PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

 

NHÂN LOẠI TƯƠNG ĐỒNG

 

 


          Văn thi hào Anh Rudyard Kipling (1865-1936) sinh ở Ấn Độ. Năm 1907, ông được giải thưởng Nobel về văn chương. Ông nổi tiếng về sự thấu triệt văn hoá Anh và Ấn Độ cũng như những câu chuyện về nước thuộc địa lớn này của Anh. Trong thời cực thịnh của đế quốc Anh, Rudyard Kipling viết:

Đông là Đông; Tây là Tây,
Đông và Tây không bao giờ gặp nhau.


Người phương Đông sinh và sống ở phương Đông nơi mặt trời mọc.

Người phương Tây sinh và sống ở phương Tây nơi mặt trời lặn.

Người phương Tây da trắng trong khi người phương Đông da màu.

Phương Đông nóng và dồi dào thảo mộc nên người phương Đông ăn nhiều thực phẩm rau cỏ và có vẻ trầm mặc hơn người phương Tây. Tất cả các tôn giáo quan trọng thế giới đều phát xuất ở Á Châu tức phương Đông đối với người Tây phương.

Người phương Tây ăn nhiều thịt ḅ, sữa để đủ sức đương đầu với khí hậu lạnh. Do ảnh hưởng của khí hậu lạnh, họ thích hoạt động, hội họp và ưa chuộng thể thao. Khi gọt trái cây họ gọt từ ngoài vào trong. Người phương Đông gọt từ trong ra ngoài. Cách chuốt viết ch́ hay chèo xuồng của phương Đông và Tây cũng khác nhau.

Nhưng đó là những biểu tượng khác nhau bên ngoài mà thôi.

Cấu trúc cơ thể giữa người phương Đông và phương Tây không có sự khác biệt ǵ cả. Tất cả đều là động vật có vú, có xương sống, có máu đỏ với lục phủ ngũ tạng như nhau. Khác với các động vật khác, họ có tư tưởng nhờ có khối óc to lớn hơn, với vô số đường xếp li ti. "Con người là cây sậy biết suy tưởng" (le roseau pensant) như Pascal nói. Tất cả loài người đều có những nhu cầu, ước vọng, cảm nghĩ và bệnh tật giống nhau. Chung sống với nhau họ cũng sinh con cái dù cho không cùng chủng tộc.

Trong khuôn khổ bài viết ngắn này chúng ta đi t́m những tương đồng của nhân loại với hy vọng làm cho sự thông hiểu giữa người và người được gần nhau hơn.

 

BẤT B̀NH ĐẲNG TỰ NHIÊN

Khi loài người xuất hiện, trái đất có sẵn rồi. Trên trái đất có chỗ cao là núi và cao nguyên, chỗ bằng phẳng gọi là b́nh nguyên, chỗ trũng thấp gọi là thung lũng. Có những nơi đầy nước. Đó là biển cả, sông hồ, đầm lầy và ao rạch. Có những nơi đầy cát, khô khan và nóng bức. Đó là sa mạc. Có những nơi giá lạnh quanh năm. Đó là vùng cực.

Có những vùng dân chúng sống chen chúc và được nhiều người đến thăm viếng tấp nập ..Ngược lại cũng có nhiều vùng vắng lặng không có vết chân người. Đó là bất b́nh đẳng tự nhiên trên mặt địa cầu.

Trong xă hội loài người có người đẹp, người xấu; người khéo léo, người vụng về; người thông minh, người tăm tối; người anh hùng; người tiểu mọn; người giàu có, người nghèo khổ; người làm chuyện nhẹ nhưng lợi tức cao và người làm việc nặng nhọc nhưng chỉ sống lây lất qua ngày v.v...

Viên hột xoàn 100gr trị giá bằng hàng ngàn bao gạo. Giá trị không dựa vào trọng lượng và công dụng mặc dù người ta ăn gạo để sống chứ không phải ăn hột xoàn. Hoa sen, hoa cúc, hoa huệ, hoa tulipe... được đặt ở những nơi quan trọng trong nhà trong khi người ta phải nhổ loại hoa dại dandelion (âm từ dent de lion: răng sư tử, tên khoa học: Taraxacum officinale) hay hoa bàn hạ (Thyphonium divaricatum).

Cơ thể con người được xem như một bức tượng ráp. Người ta có hai tai, hai mắt, hai cánh tay, hai chân, hai vú...đối xứng và đồng khoảng cách với đường ráp chạy dài từ trán đến quá rún. Nếu quan sát kỹ càng ta thấy không phải mọi người đều có hai mắt bằng nhau. Trái lại lúc nào cũng có một con mắt lớn, một con mắt nhỏ và một mắt thấy rơ hơn mắt kia. Tay chân cũng vậy. Tay trái thường yếu hơn tay phải. V́ yếu mà nó được gọi là TRÁI và nhờ mạnh mà tay kia được gọi là PHẢI. Như vậy trong cách gọi này cũng có sự bất b́nh đẳng. Người Pháp há không gọi tay trái là GAUCHE (vụng về) và tay phải là DROITE (thẳng). Người Anh gọi bên trái là LEFT (bị bỏ rơi) và bên phải là RIGHT (đúng).

Có phải chăng v́ yếu mà "trái" và v́ mạnh mà "phải"? Hay v́ đa số nhân loại thuận tay phải mà PHẢI? Và thiểu số thuận tay trái mà TRÁI ? Như vậy PHẢI hay TRÁI dựa vào số đông và số ít ?

Sự bất b́nh đẳng này nói lên căn bản của tâm lư và công lư nhân loại.

Trong vũ trụ có 5 màu căn bản: trắng, đen, xanh, đỏ, vàng. Màu đen mắc tội ǵ mà phải tượng trưng cho sự buồn thảm, tối tăm và xui xẻo (đỏ - đen). Nếu màu đỏ nói lên sự may mắn th́ màu đen nói lên sự xui xẻo. Nếu màu trắng nói lên sự trong trắng, thanh sạch th́ màu đen nói lên sự trái ngược (trắng - đen). Rất ít quốc gia trên thế giới dùng màu đen làm quốc kỳ. Rất ít người lựa màu đen để sơn hay trang hoàng nhà cửa. Dưới chế độ quân chủ qua màu áo người ta biết được địa vị xă hội của người mặc. Ở Trung Hoa và Việt Nam chỉ có vua mới mặc áo màu vàng mà thôi. Quan mặc áo xanh hay màu tía. Thảo dân mặc quần áo nâu (miền Bắc) hay đen (miền Nam). Màu đỏ và vàng được t́m thấy ở những cung điện và đền đài quan trọng ở Đông Á. Trên thực tế có sự kỳ thị và độc quyền về màu sắc trong quá khứ.

Trong cơ thể con người có ngũ tạng: tâm (tim), can (gan), tỳ (lá lách), phế (phổi), thận (trái cật) nhưng chỉ có trái tim được dùng để tượng trưng cho t́nh yêu. Do đó, khắp nơi trên thế giới người ta thấy vẽ h́nh trái tim trên tường, trên báo, trên móng cầu, trên mặt đường và bất cứ nơi công cộng nào. Khi vui vẻ, lạc quan người ta vẽ trái tim liền lặn. Khi đau khổ người ta vẽ trái tim rướm máu hay trái tim có mũi tên xuyên qua, máu nhỏ từng giọt trông buồn thảm vô cùng. Trong ngũ tạng con người chỉ có trái tim được vào văn chương, thi ca và âm nhạc mà thôi. Trong con người có rất nhiều thứ t́nh nhưng có lẽ t́nh yêu là ghê gớm hơn cả. V́ vậy mà trái tim được xem là quan trọng hơn 4 tạng c̣n lại trong tâm tư loài người.



SỰ PHỨC TẠP VÀ TÍNH GIAI CẤP CỦA NGÔN TỪ

Ngôn ngữ là phương tiện truyền thông giữa người và người. Đó là điểm đặc thù phân biệt loài người với các động vật khác. Ngôn ngữ có trước khi có chữ viết và các qui luật văn phạm và ngữ học. Không quen biết, cũng chưa hề gặp, Đông và Tây lại gặp nhau trong tư tưởng và cách dùng ngôn ngữ.

Người Việt Nam không nói "mười năm" (15) hay "ba mươi năm" (35) mà lại nói "mười lăm" hay "ba mươi lăm".

Người Pháp không nói dix un, dix deux, dix trois, dix quatre, dix cinq, dix six mà là onze (11), douze (12), treize (13), quatorze (14), quinze (15), seize (16) nhưng đến 17, 18, 19 th́ lại dix-sept, dix-huit, dix-neuf . Từ số 70 đến 99 cách nói của người Pháp đ̣i hỏi người nói phải biết làm toán nhân hay toán nhân và toán cộng.

70: soixante-dix (60+10)
71: soixante-onze (60+11)
80: quatre-vingt (4x20)
90: quatre-vingt-dix (80+10)
91: quatre-vingt-onze (4x20+11)

Tiếng Anh cũng có sự biến chuyển tương tự trong cách đếm từ 11 đến 19 . "Eleven" (11) thay v́ "ten and one" hay "nineteen" (19) thay v́ "ten and nine" cho dễ nói.

Không biết dựa vào đâu mà người Pháp cho danh từ này thuộc giống đực (masculin) và danh từ kia thuộc giống cái (féminin). Đối với động vật th́ việc nhận giống dễ dàng. Nhưng đối với vật vô tri, tôi không biết tại sao "la table", "la chaise" (giống cái) mà "le tableau", "le banc" (giống đực)?

Đó là sự phức tạp của đa số ngôn ngữ Âu Châu. Tiếng Anh không nặng nề về giống đực và giống cái mà có số nhiều (plural), số ít (singular) cũng rắc rối như tiếng Pháp v́ có nhiều ngoại lệ khi viết số nhiều trong tiếng Pháp lẫn tiếng Anh. Riêng tiếng Pháp c̣n rắc rối về việc chia động từ. Tiếng Anh cũng có chia động từ, cũng có động từ thường và động từ bất thường nhưng ít rắc rối hơn cách chia động từ của tiếng Pháp. Trong tiếng Pháp động từ chia ra làm 3 nhóm với nhiều th́ (temps) khác nhau.

Sự rắc rối, phức tạp và cách diễn tả cầu kỳ của ngôn ngữ là phương tiện đo lường tŕnh độ của người nói. Các nho sĩ nước ta ngày xưa chê chữ nôm v́ "nôm na là cha mách qué". Thái độ này nói lên sự ưa chuộng nho học uyên bác phân biệt cách nói và viết của nhà nho với đa số người b́nh dân c̣n lại. Những danh từ trẫm, bệ hạ, hạ thần, Công, Hầu, Bá, Tử Nam (tước quí tộc), His Majesty, Excellence, Sir, Lord, Duke, Marquis, Count, Viscount, Baron dành cho vua chúa và các quí tộc. Một số từ ngữ đặc biệt dành cho vua chúa. Vợ vua là hoàng hậu. Mẹ vua là hoàng thái hậu. Con trai của vua gọi là hoàng tử. Con trai trưởng (thường được quyền nối ngôi vua) là hoàng thái tử. Con gái vua gọi là công chúa. Con dâu của vua gọi là hoàng tức. Vua bệnh th́ nói là vua se ḿnh. Chuối vua ăn gọi là chuối ngự. Núi vua đến ngắm cảnh là núi ngự. Giường vua nằm là long sàng. Người nấu bếp cho vua gọi là ngự trù. Y sĩ trông coi sức khoẻ cho vua là ngự y. Kiếm của vua là thanh bửu kiếm. Ấn của vua gọi là ngọc tỷ. Mặt của vua là long nhan. Mồ mă của vua gọi là lăng. Hoàng hậu sinh th́ nói là hoàng hậu lâm bồn v.v...

Đó là tính giai cấp của ngôn ngữ.

Trong xă hội dân chủ, giai cấp không c̣n nữa. Nhưng không v́ thế mà ngôn ngữ mất đi tính văn hoá, kỷ cương và lịch sự của nó. Xă hội loài người dù là phong kiến hay dân chủ vẫn là xă hội có tôn ty, trật tự. Tôn ty trật tự nhỏ nhất là thứ bậc trong gia đ́nh. Ngày nào loài người c̣n tôn trọng thứ bậc tự nhiên ấy th́ ngôn ngữ vẫn giữ tôn ty trật tự sẵn có của nó.

Con người ưa sự giản dị hay ưa sự phức tạp?

Câu trả lời thực sự không dễ dàng như bạn đọc tưởng. Câu trả lời chỉ đúng cho từng trường hợp đơn lẻ trong hoàn cảnh cá biệt chớ không hoàn toàn đúng hẳn cho mọi người. Người ưa thích sự đơn giản có thể là người chưa đủ điều kiện để được vui thú với những nghi thức phức tạp. Nói rơ hơn, chưa hẳn người ưa sự đơn giản không thích sự phức tạp!

Một cặp thanh niên nam nữ đến tuổi lập gia đ́nh muốn đám cưới của ḿnh linh đ́nh hay đơn giản?

Khi cha mẹ mất, các người con muốn cha mẹ ḿnh có đám tang hay chỉ tẩm liệm sơ sài rồi đem chôn ở bất cứ nơi nào?

Ngày giỗ cha mẹ, con cái muốn cúng 3 chén cơm để tiết kiệm tiền bạc hay muốn mời nhiều người đến tham dự giỗ của cha mẹ ḿnh với mâm cao cỗ đầy?

Một vị vua hay tổng thống muốn lễ đăng quang hay lễ nhậm chức của ḿnh tổ chức trong thầm lặng hay muốn có một ngày đăng quang hay nhậm chức linh đ́nh với kèn trống ầm ĩ và diễn binh rầm rộ?

Những câu hỏi trên có lẽ dễ trả lời hơn câu hỏi ngắn gọn đầu tiên. Như vậy bản chất phức tạp của con người là thích sự phức tạp .

Đôi khi người ta c̣n phức tạp hoá chuyện b́nh thường.

Một người đói bụng đến nhà một người bạn và được mời ăn cơm. V́ lư do này hay lư do khác anh ta một mực khước từ. Thể diện và mặc cảm làm cho anh ta trở nên phức tạp: từ chối cái anh ta đang cần.

Năm người đàn ông đói bụng nhưng trên bàn ăn chỉ có một con bồ câu quay. Cả năm người đều nhường lẫn nhau, viện lẽ họ no rồi. Bỗng điện cúp. Đèn tắt.

Chuyện ǵ đă xảy ra trên bàn ăn trong lúc cúp điện này? - Một cái nĩa xâm trên bốn bàn tay!!

Ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng nghe các cô dâu than phiền mẹ chồng. Nhưng 20 năm sau những bà dâu đó lại trở thành những bà mẹ chồng khó tánh mà họ đă phiền trách.

Tôi mượn các h́nh ảnh trên để nói lên sự phức tạp hoá cái tầm thường.

 

CHUỘNG H̀NH SẮC VÀ SỰ VINH QUANG

Sắc đẹp như là một ân huệ thiên ban. Người có sắc đẹp dù là nam hay nữ đều thuận lợi trong việc giao tế. H́nh sắc là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất trong việc lựa chọn các nhà ngoại giao hay đại sứ. Trong các tuồng hát hay phim ảnh nam nữ tài tử đẹp đều được đóng vai chánh và được nhiều cảm t́nh của người xem.

Khi nói về người anh hùng Nguyễn Huệ người ta không thể không nhắc đến Ngọc Hân Công Chúa nhất là những bài thơ lâm ly thống thiết do bà làm ra để khóc chồng và là người anh hùng của đất nước.

Khi nói về Napoléon I, chúng ta phải nhắc đến người đẹp Désirée và Joséphine. Người ta không thể không trách vị tướng trẻ này quên mối t́nh đầu với Désirée. Người ta cũng không bày tỏ cảm t́nh với vị hoàng đế có những chiến công quân sự lừng lẫy ly dị người đẹp Joséphine từng giúp ông lên thang danh vọng để cưới Marie Louise, một công chúa người Áo.

Trong phim Tarzan, khán giả như dành tất cả cảm t́nh của họ cho Tarzan, người chiến thắng. Nhân loại vẫn đề cao sức mạnh của Hercule và Samson hay những chiến thắng vang dội của David.

Người Hoa Kỳ há không tự hào với George Washington và sự phát triển kỹ nghệ, kinh tế và quân sự của họ?

Người Anh há không tự hào với Nelson hay Churchill và sự rộng lớn của đế quốc Anh?(1)

Hitler há không kích thích dân tộc Đức bằng chủ nghĩa siêu tộc?

Người Pháp há không tự hào với Napoléon I, Louis Pasteur, Victor Hugo?

Người Việt Nam há không tự hào với ḍng giống Rồng Tiên của ḿnh? Và với Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ với những chiến công hiển hách trong sử xanh?

Người Do Thái há không tin rằng họ là dân tộc được lựa chọn?

Người Nhật há không cho rằng họ là con cháu của Thái Dương Thần Nữ (Amterasu)?. Họ há không tự hào về cuộc canh tân sáng suốt của Thiên Hoàng Mitsu Hito?

Dân tộc nào trên thế giới cũng có những tự hào riêng. Sự tự hào đó dựa vào trí thông minh và thành quả văn hoá, chính trị, kinh tế, quân sự và khoa học kỹ thuật.. của dân tộc mà ra. Đó là niềm tin để sinh tồn và tiến bộ nhưng đôi khi sự tự hào dân tộc, sự yêu chuộng vinh quang và chủ nghĩa anh hùng là nguồn gốc của chiến tranh.


 

HƯỚNG THIỆN

Con người bẩm sinh có THIỆN , có ÁC chớ không hoàn toàn THIỆN hay hoàn toàn ÁC. Nhưng, dù hung tợn, man dă, có học hay không học, con người đều hướng thiện.

Thấy hoạn nạn th́ kinh hăi và thương tâm. Thấy người mạnh hiếp yếu th́ bất b́nh. Ngay cả kẻ giết người cũng không bao giờ đề cao việc làm của ḿnh v́ biết đó là điều bất nhân hay xằng bậy. Khi làm chuyện bất chánh th́ cảm thấy lương tâm ray rứt. Thấy người khổ nạn mà bất lực không cứu giúp được th́ cảm thấy buồn bực vô hạn.

Tất cả những truyện kể khẩu truyền hay thành văn, tiểu thuyết hay phim ảnh trên thế giới đều nói lên sự đánh vật nghiêng ngửa giữa Thiện và Ác, giữa Chánh và Tà, giữa Tốt và Xấu. Trong cuộc đấu tranh này, Thiện luôn luôn bị Ác lấn áp. Chánh bị Tà áp đảo. Chân nhân luôn luôn bị tiểu nhân hăm hại và t́m cách tiêu trừ. Người tốt luôn luôn chịu nhiều thiệt tḥi. Nhưng kết cuộc lúc nào cũng là sự thắng lợi của THIỆN và CHÁNH và sự bại vong của ÁC và TÀ .

Lục Vân Tiên là một chân nhân quân tử bị vị hôn thê phụ bạc và bạn bè hăm hại, thương nhớ mẹ nên khóc quá nhiều đến mù loà. Nhưng cuối cùng thị giác của Lục Vân Tiên được phục hồi. Lục Vân Tiên gặp người đẹp và đức hạnh là Kiều Nguyệt Nga. Thành tích to lớn của Lục Vân Tiên là đánh bại giặc Tây Qua. Những người ác trong truyện th́ bị trời đánh hay bị cọp ăn.

Trong truyện Tấm Cám, con Tấm bị mẹ ghẻ và người em dị bào phá rối nhưng lúc nào cũng giữ thiện tâm và ḷng hiếu thảo của ḿnh. Cuối cùng nàng, một thôn nữ, được ḷng của vị hoàng tử. Lợi dụng ḷng hiếu thảo của nàng, người d́ ghẻ hăm hại nàng đến phải té cây mà chết. Vậy mà cuối cùng nàng được Tiên cứu sống và tiếp tục sống cuộc đời hạnh phúc bên cạnh vị hoàng tử đẹp trai và quyền quí. Con Cám có ác tâm nên phải chết trong nồi nước sôi v́ ḷng ham muốn được trắng da dài tóc.

Trong truyện Kiều, ta thấy nàng Kiều đẹp, đa tài lại hiếu để với cha. Thế mà cuộc đ̣i lại long đong. Đó là luật thừa trừ oan nghiệt. Chán nản, nàng trầm ḿnh dưới sông nhưng vẫn có người vớt lên cứu chữa và nuôi dưỡng. Người tốt gặp người tốt vậy.

 


HƯỚNG VỀ CHÂN LƯ

Trên thế giới có nhiều tôn giáo. Nói một cách đơn giản: tôn giáo là đạo. Đạo là những con đường dẫn đến chân lư, một sự thật tuyệt đối bất di bất dịch với thời gian và không gian. Tất cả những con đường ấy đều dẫn con người đến đạo đức, an tịnh tâm hồn, hạnh phúc gia đ́nh, trật tự xă hội và ḥa b́nh thế giới. Mỗi con đường dẫn đến chân lư có những nét đặc thù riêng của nó vào thời gian, không gian mà nó được xây dựng lên và tŕnh độ của người sử dụng nó.

Những con đường đó dẫn con người đến nguồn gốc của mọi sự việc để họ biết được cái tại sao của kiếp người để an ḷng với hiện tại và chuẩn bị một cái ǵ đẹp đẽ hơn cho hậu kiếp.

Ngày xưa giáo dục trên thế giới chưa được thế tục hoá th́ nhà thờ, chùa chiền của các tôn giáo là những trung tâm giáo dục. Các tu sĩ là những nhà văn, nhà thơ, nhà trí thức uyên bác và những sư phụ khả kính. John Havard (2) hay Robert de Sorbon đều là những tu sĩ. Tuệ Tĩnh, sư Vạn Hạnh, Lư Khánh Vân là những danh sư Phật Giáo vào cuối thế kỷ 10 và đầu thế kỷ 11 ở nước ta. Sư Lư Khánh Vân có công dạy dỗ Lư Công Uẩn. Sư Vạn Hạnh là người yểm trợ cho Lư Công Uẩn lên ngôi năm 1010 tức là vua Lư Thái Tổ. Đạo Thiên Chúa, Chính Thống Giáo, Tin Lành, Anh Giáo, Do Thái Giáo, Bà La Môn, Hồi Giáo, Phật Giáo, Khổng Giáo, Lăo Giáo và Thần Giáo để lại nhiều công tŕnh kiến trúc vĩ đại cho nhân loại. Những danh y khét tiếng ngày xưa thường là những tu sĩ của các tôn giáo lớn. Sư Tuệ Tỉnh có công khảo cứu Nam Dược. Các nhà sư Tây Tạng khảo cứu về các vơ công, vơ y và phẫu thuật. Các tu sĩ gịng Jesuit nghiên cứu nhiều về y khoa và các khoa học khác. Các đạo sĩ Lăo Giáo luyện linh đơn để kéo dài tuổi thọ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes nghiên cứu ngữ học và phát minh ra chữ quốc ngữ dựa vào mẫu tự La Tinh. Công tŕnh này được giám mục Pigneau de Behaine tiếp nối và phát triển vào thế kỷ 18.

Ánh sáng của trí tuệ toả ra từ các giáo đường Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo và chùa Bà La Môn (Ấn Giáo), Phật Giáo, Hồi Giáo. Đó là những con đường dẫn loài người đi đến chân lư. Trên thế giới có nhiều con đường nhưng chân lư chỉ có một mà thôi. Đó là tụ điểm mà loài người gặp nhau vậy.

Loài người có rất nhiều điểm tương đồng. Nhưng không v́ thế mà sự thông hiểu nhau trở nên rốt ráo (?). Những khác biệt ngôn ngữ, văn hoá, chủng tộc và quyền lợi kinh tế làm cho họ xa nhau.

Vào thời Trung Cổ có chiến tranh tôn giáo giữa các nước Âu Châu và các nước vùng Tiểu Tề Á. Không bao lâu lại xảy ra sự va chạm tôn giáo ở Âu Châu. Người Do Thái và những tín đồ Tân Tôn Giáo (Tin Lành) bị đàn áp hay kỳ thị.

Những cuộc chiến tranh vào thế kỷ 20 ở Âu Châu và trên thế giới bắt nguồn từ những mâu thuẫn quyền lợi và chủ quyền lănh thổ lồng vào chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa siêu tộc, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xă hội duy vật.

Thế giới hiện có trên 6 tỷ người. Thế kỷ 21 có những sự bắt đầu không mấy tốt đẹp (khủng bố, chiến tranh, thiên tai, bệnh tật và đói kém). Nhân loại hiện đang có ước vọng ǵ hay chỉ xoay quanh vấn đề cơm áo, học hành và bệnh tật một cách mệt nhọc? Hoà b́nh thế giới như bị đe doạ trầm trọng khi T̀NH THƯƠNG và BÁC ÁI của loài người trở nên khắc khoải lại c̣n bị lấn áp bởi HẬN THÙ và BẠO LỰC .

 

PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

________

Ghi chú:

(1) Dưới thời vua Philip II (1527 - 1598) của xứ Tây Ban Nha, người ta nói :"Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Tây Ban Nha". Vào thế kỷ 19, dưới sự ngự trị của nữ hoàng Victoria, câu này được đổi lại thành:"Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh".

(2) Tu sĩ người Anh được xem là một đại ân nhân của trường đại học Harvard của Hoa Kỳ vào thế kỷ 17. Robert de Sorbon sáng lập ra đại học thần học năm 1253: đó là trường đại học Sorbonne nổi tiếng của Pháp


 

Trang Phạm Đ́nh Lân

art2all.net