|
PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.
NGOẠI NGỮ

Không phải mất th́ giờ định nghĩa
ngoại ngữ là ǵ? V́ không ai có học hết bậc tiểu học mà không hiểu hai chữ ấy.
Việt Nam từng là cựu thuộc địa của Trung Hoa và Pháp. Năm 1954 Việt Nam bị qua
phân. Vùng lănh thổ phía bắc vĩ tuyến 17 chịu ảnh hưởng của Trung Quốc và Liên
Sô. Vùng lănh thổ phía nam vĩ tuyến 17 chịu ảnh hưởng của Pháp và Hoa Kỳ.
Lần lượt chúng tôi tŕnh bày về các ngoại ngữ có ảnh hưởng đến Việt Nam để xem
Việt Nam nên chọn ngoại ngữ nào để học khả dĩ giúp cho Việt Nam tiến bộ đồng đều
trên mọi lănh vực để góp mặt cũng năm châu thế giới.
HOA NGỮ
Trong quá khứ Việt Nam có tiếng nói nhưng không có chữ viết. Sau hàng ngàn năm
dưới sự đô hộ của Trung Hoa một thiếu số rất nhỏ người Việt Nam học chữ Hán.
Người Việt Nam học chữ Hán nhưng đọc theo tiếng nói của ḿnh. Điều này không có
chi lạ cả. Trung Hoa có trên 500 thổ âm mặc dù chỉ có một chữ viết. Cùng một chữ
người Guangdong (Quảng Đông) phát âm khác với người Hoa Bắc. Từ khi độc lập đến
thế kỷ XIX chữ Hán được dùng để viết văn thư trong triều đ́nh. Chữ Hán được dùng
trong các cuộc thi cử qui mô để lấy cử nhân, tiến sĩ được tổ chức từ thời nhà Lư.
Tổ chức triều chính, hành chánh, thi cử dưới chế độ quân chủ Việt Nam đều phỏng
theo tổ chức chánh trị, hành chánh và học chế của Trung Hoa. Chữ Hán, Bắc sử, tư
tưởng Khổng Mạnh đóng vai chủ yếu. Điều đáng ghi nhớ là đến thế kỷ XIX trong Lục
Bộ không có bộ Giáo Dục. Trường học công lập vắng bóng ở các địa phương trước
khi người Pháp đến.
Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862 và ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm
1867. Các kỳ thi Hương băi bỏ ở Nam Kỳ, vùng đất thuộc địa của Pháp. Tiếng Pháp
và chữ Quốc Ngữ được giảng dạy.
Chữ Quốc Ngữ do giáo sĩ Alexandre de Rhodes phát minh để tiện cho việc giảng đạo
Thiên Chúa ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài vào thế kỷ XVII. Chữ Quốc Ngữ dùng các
mẫu tự La Tinh nhưng không có chữ F, J, W, Z bù lại có chữ D và D có gạch ngang
và dồi dào dấu sắc, huyền, hỏi, ngă, nặng, dấu mũ, dấu khăn, dấu móc trên các
chữ A,E,O,U v.v. Vào hậu bán thế kỷ XIX nhiều người miền Nam giàu có từ chối
không cho con đi học chữ Quốc Ngữ và tiếng Pháp. Để tránh sự nghi ngờ của chánh
quyền thuộc địa họ thuê trẻ em nghèo đi học thay thế con em của họ. Họ thuê thầy
về nhà dạy chữ Hán cho con. Chữ Hán là chữ Thánh Hiền nên được trân quí và gọi
là chữ Nam nghĩa là chữ của nước Nam ta.
Bắc Kỳ và Trung Kỳ là đất bảo hộ của Pháp. Vua Việt Nam vẫn c̣n trên hai vùng
đất mà người Pháp gọi là Tonkin và Annam. Các kỳ thi tam trường dưới triều
Nguyễn vẫn c̣n mặc dù tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ đă được người Pháp phổ biến. Kỳ
thi Hán học bị băi bỏ ở Bắc Kỳ năm 1915 và ở Trung Kỳ năm 1918.
Nam Kỳ là thuộc địa Pháp. Tiếng Pháp và Quốc Ngữ được phổ biến. Dù vậy chánh
quyến thuộc địa vẫn duy tŕ giờ chữ Hán (caracters chinois) trong trường học.
Chữ Hán không phát triển được v́:
- chánh quyền thuộc địa Pháp không muốn chữ Hán phát triển như là sự gợi lại ảnh
hưởng của Trung Hoa.
- thiếu thầy dạy chữ Hán.
- về phía học sinh Việt họ thấy học tiếng Pháp, Quốc Ngữ vừa dễ vừa thực dụng
hơn học chữ Hán.
Ở Huế vua Đồng Khánh bắt đầu học tiếng Pháp. Các ông Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim,
Nguyễn Văn Vĩnh có vai tṛ quan trọng trong văn giới v́ biết chữ Hán, Pháp ngữ
và Quốc Ngữ. Chữ Hán c̣n rơi rớt trên trang tựa của các tờ báo Quốc Ngữ vào cuối
thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX như Gia Định Báo, Nông Cổ Mín Đàm, Phan An Báo (Phan
An: Phiên An: Gia Định), Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí v.v. Các sư tăng
Phật Giáo Việt Nam học chữ Hán để đọc kinh Phật. Các nhà nho học chữ Hán như nhà
cách mạng Phan Bội Châu khi gặp nhà cách mạng Trung Hoa là Sun Yatsen (Tôn Dật
Tiên) chỉ bút đàm mà thôi.
Năm 1945 Hán- Việt nở rộ một thời với những từ mang màu sắc chánh trị như
cách mạng, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng, cứu quốc, ái quốc, đồng chí, phản đế’,
thực dân, đế quốc, b́nh sản v.v. Nhưng sau 1954 sự nôm na hóa tiếng Việt nở
rộ ở miền Bắc. Dấu hiệu b́nh dân và thân dân của chế độ chuyên chính vô sản?
Phản ứng ngấm ngầm kháng Trung Quốc của nhóm Cộng Sản thân Liên Sô? Tạo sự cách
biệt ngôn ngữ giữa hai miền Nam, Bắc? Từ sự nôm na hoá Việt ngữ ta có sự khác
biệt giữa cách dùng từ ngữ giữa VNDCCH (Bắc) và VNCH (Nam):
|
Tên Gọi Hán- Việt |
VNDCCH (Bắc) |
VNCH (Nam) |
|
Phi cơ |
máy bay |
phi cơ; máy bay |
|
Trực thăng |
máy bay lên thẳng |
Trực thăng |
|
Hồng Thập Tự |
Chữ Thập Đỏ |
Hồng Thập Tự |
|
Thủy quân lục chiến |
Lính thủy đánh bộ |
Thủy quân lục chiến |
Hiện nay Trung Quốc có ảnh hưởng tuyệt đối ở Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Hoa ngữ dự trù được dạy từ bậc tiểu học như trước kia học sinh tiểu học Việt Nam
học Pháp ngữ từ lớp Dự Bị tức Lớp II.
Khác với nhiều thế kỷ trước các nhà nho Việt Nam học chữ Hán nhưng đọc theo
tiếng Việt như Gia: Nhà; Quốc: Nước; Tiền: Trước; Hậu: Sau chẳng hạn. Trong hiện
t́nh chánh trị ở Việt Nam, Hoa ngữ sẽ được dạy bằng Quan thoại bởi các thầy
người Việt gốc Hoa hay các thầy từ lục địa Trung Hoa đến. Việc ǵ sẽ xảy ra khi
có 300 triệu người từ lục địa đến cưới vợ Việt Nam và thế hệ trẻ Việt Nam học
viết và nói Quan thoại?
Có người mạnh dạn đ̣i bỏ Hán- Việt trong Việt ngữ. Đây là một ư kiến cực đoan
cần phải tránh. Ngôn ngữ nào cũng có sự vay mượn lẫn nhau. Sự vay mượn đó không
phải trả tiền, không vi phạm pháp luật, không chịu một phân lời nào cả. Các ngôn
ngữ Âu Châu đều có gốc La Tinh do ảnh hưởng của đế quốc La Mă trong quá khứ. Các
từ ngữ y khoa, dược khoa, thực vật học, động vật học đều có gốc La Tinh và Hy
Lạp. Nếu bỏ Hán- Việt khi nói đến những danh từ kép như độc lập, chánh trị, Quốc
hội, Hiến pháp, bác sĩ, kinh tế, thư viện … phải dùng từ ǵ để thay thế? Trong
tiếng Anh của Hoa Kỳ có nhiều từ vay mượn từ các nước khác. Điều đó không thể
cho là họ vọng ngoại hay nghèo nàn từ ngữ được.
PHÁP NGỮ & QUỐC NGỮ
Pháp ngữ và Quốc Ngữ được giảng dạy song song ở Nam Kỳ. Những người thông thạo
Pháp ngữ và Quốc Ngữ đầu tiên là những tín đồ Thiên Chúa Giáo tiêu biểu là các
ông Pétrus Trương Vĩnh Kư và Paulus Huỳnh Tịnh Của. Pétrus Trương Vĩnh Kư là
giảng viên người Việt đầu tiên trong Trường Thông Ngôn (École des Interprètes).
Lê Phát Đạt tức Huyện Sĩ, ông ngoại của bà Nam Phương Hoàng Hậu, tốt nghiệp
Trường Thông Ngôn, biết Pháp ngữ và Quốc Ngữ nên được gọi là Học Sĩ. Sĩ trong
Huyện Sĩ không phải là tên của ông mà là chữ rút ngắn của danh hiệu Học Sĩ. C̣n
Huyện chỉ là chức Huyện hàm mà thôi (Huyện honoraire). Ông Diệp Văn
Cương là người
giỏi Pháp ngữ sau Pétrus Kư. Ông dạy trường Chasseloup Laubat. Vợ ông là một
công chúa. Một thời ông nổi tiếng tại triều đ́nh Huế. Ông là người ủng hộ Bửu
Lân, cháu vợ của ông, lên ngôi năm 1889 sau khi vua Đồng Khánh băng hà. Đó là
vua Thành Thái.
Việt Nam t́m phúc trong họa mà không hay.
Họa là sự xâm lăng và đô hộ của người Pháp.
Phúc là chữ Quốc Ngữ dựa trên mẫu tự La Tinh nên tiện lợi và dễ học. Chúng tôi
không biết phải học bao lâu để viết và đọc được chữ Hán. Chúng tôi biết một
người có chỉ số thông minh trung b́nh chỉ mất 06 tháng th́ có thể đọc và viết
chữ Quốc Ngữ. Cái phúc khác là chữ Quốc Ngữ La Tinh hoá giúp Việt Nam thoát khỏi
ảnh hưởng của chữ Hán về h́nh thức.
Thổ Nhĩ Kỳ và Indonesia hơn hẳn Việt Nam về nhiều mặt trong quá khứ về diện tích,
dân số, tŕnh độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật nhưng họ đă mạnh dạn La Tinh hóa
chữ viết của họ. Làm như vậy v́ tiện lợi chớ có phải v́ Indonesia yêu Ḥa Lan đă
đô hộ nước họ hay Thổ Nhĩ Kỳ yêu và thán phục các nước Âu Châu? Indonesia là
quốc gia rộng lớn nhất ở Đông Nam Á và có dân số theo Hồi Giáo cao nhất thế giới.
Thổ Nhĩ Kỳ là đế quốc Ottoman Hồi Giáo từng thống trị Trung Đông, Bắc Phi và
đông nam Âu Châu. Họ La Tinh hoá mẫu tự của chữ viết của họ v́ tiện ích chớ
không tự ràng buộc bằng những khái niệm cổ điển, hẹp ḥi và phức tạp.
Phan Châu Trinh là nhà nho có tinh thần phóng khoáng và say mê duy tân và ưa
chuộng dân chủ Tây Phương. Ông mạnh dạn cắt tóc ngắn, mặc Âu phục, mang giày da
và xin đi Tây để t́m hiểu xem khẩu hiệu Tự Do, B́nh Đẳng và T́nh Huynh Đệ của
cách mạng 1789 của Pháp được thực thi như thế nào. Ông chống chánh sách thuộc
địa của Pháp chớ không chống văn minh và văn hoá Pháp. Ông không chống những
tiến bộ về khoa học kỹ thuật của Pháp.
Người Triều Tiên oán ghét sự đô hộ của Nhật trên xứ họ nhưng họ học hỏi rất
nhiều những nét ưu việt của Nhật (phương pháp tổ chức, tinh thần trách nhiệm,
tinh thần kỷ luật) để có những tiến bộ kinh tế, khoa học kỹ thuật như đă thấy
hiện nay.
Người Việt Nam hiếu học. Đó là con đường tiến thân duy nhất trong xă hội phong
kiến, nông nghiệp Khổng Giáo. Cách học của các nho gia là dùng trí nhớ và học
thuộc ḷng lời nói của Khổng Tử, Mạnh Tử. Nên khi học Pháp ngữ người học không
gặp một trở ngại hay khó khăn nhỏ nào.
V́ Nam Kỳ sớm trở thành thuộc địa của Pháp, những người giỏi tiếng Pháp đầu tiên
trong nước đều gốc ở Nam Kỳ như Pétrus Trương Vĩnh Kư, Diệp Văn Cương, Paulus
Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Kư. Sau này ở Bắc Kỳ có Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh.
Người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp đại học nông nghiệp Pháp năm 1897 là ông Bùi
Quang Chiêu. Ái nữ của ông là Henriette Bùi Quang Chiêu là nữ bác sĩ đầu tiên
của Việt Nam (1929). Ông Nguyễn Văn Xuân tốt nghiệp Polytechnique vào năm 1911.
Sau này ông là trung tướng trong quân đội Pháp và thủ tướng chánh phủ Quốc Gia
Lâm thời. Các ông Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Trần Văn
Chương (thân sinh của bà Trần Thị Lệ Xuân tức bà Ngô Đ́nh Nhu), Lưu Văn Lang,
Vương Quang Nhường, Trịnh Đ́nh Thảo, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Văn Thinh, Phạm
Ngọc Thạch, Lê Văn Thêm, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trần Văn Trai, Phạm
Duy Khiêm, Ngô Đ́nh Nhu, Hồ Hữu Tường, Henriette Bùi Quang Chiêu, Lê Văn Thới…
đạt học vị cao từ các đại học nổi tiếng của Pháp như Sorbonne, École Nationale
des Chartes, Polytechnique, École Normale Supérieure. Ông Nguyễn Mạnh Tường và
Trần Văn Trai có tiến sĩ luật và văn chương. Các ông Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu,
Dương Bạch Mai, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) đều
có học ở Pháp. Từ Pháp về người th́ trở thành Marxist; người trở thành Léninist,
người theo Stalinist; người theo Trotskyites. Người chủ trương Pháp- Việt đề huề;
người theo khuynh hướng SFIO (Section Française Internationale Ouvrière- Phân Bộ
Quốc Tế Công Nhân Pháp); người theo CGT (Confédération Générale du Travail- Tổng
Liên Đoàn Lao Động). Kết quả: tất cả đều được hành chánh hóa hay chánh trị hoá
nên không có th́ giờ và cơ hội để phục vụ kiến hiệu cho đất nước bằng sở học
chuyên môn của ḿnh.
Trường Cao Đẳng Hà Nội được thành lập năm 1918 đào tạo nhiều nhân vật nổi tiếng
về phương diện chánh trị hơn là kinh tế và khoa học kỹ thuật. Đó là các ông
Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, Phan Huy Quát, Cù Huy Cận, Nguyễn Tôn Hoàn, Vơ
Nguyên Giáp, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiếng, Huỳnh Tấn Phát, Trần
Văn Hương v.v.
Tiếng Pháp được giảng dạy từ lớp dự bị (lớp II) lên bậc trung học và đại học.
Các môn học trong các kỳ thi đều bằng tiếng Pháp. Trong thời kỳ đất nước qua
phân tiếng Pháp biến mất ở miền Bắc nhưng vẫn c̣n giảng dạy ở bậc trung học ở
miền Nam. Các trường Pháp dạy để thi BEPC và Tú Tài I &II Pháp vẫn duy tŕ ở Sài
G̣n và Đà Lạt. Từ thập niên 1960 về sau số học sinh chọn Anh Văn làm sinh ngữ
chánh cao hơn số học sinh chọn Pháp Văn làm sinh ngữ I. Ở Sài G̣n có Mission
Culturelle Française sau nầy đổi thành Centre Culturel Français dạy Pháp Văn.
Sau năm 1975 tiếng Pháp càng ngày càng giảm dần tầm quan trọng của nó trong nhà
trường Xă Hội Chủ Nghĩa.
Tiếp xúc với người Pháp ngôn ngữ Việt Nam được dồi dào thêm nhờ vay mượn nhiều
từ ngữ Pháp được Việt hoá. Ta có: cải xà lách (salade), Xà lách son
(cresson), cà tô mát (tomate), phú- lít (police), thịt cốc- lết
(cotelette), dây lập ḷng (fil à plomb), cái mỏ- lết (molette),
bù- lon (boulon), con vít (vis), xe ô- tô (automobile), ông
C̣ (commissaire), sở cẩm (commissariat), sen đầm (gendarme),
săn đá (soldat), tem (timbre), cây dên (bielle), cây láp
(l’arbre) v.v. Từ ngữ Việt hoá biến thiên tùy theo sự khám phá của người nói ban
đầu. Đó là những từ khoa học, kỹ thuật, thảo mộc, rau cải thức ăn, thức uống
miền ôn đới và từ ngữ liên quan đến thể thao.
Chữ Police biến thiên từ mă tà (nói theo người Mă Lai- matas) sang
phú lít đến cảnh sát. Chữ Vin được âm thành rượu Vang, rượu
chát (v́ vị chát), rượu nho (v́ làm từ nho). Chữ Timbre âm thành
tem rồi con c̣ v́ trên tem có h́nh con c̣ trắng. Chữ Banque được âm
thành nhà băng rồi ngân hàng. Nếu bỏ Hán- Việt th́ phải nói cửa
hàng chứa tiền? Chữ Soldat biến thiên từ săn đá sang lính, chiến
sĩ, quân sĩ. Chữ Commissaire được âm thành C̣ rồi dịch thành cảnh
sát trưởng, uỷ viên (nói theo từ cách mạng). Từ năm 1954 đến 1975 Việt Nam
có hai nước với hai chế độ chánh trị đối nghịch nhau. Miền Bắc theo chế độ Cộng
Sản có khuynh hướng nôm na hoá từ ngữ mặc dù họ chịu ảnh hưởng và bị chi phối
bởi Trung Quốc lẫn Liên Sô. Trong miền Nam thiết lập ban Việt- Hán trong Đại Học
Sư Phạm và từ ngữ miền Nam bóng bảy, thanh bai đầy tính văn học. Ông Ngô Đ́nh
Diệm xuất thân là một nhà hành chánh tốt nghiệp École de Droit et
d’Administration. C̣n ông Ngô Đ́nh Nhu tốt nghiệp hạng nh́ École Nationale des
Chartes. Một người có hành văn hành chánh và luật pháp. Người kia uyên thâm cổ
tự. Dù trên lập trường chánh trị nào, tŕnh độ hoc vấn nào, vọng ngoại hay yêu
nước nhưng từ Bảo Sanh Viện hay Nhà Bảo Sanh vẫn dễ nghe hơn
Xưởng Đẻ.
Trong hiện t́nh Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chịu sự chi phối sâu đậm của
Trung Quốc về phương diện chánh trị và kinh tế. Viện Khổng Tử đă có ở Việt Nam.
Nếu Quan Thoại (Mandarin) được giảng dạy trong học đường trong ṿng nửa thế kỷ
tới Quốc Ngữ không c̣n chỗ đứng và người Việt thuần túy sẽ trở thành người thiểu
số!!
ANH NGỮ & NGA NGỮ
Dưới thời Pháp thuộc chỉ có người Việt gốc Hoa biết tiếng Anh mà thôi v́ họ có
liên lạc thương mại với Hồng Kông và Singapore. Các trường của người Hoa ở Việt
Nam dưới thời Pháp thuộc có dạy tiếng Anh và dùng cách chấm điểm như Hoa Kỳ. Các
trường học của người Hoa ở Việt Nam đều có pḥng bóng bàn và sân để đánh bóng rổ.
Đó là môn thể thao thịnh hành ở Anh và Hoa Kỳ.
Người Việt Nam biết vài tiếng Anh như one, two, three (oánh, tù t́),
ping pong (banh bong .<.bóng bàn.>.), football (đá banh chớ không gọi
là soccer như Hoa Kỳ), goal keeper (giữ gôn), volley ball (bóng
chuyền), basket ball (bóng rổ), out (ao), knock out (nốc ao),
knock down (nốc đao), corner (cọt- nê), penalty (bê- nanh-
ty), boxing (đánh bốc- quyền Anh) v.v. xuyên qua các tṛ chơi, đá banh,
bóng bàn, đánh quyền Anh.
Người Việt Nam đầu tiên học tiếng Anh ở một trường đại học Hong Kong dưới thời
Pháp thuộc là ông Nguyễn Háo Vĩnh (1893- 1941). Ông là người Long Xuyên (An
Giang) trong phong trào Minh Tân. Hưởng ứng Phong Trào Đông Du do Phan Bội Châu
lănh đạo ông sang Nhật du học năm 1905. Sau khi Nhật kư thương ước với Pháp năm
1907 ông rời Nhật sang Hồng Kông và học đại học St Joseph’s College ở đây. Năm
1916 ông bị bắt ở Hong Kong v́ hoạt động cho Việt Nam Quang Phục Hội của Phan
Bội Châu và Cường Để. Giải về Sài G̣n ông bị án tử h́nh nhưng được tổng thống
Pháp Raymond Poincaré ân xá. Khoảng năm 1923 ông sống ở G̣ Vấp và lập ra tờ
Hoàn Cầu Tuần Báo và Nam Kỳ Kinh Tế Báo. Ông dịch Hamlet, Romeo
and Juliet…của Shakespeare. Ông mất năm 1941.
Người tốt nghiệp đại học Anh đầu tiên là ông Tạ Quang Bửu, người kư hiệp định
Geneva năm 1954 với đại tá Delteil. Tiếp theo có các ông Hoàng Gia Lịnh và Phạm
Văn Thuật.
Các ông Phan Quang Đán, Huỳnh Văn Lang, Nguyễn Văn Thơ, Nguyễn Xuân Oánh, Nguyễn
Đ́nh Ḥa, bà Phan Thị Nguyệt Minh, Nguyễn Ngọc Linh… là những người Việt Nam sớm
tốt nghiệp đại học Hoa Kỳ. Tất cả đều có địa vị quan trọng trong chánh quyền hay
cơ quan lập pháp của Việt Nam Cộng Hoà. Riêng ông Nguyễn Xuân Oánh không rời
Việt Nam sau ngày 30-04-1975. Ông bị Cộng Sản giam giữ một thời gian ngắn cùng
các cựu thủ tướng và vài tổng trưởng khác như các ông Phan Huy Quát, Nguyễn Văn
Lộc, Ngô Khắc Tĩnh, Hồ Văn Châm, Nguyễn Ngọc An v.v. Sau đó ông là cố vấn kinh
tế cho thủ tướng Vơ Văn Kiệt và Nguyễn Văn Linh, tổng bí thơ đảng Cộng Sản Việt
Nam. Ông Nguyễn Xuân Oánh là tiến sĩ kinh tế Đại Học Harvard.
Trong chương tŕnh học dưới thời Pháp thuộc không có Anh Văn. Khi chánh phủ Quốc
Gia chào đời dưới sự lănh đạo của quốc trưởng Bảo Đại chương tŕnh học được Việt
hoá. Các môn học đều được giảng dạy bằng tiếng Việt. Anh Văn được dạy từ lớp đệ
thất song song với Pháp văn. Chương tŕnh Pháp và hỗn hợp Pháp- Việt vẫn tồn tại.
Các môn học đều dạy bằng tiếng Pháp. Măi lên đến lớp Seconde (đệ tam; lớp 10)
mới học Anh Văn.
Dưới thời đệ nhất Cộng Ḥa học sinh Trung Học chọn hoặc Pháp Văn, hoặc Anh Văn
làm sinh ngữ I. Nếu chọn Pháp Văn làm sinh ngữ I th́ đến năm đệ tam (Lớp 10) học
sinh bắt đầu học tiếng Anh như sinh ngữ II và ngược lại. Ở các tỉnh Nam Phần sĩ
số chọn Pháp Văn làm sinh ngữ chánh nhiều hơn ở Sài G̣n. Từ đầu thập niên 1960
số học sinh chọn Anh Văn làm sinh ngữ I vượt quá số học sinh chọn Pháp văn làm
sinh ngữ I. Anh Văn được dạy trong trường học, Hội Việt Mỹ, các trường sinh ngữ
tư thục ở Sài G̣n và các thành phố lớn khác. Người ta đổ xô học tiếng Anh để làm
sở Mỹ, mua bán đô la xanh và đô la đỏ, lănh thầu rác Mỹ, giặt ủi quần áo cho các
quân nhân Mỹ v.v.
Hai tôn giáo có nhiều tín đồ ở Việt Nam là Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo. Trước
kia các sư tăng Phật Giáo Đại Thừa chỉ biết chữ Hán mà thôi. Các tân tăng sau
này có văn hóa cao hơn. Có người học ở Nhật. Có người học Ấn Độ. Những tân tăng
nầy giỏi tiếng Anh. Thượng tọa Thích Thiện Ân có tiến sĩ đại học Keio, Nhật Bản.
Có vài tu sĩ khác có BA hay M.A của Hoa Kỳ. Tu sĩ Phật Giáo Đại Thừa Việt Nam
giỏi Hán tự và Anh Văn. Tu sĩ Thiên Chúa Giáo giỏi La Tinh và Pháp Văn.
Nga ngữ được Nguyễn Ái Quốc tức Lư Thụy, tức Hồ Chí Minh sau này, đưa vào Việt
ngữ vào năm 1925 khi ông thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ở
Guangzhou (Quảng Châu). Những từ Nga ngữ đều là những từ chánh trị âm từ tiếng
Nga như bôn-sê- vít (bolshevik), men sê- vít (menshevik), xa- hoàng (Czar), Xta-ka-
nốp (tên người anh hùng lao động- Stakhanov), Kom-sô- môn (Komsomol- Thanh Niên
Cộng Sản), Xô- Viết (Soviet), Ku- lac (Kulak- phú nông) v.v.
Người Việt Nam đầu tiên có mặt ở Nga và nói tiếng Nga sau cách mạng 1917 là
Nguyễn Khánh Toàn. Các ông Nguyễn Ái Quấc (Hồ Chí Minh), Trần Phú, Lê Hồng Phong,
Hà Huy Tập, Dương Bạch Mai, Trần Văn Giầu, Nguyễn Văn Tạo… đều có tên Nga và
được đào luyện để trở thành cán bộ Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản do Lenin thành lập để
phục vụ cho nước Nga. Tiếng Nga được xem là ngôn ngữ chính ở các Cộng Hoà Sô
Viết. Công dân các Cộng Ḥa Sô Viết đều có tên Nga và xem Nga ngữ là quốc ngữ.
Trong thời kỳ đất nước qua phân, trên lư thuyết, chương tŕnh học ở miền Bắc có
Trung Văn và Nga Văn. Trên thực tế không có thầy để giảng dạy. Có nhiều phó tiến
sĩ học ở Liên Sô về nhưng không nói được tiếng Nga!
Sau khi đất nước thống nhất dưới hồng kỳ Cộng Sản chánh quyền Cộng Sản có vẻ
lúng túng về vấn đề giáo dục ở miền Nam. Lúng túng v́ nền giáo dục ở miền Nam
tuy chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế nhưng đă bỏ xa nền giáo dục ở miền Bắc về trường
ốc, học cụ, thành phần giảng huấn, các bộ môn học khoa học, văn chương, sinh ngữ
v.v. Bậc trung học ở miền Bắc chỉ có 10 cấp lớp trong khi bậc trung học ở miền
Nam có 12 cấp lớp. Ho giảm thiểu tầm quan trọng của sinh ngữ Anh và Pháp trong
học đường để thay thế bằng giờ chánh trị về đảng Cộng Sản Việt Nam, chủ nghĩa
Mác- Lê- Nin, sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Cái ǵ cũng có đảng Cộng Sản, chủ
tịch Hồ Chí Minh vô vàn kính yêu, việc chống Mỹ, giết Mỹ, đại thắng mùa Xuân
trong các môn học như Văn, Sử, Toán, Anh Văn hay Pháp Văn. Lúng túng v́ họ muốn
dùng tiếng Nga để thay thế tiếng Anh hay tiếng Pháp nhưng họ rơi vào sự mâu
thuẫn kỳ lạ.
Thứ nhất: họ không có đủ giáo viên để dạy Nga ngữ.
Thứ hai: hầu hết học sinh ghi danh đi học đều chọn Anh Văn.
Thứ ba: họ (CS) chống Mỹ, thù ghét Mỹ nhưng họ cho con em học Anh Văn và bắt con
em Ngụy học tập cải tạo tập trung phải học tiếng Nga!
****
Chúng tôi không viết bài này để bài ngoại hay vọng ngoại cũng không để phô bày
ḷng yêu nước cực đoan hay một giáo điều nào mà để tŕnh bày về một quan niệm cá
nhân tích lũy trong nhiều thập niên suy nghĩ và nghiền ngẫm ngơ hầu góp vài ư
mọn hầu mang lợi ích cho đất nước và dân tộc trải qua hàng chục thế kỷ thử thách
cam go, cay đắng và cay nghiệt. Hiện nay chúng tôi không c̣n mang quốc tịch Việt
Nam mặc dù chỉ c̣n h́nh hài Việt Nam với vài kư ức vui buồn lẫn lộn về quê hương
sinh quán.
Chúng ta đừng mất th́ giờ v́ những chuyện lản mản mơ hồ. Đừng tạo quá nhiều
huyền thoại về tính ưu việt, xuất chúng của nước ḿnh, dân tộc ḿnh, sự anh minh
của vị lănh tụ nào đó, đảng phái nào đó mà nh́n quá khứ u tối và hiện tại suy
thoái gần như vô phương cứu chữa của đất nước trong việc t́m kiếm con đường sáng
cho quê hương và dân tộc.
Xin bớt hăng say chia rẽ dân tộc, kỳ thị nhau, nguyền rủa nhau, thù hận nhau và
hô hào chém giết nhau triền miên.
Cách đây trên một thế kỷ các nhà trí thức Đông học của chúng ta học chữ Hán đọc
giọng Việt Nam. Các vị nầy xem chữ Quốc Ngữ là sản phẩm của người Pháp, của các
cố đạo. Pháp xâm chiếm nước ta. Thế là chữ Quốc Ngữ là kẻ thù. Đó là cái nh́n và
quan điểm của người Á Châu: hay qui nạp kẻ thù không cần biết lợi, hại, hợp lư
hay phi lư. A là kẻ thù của B. Toàn thể ḍng họ của A là kẻ thù của B. Nên xem
phim Trung Hoa thường thấy cảnh người cha hay một sự phụ trước khi chết thường
không để lại những lời trăn trối hữu ích như để vàng, để sách quí ở đâu mà chỉ
dặn con hay đệ tử phải trả thù cho cha hay cho sư phụ bằng cách chém giết X, Y
và ḍng họ của họ!
Là người Việt Nam của thế kỷ XXI chúng ta có cần trở lại thời kỳ đọc các danh từ
riêng chữ tên quốc gia, thành phố, tên các nhân vật lịch sử bằng những âm Hán
hóa như: America: A Mỹ Lệ Gia; France: Pháp Lan Xa; Belgium: Bỉ
Lợi Th́; Russia: Nga La Tư; Balkans: Bá Nhĩ Can; Iceland:
Ích Lan; ; New Zealand: Tân Tây Lan (chỉ có chữ New được dịch thành
Tân. C̣n chữ Zealand được âm theo cách nói của người Trung Hoa); Washington:
Hoa Thịnh Đốn; Moscow: Mạc Tư Khoa; Rome: La Mă; Paris: Ba
Lê; Garibaldi: ông Gia Lư Ba Đích; Rousseau: Lư Thoa;
Montesquieu: Mạnh Đức Tư Cưu; Karl Marx: Mă Khắc Tư v.v. không?
Vào đầu thế kỷ XX các nhà nho yêu nước trong Đông Kinh Nghĩa Thục, nhà cách mạng
Phan Châu Trinh t́m hiểu Contrat Social (Xă Ước) của Jean Jacques Rousseau hay
Esprit des Lois (Vạn Pháp Tinh Lư) của Montesquieu qua các bản dịch của các học
giả Trung Hoa. Để chấm dứt t́nh trạng bất tiện này nhà cách mạng Phan Châu Trinh
đi thẳng qua Pháp để đấu tranh (thành lập nhóm Ngũ Long) đồng thời học hỏi sự
thực thi tự do, dân chủ nơi quê hương xuất phát cách mạng 1789.
V́ lư do an ninh chánh trị ngoại ngữ chỉ dành cho ngành ngoại giao, công an,
t́nh báo, mật vụ ở miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ đất nước qua phân. Có sự phân
biệt đối xử trong việc học ngôn ngữ. Đại đa số dân chúng phải đọc tên phiên âm
các nhà lănh đạo trên thế giới hay tên các nước và các thành phố. Những chữ
phiên âm này khó nhớ và khó viết. Thí dụ: Át- hăng- ti- na (Argentina);
Mê- hi- cô (Mexico); Oa Sinh Tơn (Washington); Pa-Ri
(Paris); Giơ- Neo- Vơ (Geneva), Niu- Oot (New York) ; Xta-lin
(Stalin) v.v.
Một sự rắc rối khác thường xảy ra là Việt hoá tên các lănh đạo và thành phố
Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản. Điều nầy gây ra hai bất tiện:
a. người nghe hay người đọc tưởng đó là người Việt Nam hay thành phố Việt Nam.
Thí dụ: Mao Trạch Đông (Mao Zedong), Tập Cận B́nh (Xi Jinping),
Lư Thừa Văn (Syngman Rhee), Phát Chánh Hy (Park Chung Hee), Khuyển
Dưỡng Nghi (Inukai), Dại Ôi Trọng Tín (Okuma), Đông Điệu (Tojo),
Bắc Kinh (Beijing), Hán Thành (Seoul), Đông Kinh (Tokyo),
Kyoto (Tây Kinh) v.v.
b. Khi nói chuyện với người ngoại quốc họ ngẩn ngơ khi ta nói đến Mao Trạch Đông.
Nhưng khi nói Mao Tse-tung hay Mao Zedong th́ họ biết! Để tránh ngộ nhận đó là
một người Việt, trong bối cảnh sống hiện nay, đa số thanh niên Việt Nam đều biết
các ngôn ngữ Âu Châu th́ nên gọi Beijing thay v́ Bắc Kinh hay Xi Jinping thay v́
Tập Cận B́nh; Tokyo thay v́ Đông Kinh. Ở Việt Nam có Sơn Tây. Tỉnh Shanxi của
Trung Hoa, nếu không dùng đúng chữ Shanxi mà dùng chữ Sơn Tây phiên âm th́ người
nghe hay đọc tưởng nó nằm trên đất Việt Nam! Thời Hậu Trần Hà Nội là Đông Kinh.
Chữ Tonkin mà người Pháp dùng để chỉ Bắc Kỳ âm từ chữ Đông Kinh với sự lẫn lộn
giữa T và Đ. Vào thời nầy Thanh Hoá là Tây Kinh. Nếu chúng ta dùng Đông Kinh và
Tây Kinh thay cho Tokyo và Kyoto th́ người đọc sẽ hoang mang.
Vào thế kỷ XIX Trung Hoa và Việt Nam trả giá rất đắt v́ chánh sách bế quan tỏa
cảng trước sự đe dọa của sức mạnh cơ giới Tây Phương. Một quốc gia to lớn và
đông dân nhất hoàn cầu như Trung Hoa lại bị liệt cường Tây Phương xâu xé. Việt
Nam trở thành thuộc địa của Pháp trong khi Xiêm La và Nhật Bản đồng cảnh ngộ
nhưng đă khéo léo có đường lối ngoại giao thích hợp với t́nh thế mới nên họ ǵn
giữ độc lập. Nhật biết canh tân, Âu hóa để vươn lên thành một cường quốc Á Châu.
Muốn học hỏi để vươn lên, ngoại ngữ không thể bị xem thường được. Đừng dùng chủ
nghĩa ái quốc (nationalism- patriotism), dân túy (populism), yêu nước cực đoan
(chauvinism) để nói rằng đó là sản phẩm ngoại lai nếu chúng ta khiêm tốn muốn
học hỏi nơi người khác để đưa quê hương và dân tộc thoát khỏi cảnh tăm tối, lầm
than, tủi nhục.
Những biến cố lịch sử và chánh trị ở Việt Nam tạo một sự xáo trộn to lớn trong
hệ thống tư tưởng cũ của Việt Nam. Giai cấp vô sản được đề cao. Trí thức tiểu tư
sản bị lên án dưới khẩu hiệu trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ của
đảng Cộng Sản Đông Dương. Người biết tiếng Pháp là tay sai, là điểm chỉ cho Pháp
, là mất gốc, vọng ngoại v.v. Dưới chế độ quân chủ phong kiến cũng có mâu thuẫn
giữa quan văn, quan vơ. Quan văn chê quan vơ là những người vai u thịt bắp.
Quan vơ khi quan văn dài quần, trói gà không chặt. Sự rạn nứt và chia rẽ
giữa trẻ- già, nghèo- giàu, có học- không học, tôn giáo mới (Thiên Chúa Giáo) và
tôn giáo cũ (Tam Giáo: Khổng- Lăo- Phật Giáo), giữa các địa phương (Bắc- Trung-
Nam; giữa các tỉnh, các quận và làng xă), chủ nghĩa (Tam Dân Chủ Nghĩa .<.San
Min Chu I.>., chủ nghĩa Marx- Lenin .<.Cộng Sản.>., chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn,
chủ nghĩa Vô Chánh Phủ (Anarchism)… trong cộng đồng dân tộc rất trầm trọng.
Trong bài nói về Ngoại Ngữ và việc t́m kiếm con đường cho dân tộc sinh tồn và
đất nước vươn lên chúng ta thử t́m hiểu ngoại ngữ nào có thể giúp đất nước Việt
Nam vươn lên:
Hoa ngữ có 1. 5 tỷ người nói nhưng chỉ là người Hoa và các dân tộc thiểu
số trên lục địa, người Singapore và một số người Đông Nam Á gốc Hoa. Hiện nay
Trung Hoa là cường quốc kinh tế thứ nh́ và cường quốc quân sự thứ ba trên thế
giới. Sự cống hiến của Trung Quốc trong cộng đồng nhân loại không đáng kể. Hoa
ngữ dễ nói nhưng học văn tự th́ khó. Đối với Việt Nam học Hoa ngữ trở thành vấn
đề tế nhị có ảnh hưởng không tốt đẹp cho viễn ảnh tương lai của dân tộc: nguy cơ
dân tộc bị đồng hoá để trở thành người thiểu số ngay trên đất sinh quán của ḿnh.
Nga ngữ được 260 triệu người nói trong đó có 150 triệu người Nga. Nga ngữ
là ngôn ngữ chánh thức ở Nga, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyztan. Dân chúng ở đông
Ukraine và một phần ở Latvia cũng nói tiếng Nga. Tiếng Nga theo mẫu tự Cyrillic
chớ không theo mẫu tự La Tinh nên tương đối khó đối người Việt đă quen với mẫu
tự La Tinh từ hai thế kỷ nay. Nga là cường quốc quân sự hàng nh́ trên thế giới.
Kỹ nghệ quốc pḥng của Nga quan trọng hơn kỹ nghệ sản xuất sản phẩm tiêu dùng
nhằm đáp ứng nhu cầu và cải thiện đời sống của dân chúng. Do đó kinh tế của Nga
không chiếm địa vị quan trọng trên thế giới.
Tây Ban Nha ngữ được phổ biến ở Tây Ban Nha và các cựu lănh thổ trực
thuộc vương quốc Tây Ban Nha ở Trung Mỹ và Nam Mỹ (ngoại trừ Brazil nói tiếng Bồ
Đào Nha). Hiện trên thế giới có 570 triệu người nói tiếng Tây Ban Nha. Các quốc
gia Châu Mỹ La Tinh là những quốc gia có nền kinh tế yếu kém, chánh trị không ổn
định. Tây Ban Nha là quốc có địa vị khiêm tốn ở Âu Châu so với Anh, Pháp, Đức và
Ư.
Pháp ngữ được 85 triệu người nói (Pháp, Bỉ, Luxemburg, đông bộ Canada,
các nước Phi Châu thuộc Pháp, Madagascar, New Caledonia v.v.). Trong các quốc
gia Thiên Chúa Giáo Âu Châu, Pháp là quốc gia tiến bộ và phồn vinh hơn cả.
Anh ngữ được 1.2 tỷ người trên thế giới nói. Ngoài Anh, Hoa Kỳ, Canada,
Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, tiếng Anh rất thông dụng ở Ấn Độ, Singapore, Phi Luật
Tân. Tiếng Anh được phổ biến khắp thế giới từ lục địa Âu Châu, Á Châu, Phi Châu
sang Trung- Nam Mỹ, các hải đảo Thái B́nh Dương, biển Caribbean. Ấn Độ có 125
triệu dân nói tiếng Anh. Đảo quốc Singapore là một quốc gia tân lập gồm người
Hoa (75%), Ấn Độ và Mă Lai (25%). Họ dùng Hoa ngữ và Anh ngữ. Ấn Độ và Phi Luật
Tân có nhiều thổ ngữ. Do đó, đôi khi họ hiểu nhau qua tiếng Anh dễ dàng hơn qua
thổ ngữ của họ. Tại sao tiếng Anh phổ biến rộng răi?
- v́ Anh là một đế quốc rộng lớn đến nỗi người ta phải nói rằng mặt trời
không bao giờ lặn trên đế quốc Anh.
- Anh và Hoa Kỳ đều nói tiếng Anh. Đó là hai cường quốc giàu mạnh trên thế giới.
Anh và Hoa Kỳ đều là hai cường quốc hàng hải phồn thịnh nhất thế giới về kinh
thương.
- So với Nga ngữ, Pháp ngữ, Tây Ban Nha ngữ, Đức ngữ, Hoa ngữ, Nhật ngữ th́ Anh
ngữ có vẻ đơn giản hơn nhiều từ chữ không dấu đến qui luật văn phạm (không có
giống đực, giống cái, không chia động từ với nhiều th́ rắc rối v.v.)
- Các đại học khét tiếng trên thế giới đều tập trung ở Anh và Hoa Kỳ.
- Hoa Kỳ và Anh là hai quốc gia sắp hạng nhất và nh́ trên thế giới về số giải
Nobel đoạt được
|
Quốc Gia |
Số Giải Nobel (Từ 1901- 2016) |
|
Hoa Kỳ |
363 |
|
Anh |
124 |
|
Đức |
106 |
|
Pháp |
68 |
|
Thụy Điển |
31 |
|
Nga |
27 |
|
Thụy Sĩ |
26 |
|
Nhật |
25 |
|
Canada |
25 |
|
Ba Lan |
23 |
|
Ư |
20 |
Thụy Sĩ là quốc gia nói Đức ngữ, Pháp ngữ và Ư ngữ. Quốc gia núi non nầy rộng
41,285 km2 (12.5% Việt Nam) với 8.5 triệu dân (9.24% dân số Việt Nam) nhưng đứng
hàng thứ 7 về giải Nobel đoạt được.
Trước hiện t́nh Việt Nam bây giờ đa số người hiểu biết đều bi quan về số phận
của dân tộc Việt Nam và nước Việt Nam trước Trung Quốc xuyên qua những tin đồn
về hội nghị Chengdu (Thành Đô) năm 1990. Theo tin đồn đoán th́ đến năm 2020 Việt
Nam trở thành Khu Tự Trị như khu Tự Trị Người Choang (tức người Tày) ở Guangxi (Quảng
Tây) hay Tân Cương, Tây Tạng. Hoa ngữ là ngôn ngữ chánh th́ c̣n ǵ để chọn nữa?
Người Do Thái luôn luôn tin rằng: Ai không tin vào phép lạ là thiếu thực tế. Với
niềm tin sắt đá đó họ đă trở về lập quốc sau 2000 năm vong quốc.
Việt Nam không bị cảnh vong quốc. Trên dải đất chữ S vẫn có trên 90 triệu dân
sinh sống. Vậy mà quốc gia ấy có thể có nguy cơ bị mất và dân tộc ấy bị đồng hóa
dễ dàng chỉ v́ Trung Quốc tạo ra và điều khiển những người lănh đạo một nước độc
lập bề ngoài, chư hầu trên thực tế với một nền kinh tế rách nát?
Đất nước, con người, sông, núi và cây cỏ có hồn thiêng. Tôi cố bám chút lạc quan
về Thiên lư, hồn thiêng đất nước để tin vào sự trường tồn của quê hương sinh
quán bằng chút kiến thức thô thiển và vụng dại trong bài viết này. Hướng lên
Trời để hỏi. Trời trả lời: Ư dân là ư Trời. Dân muốn là Trời muốn. Câu
trả lời của Trời như đầy đủ ư nghĩa. Trời cho dân Việt Nam một sự lựa chọn:
Hiện hữu hay không hiện hữu?
PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.
art2all.net
|