|
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
LÁ TRƯỜNG SINH
Nguồn gốc, thân thế
và tên gọi
Cây trường sinh là một loại thảo mộc
thích hợp với khí hậu đại dương và nhiệt đới. Nó được tìm thấy nhiều trên đảo
Madagasca, đảo Reunion, các quốc gia Nam Mỹ, Đông Nam Á, trên các hải đảo trong
biển Caribbean và Thái Bình Dương.
Tên khoa học của cây trường sinh hay sống đời là Kalanchoe
pinnata thuộc gia đình Crassulaceae. Ngoài ra nó còn những tên khoa
học khác như: Bryophyllum pinnatum, Bryophyllum calicinum, Bryophyllum
germinans, Verea pinnata, Cotyledon calycina, Cotyledon calyculata, Cotyledon
pinnata, Cotyledon rhizophilla, Crassula pinnata, Crassula floripendia, Sedum
madagascariense.
Người Việt Nam gọi là cây trường sinh hay sống đời
vì cây nầy không bao giờ chết. Thông thường lá cây rụng xuống đất thì rã mục và
hòa lẫn với đất cát thành phân. Lá cây trường sinh khi rụng xuống đất thì ra rễ
và ra nhiều cây trường sinh con. Đó là nguồn gốc của tên Trường Sinh của
nó. Các nhà làm vườn rất sợ sự xâm lấn đất nhanh chóng của cây trường sinh. Gió thổi, cuốn lá trường sinh từ nơi nầy sang nơi khác để có nhiều cây trường sinh con mọc lên từ các răng quanh rìa lá. Nhưng nếu nhìn sự sinh tồn của cây trường sinh bằng cái nhìn triết học y dược thì ta mới thấy được sức đề kháng dị thường của loại thảo mộc đặc biệt nầy trong môi trường sống. Tên gọi cây trường sinh dựa vào sức sống ngoan cường của chính nó. Nó còn được gọi là:
Người Trung Hoa gọi là:
Ở Ấn Độ cây trường sinh mọc rất nhiều ở vùng Bengal. Tiếng
Phạn (Sankrit) gọi là Parnabija có nghĩa là cây có nhiều rễ. Rễ ra nhiều
từ kẽ lá chớ không phải dưới gốc cây. Chữ Parnabija cũng đồng nghĩa với
dhanvantari có nghĩa là "thiêng liêng, thần diệu". Như vậy cây trường
sinh là "thiên thảo" vì một lý do nào đó.
Nhân loại không hẹn nhưng lại gặp nhau trong việc đặt tên cho
cây trường sinh qua hiệu năng trị liệu của nó.
Người Phi Luật Tân gọi cây trường sinh là katakata-ka
tức cây kỳ diệu.
Người Nam Mỹ gọi nó là Angelica (Thiên Thần Diệp),
Siempre Viva (sinh diệp), Hoja de aire (không thảo). Ở Trinidad người
ta gọi cây trường sinh là Never dead (bất tử), Wonder of the world
(kỳ quan thế giới). Một vài quốc gia Trung và Nam Mỹ gọi lá trường sinh là
good luck leaf (lá may mắn), miracle leaf (lá thần diệu), love
leaf (lá tình yêu). Ngoài ra cây trường sinh còn được gọi là Goethe’s
plant(1).
Trong tiếng Anh có nhiều tên gọi dành cho cây trường sinh như
air plant (không thảo, dịch từ hoja de aire), cathedral bell
(vì hoa cây trường sinh giống hình cái chuông), mother of thousands (mẹ
hàng ngàn con vì sự sinh sản của cây con quá nhiều), life leaf (dịch từ
Siempre Viva), live forever (trường sinh, sống đời).
Nhiều tên gọi khác nhau dành cho cây trường sinh cho thấy
loại thảo mộc nầy có một vị trí đặc biệt trong đời sống của các dân tộc và bộ
lạc sống trong vùng khí hậu nhiệt đới và đại dương. Có 600 loại cây thân thuộc
với cây trường sinh dòng Bryophyllum hay Kalanchoe thuộc gia đình
Crassulaceae nhưng chỉ có Kalanchoe pinnata lá hình bầu dục, rìa
có răng cưa và hoa giống như cái lồng đèn có dược tính tốt mà thôi.
Đặc điểm cây trường sinh
Cây trường sinh được trồng bằng lá, hột hay chặt cây già ra
làm nhiều khúc rồi đặt xuống đất trồng như trồng tre, mía hay khoai mì (sắn).
Cây con sẽ mọc lên từ những mắt cây. Trường sinh không cần nhiều nước. Nếu được
tưới mỗi ngày lá sẽ dầy và mộng nước. Nếu cây không có nước, lá vàng và rất chát.
Lá trường sinh thay đổi 3 vị trong ngày:
Lá chua dùng để uống hay dùng ngoài da để cầm máu hay trị
phỏng lửa và nước sôi.
Lá trường sinh thay đổi vị 3 lần trong ngày. Hoa phù dung (Hibiscus
mutabilis) thay đổi sắc 3 lần trong ngày nên được gọi là phù dung tam sắc
túy.
Trường sinh diệp trị liệu
Người Ấn Độ và các bộ lạc sống dọc theo thung lũng Amazon ở
Nam Mỹ đã dùng lá trường sinh để trị bịnh từ lâu. Người Âu Châu biết đến lá
trường sinh qua những kinh nghiệm trị liệu cổ truyền của các dân tộc miền khí
hậu nhiệt đới và đại dương, nơi có nhiều cây trường sinh. Cây trường sinh được
vào danh sách thực vật học Anh vào thế kỷ 18. Nhà văn Von Goethe cũng có trồng
cây trường sinh. Những tên gọi lá trường sinh, lá Quan Âm, Angelica, miracle
leaf, life leaf, "katakata-ka"... không phải là tên gọi ngẫu nhiên mà căn cứ
vào tính năng trị liệu bao quát của loại dược thảo đặc biệt nầy.
Người Việt Nam dùng lá trường sinh trị đau mắt, ho, cảm,
phỏng lửa, phỏng nước sôi, cầm máu.
Người Trung Hoa dùng lá trường sinh trị thổ huyết, đau mắt,
mũi, tai, cuống họng, cầm máu.
Ở Ấn Độ, Nam Mỹ, Phi Luật Tân lá trường sinh có công dụng
rộng lớn như trị các chứng bịnh về máu như huyết tiện, xuất huyết, thổ huyết,
kinh nguyệt, trĩ, huyết áp, bịnh lao, tiểu đường, sạn thận, đau răng, đau mắt,
đau mũi, loét dạ dày (dùng chút muối khi dùng lá chua), ung thư, viêm, sốt, nhức
đầu, viêm bàng quang, suyễn, bịnh ngoài da, cước khí, động kinh, kiết lỵ, tiêu
chảy, táo bón, chống kết sạn, thông đại tiểu tiện. Lá trường sinh kích thích tử
cung nên người ta khuyên phụ nữ mới sinh không được dùng.
Việc nghiên cứu lá trường sinh hiện nay được các nước Ấn Độ,
Brazil, Nhật, Pháp, Trung Hoa, Phi Luật Tân, Hoa Kỳ tiến hành. Kết quả những
cuộc nghiên cứu và thí nghiệm trên chuột cho thấy lá trường sinh kháng trùng,
kháng khuẩn, kháng nấm, kháng dị ứng, kháng histamine. Dùng lá trường
sinh trị suyễn, kiết lỵ, tiêu chảy, sốt Dum Dum (2) có kết quả tốt. Sốt Dum Dum
(leishmaniasis) là một loại bịnh nhiệt đới gây tử vong và khó trị nhưng
có thể trị khỏi bằng thuốc chế từ lá trường sinh. Khả năng cầm máu của lá trường
sinh làm cho các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến dược tính và khả năng trị
liệu rộng rãi của nó. Lá trường sinh có alkaloids, triterpene glycosides, flavonoids, steroids, lipids, bufadienolides. Bufadienolides có tác dụng như digoxin C41H64O14 và digitoxin C41H64O13 dùng để chữa bịnh nghẽn tim. Bufadienolides chống kết bướu, kháng khuẩn, ngừa ung thư. Chất nầy có trong nọc độc của con cóc (Bufo fowleri, gia đình: Bufonidae) và cây hành biển (Urginea maritima dùng làm thuốc thông phổi). Chất độc nằm trong nhựa mủ trên da sần sùi của con cóc (thiềm thừ) được gọi là thiềm tô dùng làm thuốc trị ung độc trong Đông Y.
***
Sau đây tôi xin trình bày vài câu chuyện về lá trường sinh:
Năm 1977 tôi về quê nội. anh cả tôi định làm thịt hai con gà
(một con trống và một con mái) nhốt chung trong một cái lồng làm bằng tre. Hai
con gà nằm ủ rũ vì bịnh, miệng nhểu đầy nước dãi. Tôi nói anh tôi đừng giết
chúng, để tôi chữa chúng bằng lá trường sinh. Tôi giã lá trường sinh, vắt nước
nhỏ vào miệng hai con gà rồi dùng tay nhét xác lá giã nhuyễn vào miệng chúng.
Sau trên hai tiếng đồng hồ hai con gà vẫn nằm bất động nhưng chưa chết. Trời sụp
tối, tôi đạp xe về nhà và dặn anh tôi tiếp tục chữa hai con gà như tôi đã làm.
Sáng hôm sau tôi đạp xe đến nhà anh tôi để xem hai con gà ra sao. Tôi vui mừng
khi thấy hai con gà đứng trong hai cái lồng khác nhau. Sau khi lành bịnh, hai
con gà có vẻ khác thường. Chúng thường mổ lá trường sinh để ăn. Con gà trống
không buồn chạy khi trời mưa. Con gà mái đẻ 49 trứng. Có phải chăng vì lá trường
sinh có khả năng kích thích sinh dục mà người Mễ Tây Cơ gọi cây trường sinh là
cây tình yêu (love plant)? Đầu năm 1978 một người bạn ấu thời của tôi đi học tập về. Anh ghé nhà thăm và trò chuyện với tôi trước khi về nhà. Anh lo lắng về bịnh suyễn của mẹ anh giữa lúc anh khốn đốn mặc dù trước kia anh từng điều khiển Chi Y Tế trong một quận trong tỉnh Bình Dương. Đó là sự lo âu tự nhiên của người học tập vừa mới được tự do khi nghĩ đến trách nhiệm của mình đối với gia đình. Tôi nói sơ qua về lá trường sinh và đề nghị anh cho mẹ anh thử nhằm phá vỡ một trong những sự lo âu chồng chất của anh. Bạn tôi không còn cách nào hơn là nghe theo tôi. Nhà anh chật hẹp nên anh phải trồng cây trường sinh trước sân nhà tôi rồi hái lá về cho mẹ anh dùng. Anh xác nhận việc trị liệu có kết quả.
__________________
|