trong nhà. Bức tranh Gà Ác và 5 con nói lên đầy đủ quân bình Âm- Dương Ngũ Hành trong vũ trụ với hy vọng gia đạo ấm êm và hạnh phúc. Nhưng ăn Kê nhục thì cứ ăn và hầm Gà Ác với thuốc Bắc thì vẫn cứ hầm. Sức khoẻ của họ là trên hết. Càng về già họ càng quí sự sống.

Huyền thoại Nhật cho rằng tiếng Gáy của nam Kê làm cho nữ Thần Amaterasu (Thái Dương Thần Nữ) ra khỏi hang. Theo người Nhật nam Kê là biểu tượng của sự can đảm.

Trong huyền thoại Hy Lạp có Kê Mã là một loại quái vật có mình Ngựa, đuôi, cánh và chân Gà. Đó là Kê Mã Hippalektryon. Huyền thoại Hy Lạp cho thấy các nam và nữ Thần lăng nhăng không ít. Theo đó nữ Thần Aphrodite, nữ Thần tình yêu và hôn nhân, ăn ở với Thần Hephaestus trên núi Olympia. Vị Thần này có tướng mạo kỳ dị nên Aphrodite có quan hệ tình cảm với Thần chiến tranh Ares. Thái Dương Thần Helios cho Hephaestus biết mối tình thầm kín giữa Thần Aphrodite với Thần Ares. Thần Hephaestus cảnh cáo cả hai. Hai vị Thần Aphrodite và Ares vẫn tiếp tục yêu nhau. Họ nhờ một cậu bé canh chừng khi nào Thần Helios (Thái Dương Thần) gần đến thì cho họ hay. Cậu bé buồn ngủ nên ngủ quên. Thần Helios đến mà cậu không hay biết gì để báo cho Thần Aphrodite và Ares biết. Tức giận về sự tắc trách của cậu bé, Thần Ares biến cậu thành nam Kê để thông báo Thái Dương Thần đến đúng giờ!

Trong Tân Ước Kinh Matthew 26: 31, Mark 14: 27, Luke 22: 31 - 34, John 13: 36 - 38 có đề cập đến sự tiên đoán của Chúa Jesus về người đệ tử luôn luôn gắn bó với Người, Peter, sau bữa tiệc tiễn ly như sau: Ta nói với người rằng, trước khi Gà gáy sáng người sẽ chối ta ba lần.

 

Nhìn chung loài người gắn liền Kê tộc chúng tôi với mặt trời rất đúng. Những biểu tượng, sự ví von về Kê Tộc với Helios, Thái Dương Thần, không đủ sức cứu Kê tộc chúng tôi khỏi bị giết hại hàng ngày để bồi dưỡng cho loài người. Khi nghèo họ xem thịt Kê tộc là thức ăn ngon và bổ dưỡng. Khi khá giả họ cho rằng da Kê tộc ăn có hại cho sức khoẻ vì có nhiều cholesterol. Họ không thích ăn chân Gà vì không có thịt nhưng họ lại nói: Ăn chân Gà bị run tay! Họ không ăn mắt Gà vì quá nhỏ và sợ có sâu. Họ dùng phân Gà bón cho Ớt tốt và cay. Nhưng khi bị trái (chicken pox) rạ họ cho rằng người bịnh đạp phân Gà khiến cho bịnh trầm trọng hơn! Quí vị nghĩ xem, loài người nhiều chuyện quá! Họ gọi nam Kê là cock. Trong tiếng lóng của họ cock là bộ phận sinh dục của loài người và động vật cao cấp. Họ gán từ ấy cho nam Kê rồi cũng chính họ đặt lại vấn đề rằng nam Kê không có bộ phận sinh dục! Chuyện này đối với chúng tôi là một sỉ nhục to lớn. Đúng là mối thù này mang xuống tuyền đài chưa tan!!

Chữ Chicken chỉ Kê tộc là đủ rồi. Loài người chưa chịu còn cho nó thêm những nghĩa tối tăm khác như người hèn nhát, người đồng tính luyến ái. Những chữ chicken- livered, chicken hearted nói lên sự nhát gan, sự hèn nhát của Kê tộc chúng tôi. Ôi loài người! Sao các ông ăn nói độc địa quá!

Người Việt Nam khinh rẻ Kê tộc và bọn Khuyển tộc qua câu:

Chó cậy nhà, gà cậy chuồng.

Người Anh nói chúng tôi tự phụ, vênh váo ( cocky) và cũng có ý nghĩa tương tự như người Việt Nam khi nói:

As proud as a cock on its own dunghill.

Tự phụ như nam Kê trên đống phân của mình.

Người Anh dùng hình ảnh của nữ Kê để ám chỉ người đàn bà lấn át chồng qua hình dung từ henpecked.

Chữ chick là ấu nhi Kê tộc cũng chỉ đứa bé. Tục ngữ Anh có câu:

One chick keeps a hen busy.

Người Việt Nam nói nhiều về Kê tộc chúng tôi trong ngôn ngữ của họ. Chẳng hạn như:

-  Tuổi cập kê: tuổi lập gia đình

-  Kê bảo áp tử: Gà giữ Vịt. Đó là cảnh mẹ Gà con Vịt.

-  Kê bì: da gà chỉ da nhăn của người già.

-  Kê bì hạc phát: già nua với da nhăn như da Gà, tóc bạc như loại Hạc trắng.

-  Kê cân: gân Gà, ăn không ngon, không bổ dưỡng nhưng bỏ không đành.

-  Kê đầu nhục: núm vú phụ nữ

-  Kê khẩu ngưu hậu: miệng Gà đít Bò

-  Kê Khuyển bất ninh: thời tao loạn Chó không sủa, Gà không gáy.

-  Kê lạc công danh: công danh như sườn Gà. Ăn không ngon nhưng không nỡ bỏ.

-  Kê manh: chứng quáng gà ( nyctalopia); mắt không thấy rõ vào lúc hoàng hôn.

- Kê minh Khuyển phệ: cảnh thanh bình ở nông thôn nơi có tiếng Chó sủa và tiếng Gà gáy.

-  Kê nhãn: mắt Gà. Đó là vết chai (callosity- corn) dưới chân giống mắt con Gà.

-  Kê tranh nga đấu: sự rầy rà, đấu tranh ầm ĩ giữa Gà và Ngỗng

-  Kê quan hoa: hoa mồng Gà Celosia cristata màu đỏ hay vàng.

-  Kê tử hương: cây đinh hương Syzygium aromaticum

- Kê quần hạc lập: con hạc giữa bầy Gà (sự lẫn lộn giữa người cao khiết với kẻ tầm thường).

-  Kê hồn hương: mùi hương của một loại nhang thơm làm cho người ta mê hồn đến khi Gà gáy sáng mới tỉnh dậy.

-  Kê gian là hình thức giao hợp bất bình thường, không hợp với tự nhiên

-  Mèo mả gà đồng: cụm từ có nghĩa xấu áp dụng cho kẻ dâm loạn làm tình ở bất cứ nơi nào như Mèo bắt cặp ngoài nghĩa địa hay Gà Đồng (Ếch) ngoài đồng vào những đêm mưa.

- Chạy lăng xăng như Gà mắc đẻ: diễn tả trạng thái bận rộn của người thiếu bình tĩnh trước những vấn đề cấp bách.

-  Gà đẻ gà cục tác: vô tình nói ra những điều đã làm mặc dù không ai biết!

- Gà trống nuôi con: nói lên cảnh người đàn ông goá vợ phải đóng vai người mẹ nuôi con.

-  Mẹ Gà con Vịt: cảnh người mẹ vừa nuôi con ruột của mình và những người con khác dòng nhưng cũng có tình thương. Người ta thường cho trứng Vịt vào ổ Gà ấp nhưng phải tính kỹ lưỡng về ngày Gà Ấp và trứng Vịt đã được ấp bao lâu vì Gà ấp 21 ngày thì nở. Trứng Vịt phải mất từ 28 - 30 ngày mới nở. Nếu để trứng Vịt chưa ấp vào ổ Gà mới ấp thì trứng không nở ra con được. Khi Gà nở, Gà mẹ sưởi ấm, hướng dẫn và chăm sóc cho đàn con đồng loại Gallus và dòng con thuộc dòng Anas.

- Gà mờ: Gà có sâu trong mắt, ám chỉ người kém cỏi, thiếu khôn ngoan, sáng suốt và kinh nghiệm sống.

- Gà mở cửa mả: ám chỉ người khờ khạo. Theo người Việt Nam Gà mở cửa mả đều là thiếu nữ Kê tộc. Người ta cho rằng Gà mở cửa mả đẻ nhiều trứng.

-  Mặt Gà mái: thầy tướng số cho rằng người có mặt Gà mái là người thù dai và hiểm độc.

-  Gà mái đá Gà cồ: cảnh náo loạn gia đình khi người vợ hiếp đáp người chồng

-  Gà mái gáy: là điềm bất lành trong làng xóm: điềm hỏa tai hay trộm đạo.

Về phương diện y học người Việt Nam có câu:

Chó liền da,

Gà liền xương.

Trong truyện kể về Cống Quỳnh có chuyện Gà Trống Thiến bị Gà Chọi đá chết. Gà Trống Thiến là nam Kê bị hoạn nên chi mập mà không còn dũng tính và sức mạnh của nam Kê nên bị Gà Chọi chuyên nghiệp giết chết dễ dàng trong một trận đấu không cân xứng. Truyện kê này nhằm xỉa xói các hoạn quan có nhiều quyền hành sinh sát dưới thời vua Lê chúa Trịnh.

Dưới thời Pháp thuộc có chuyện Encore un (Thêm một cái nữa) đầy ngạo nghễ của thị dân biết tiếng Pháp đối với dân nông thôn không biết tiếng Pháp về món Gà rô-ti ở nhà hàng. Chàng Mô có nhiều tiền nhưng ngày nào vợ chàng cũng cho chàng ăn cơm với mắm nêm hay mắm hầm vỉ.  Một hôm chàng ra nhà hàng và quyết ăn một bữa cơm ngon cho giống Tây. Thực đơn trong nhà hàng Tầu sang trọng viết thuần bằng tiếng Pháp. Mô lóng cóng không biết gọi món nào. Anh ta lấy ngón tay rà trên bảng thực đơn và gọi người bồi bàn đem cho anh món ấy. Người bồi bàn mang lên cho anh một tô cơm trắng và một đĩa mắm hầm vỉ. Anh thất vọng. Nhìn anh Tây ăn Gà rô-ti xong kêu người bồi bàn đến và nói: Ăn- co on. ( Encore un). Vài phút sau người bồi bàn mang lên một con Gà rô- ti khác. Mô ráng ăn hết phần ăn mà anh gọi rồi kêu người bồi bàn và nói bằng tiếng Pháp: Ăn-co on. Trong khoảnh khắc người bồi bàn mang cho anh một tô cơm và một đĩa mắm hầm vỉ khác. Mô tá hoả tam tinh. Việc ăn cơm Tây của anh trở thành cơn ác mộng.

Đề cập đến Kê tộc chúng tôi, ca dao Việt Nam có câu:

Máu Gà thì tẩm xương Gà.

Máu Gà đem tẩm xương ta sao đành.

và cách dùng màu sắc cho động vật trong ngôn ngữ Việt Nam:

-  Ngựa kim, Gà chuối, Chó cỏ,

-  Mèo mun, Chó mực, Gà ô (Gà quạ), Ngựa ô.

Trong 12 con giáp và trong Tử Vi người ta gọi Kê tộc chúng tôi là Dậu.

Trong Đề 40 con Gà mang số 28 sau Rùa và trước Lươn (số 29).

Trong thực vật học có:

-  Cỏ Chân Gà Dactylis glomerata

-  Chickweed (Kê Thảo) Stellaria media

-  Chick pea (Đậu Ấn Độ) Cicer arietinum

-  Chicken of the wood (Nấm Kê Mộc) Laetiporus sulphurus v.v.

 

Bao nhiêu ngàn năm dưới ánh mặt trời Kê tộc chúng tôi chứng kiến những cảnh giết chóc đẫm máu thường ngày của loài người đối với họ Gallus mến yêu của chúng tôi. Nhiều văn, thi sĩ Kê tộc viết sách, làm thơ tả oán loài người. Xem chừng những áng văn thơ ấy không có tác dụng bao nhiêu. Kiện thưa xuống Hội Đồng Âm Phủ rồi cũng bị xếp hồ sơ đôi khi còn bị nhân viên Hội Đồng Âm Phủ cảnh cáo nghiêm khắc. Nghĩ lại, trong cuộc đấu tranh sinh tồn Kê tộc chúng tôi cũng rơi vào cảnh Cá lớn nuốt cá bé khi chúng tôi đưa các anh chị Kiến, Trùn, Dế, Cào Cào, Nhện, Cắc Kè, Rắn Mối vào bụng đói của chúng tôi. Sự nhục nhã của Kê tộc là đấm đá lẫn nhau khi phá bầy lúc mới được 02 hay 03 tháng tuổi. Lớn lên được loài người tuyển chọn làm Gà Chọi đi đấm đá và giết các Gà Chọi đồng loại cổ đỏ, áo quần ngắn không đủ che thân, chân lúc nào cũng lấm bùn và nghệ.  Nhân danh Kê tộc hoàn vũ, trưởng lão Gà Nòi Cao Lãnh thành thật xin lỗi các anh chị Trùn, Dế, Cào Cào, Sâu Bọ, Nhện, Cắc Kè, Rắn Mối..., những nạn nhân của Kê tộc chúng tôi. Chúng tôi xin mượn những lời sau đây để kết thúc bài báo cáo của Kê tộc:

Còn gì nữa đâu mà khóc với sầu?

Còn gì nữa đâu mà thương với nhớ?

Thôi hết rồi! Thôi hết rồi! Thôi hết rồi!

Ban nhạc Dế phụ hoạ bằng bản Hoàng Hôn Arkansas khiến cả hội trường đều rưng rưng nước mắt.

 

Trưởng lão Gà Nòi Cao Lãnh, đại diện Kê tộc hoàn vũ.

 

 

 

 

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

_____

Hình minh họa trong bài do a2a thu thập từ internet .

 

 

Trang Phạm Đình Lân

art2all.net