|
PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.
THẢO MỘC GẮN BÓ VỚI CHÚA JESUS Từ ngày Giáng Sinh đến khi bị đóng đinh trên Thánh giá
Chúng tôi chỉ dùng một vài loại thảo mộc liên hệ đến chúa
Jesus từ ngày giáng sinh đến khi bị đóng đinh trên Thánh Giá trên cơ sở t́m hiểu
về thực vật học. Nhũ Hương và Một Dược Các nhà tinh tú học báo cho vua Herod biết một v́ sao sẽ ra đời ở thành Bethlehem, vùng Judea và được xem là Vua của dân Do Thái. Vua Herod có vẻ lo âu. Nhà vua sai người ở phương Đông âm thầm đến đó để xác định địa điểm và thời gian vị Vua Do Thái chào đời. Các sứ giả phương Đông đến Bethlehem, vào nhà và thấy một Hài Nhi và Đức Mẹ Mary. Họ qú xuống lạy Hài Nhi và bày lễ vật gồm vàng, nhũ hương (frankinsense), một dược (myrrh) trước Hài Nhi. Xong họ được gọi phải rời khỏi Herod để vị vua nầy không biết nơi sinh của Hài Nhi. Liền sau đó có tiếng gọi Đức mẹ Mary và Joseph mang Hài Nhi sang Ai Cập để tránh sự bách hại trẻ sơ sinh theo lịnh của vua Herod.
Nhũ hương và một dược là ǵ?
Nhũ hương có tinh dầu, pinene, triterpene, ác xít masticodienic, oleanolic. Nhũ hương nhuận tiểu, nhuận trường, làm dịu dạ dày, hạ cholesterol, hạ huyết áp, thông phổi, bảo vệ nướu răng, kháng trùng, kháng nấm, trị tiêu chảy, hắc lào. Trong Thánh Kinh bằng tiếng Việt chữ nhũ hương được dùng để dịch chữ frankincens.
Ngày xưa trước khi có: - Đường Tơ Lụa (đường bộ) nối liền Âu-Á theo hướng Tây-Đông từ Địa Trung Hải xuyên qua các sa mạc ở Trung Á - Đường Hương Liệu (đường biển) nối liền Âu Châu với các nước Nam Á và Đông Nam Á theo hướng Tây-Đông đă có Đường Hương Trầm nối liền Ấn Độ với các nước quanh Vịnh Ba Tư, xuyên qua bán đảo Á Rập qua dăi Gaza vào Do Thái theo hướng Đông- Tây. Như thế hương trầm có giá trị kinh tế và thương mại rất lớn vào thời xưa giữa ba lục địa Âu-Á-Phi từ Biển Á Rập, Vịnh Ba Tư đến Đông Địa Trung Hải.
Chữ Myrrh âm từ chữ Mur hay Mar của tiếng Do Thái (Hebrew) và Morr của tiếng Á Rập có nghĩa là đắng. Vị đắng nầy là vị đắng của nhựa vàng của thảo mộc ḍng Myrrhis. Dầu lấy từ cây nhựa gom commiphora myrrha rất quí vào thời cổ Ai Cập, Do Thái, Hy Lạp và Đế Quốc La Mă. Ở Ai Cập cổ người ta dùng một dược để ướp xác và xua đuổi côn trùng. Người Hy Lạp và La Mă dùng nó để trị vết thương. Một dược có ác xít myrrholic, heerabolene, sesquiterpene. Nó được dùng để cầm máu, trị ho, kinh nguyệt, sốt, nướu răng xốp, loét cuống họng, dạ dày rối loạn, đau bụng, trùng lăi. Một dược được dùng trong các buổi lễ của Do Thái Giáo.
Dầu cam tùng là một loại dầu quí, hiếm và đắt tiền. Một cân dầu (453 grams) cam tùng tương đương với 300 ngày công ở Do Thái vào thời Chúa Jesus. Dầu cam tùng kéo dài sự trẻ trung của nữ hoàng Nur Jahan (1577 - 1645) của hoàng đế Jahangir của triều đại Mughai. Bà thực sự tham gia chính sự và đặt nước Ấn Độ dưới sự ngự trị độc đoán và chuyên chế của bà. Dầu cam tùng được dùng trong kỹ nghệ sản xuất nước hoa, làm nhang trị bệnh và làm thuốc ở Tây Tạng. Ngày xưa người Ấn Độ tin rằng dầu cam tùng có thể trị bịnh cùi. Người ta cho rằng dầu cam tùng kết hợp với dầu mè làm cho tóc đen mượt. Dầu cam tùng c̣n được dùng để chữa nọc độc của rắn khi bị rắn độc cắn. Dầu có borneol acetate và cồn patchouli (hoắc hương). Củ cây cam tùng dùng để làm thuốc trị bịnh thần kinh, động kinh, đau bụng, thổ tả, táo bón, hạ áp huyết, mất ngủ.
Trong phần giảng về sự lo âu về lương thực và quần áo mặc, chúa Jesus phán rằng: " Hăy xem con quạ ( trong Thánh Kinh Việt Ngữ. Trong Thánh Kinh Anh ngữ chỉ ghi là 'bird' - con chim ) không gieo, không gặt, không có hầm vựa kho tàng mà Đức Chúa Trời c̣n nuôi nó huống chi loài người. 'Hoa huệ' (Thánh Kinh Việt Ngữ. Trong Thánh Kinh bằng tiếng Anh chỉ ghi là 'wild flower' - hoa dại) mọc lên chẳng khó nhọc, cũng không kéo chỉ dệt nhưng người quyền thế và sang trọng như vua Solomon cũng không mặc áo đẹp rực rỡ như bất cứ loại hoa dại nào trong ḍng giống của nó. "
Người ta cho rằng chữ LILY (hoa huệ) có nghĩa là SÁU, tượng trưng cho ngôi sao 6 cánh của David xứ Do Thái. Theo huyền thoại Hy Lạp hoa huệ trắng được biến dạng từ giọt sữa của Nữ Thần Juno cho Hercules bú rớt xuống trần. Hoa huệ được t́m thấy trên vùng Lưỡng Hà Châu (Mesopotamia) cách đây 5.000 năm. Hoa huệ gắn liền với Đức Mẹ Mary. Thiên thần Gabriel cầm hoa huệ và thông báo cho Đức Mẹ Mary biết Người sẽ là mẹ của một hài nhi Cứu Thế sắp xuống trần. Hoa huệ là biểu tượng của sự phục sinh của Chúa Jesus. Hoa huệ trắng được tín đồ Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo và Thiên Chúa Giáo trân quí. Bạch huệ là biểu tượng của sự thanh khiết và vô nhiễm. Có hai loại bạch huệ,: 1- Bạch huệ Lilium candidum (huệ Madonna). 2- Bạch huệ Polianthes tuberosa mà các tín đồ Thiên Chúa Giáo Việt Nam đặt trên bàn thờ Đức Mẹ Mary.
Ngày xưa người La Mă dùng hoa huệ trắng Madonna Lilium candidum để trị các vết phỏng hay vết cháy dưới chân. Củ và hoa được dùng để trị phỏng lửa, ung nhọt làm mủ, rụng tóc. Các nhà trồng hoa cho rằng hoa huệ có độc chất đối với mèo nhưng vô hại đối với người và chó.
Hoa 'huệ' ghi trong Tân Ước phần sách Luke 12:22-31, Matthew 6:24-34 phần tiếng Anh không phải là hoa huệ thực sự thuộc ḍng Lilium nhưng cùng gia đ́nh Liliaceae. Đó là một loại hoa mọc hoang trên các hốc đá hay trên các cánh đồng. Hoa được t́m thấy nhiều ở Do Thái. Tên khoa học của loại hoa nầy là Hemerocallis fulva. Người Anh gọi là Daily lily (Hoa Huệ Nhật v́ nở vào buổi sáng và khép lại vào buổi chiều. Sáng hôm sau hoa nở lại), Tiger Day Lily (Nhật Huệ Hổ). Đó là Rau Huyên, Hoa Hiên, Hoàng Hoa, Vong Ưu trong thực vật học Việt Nam. Cọng hoa rỗng ruột. Lá và cọng phơi khô làm kim châm dùng để nấu canh kim châm, bún tàu, nấm mèo với gị heo và các thức ăn khác trong nhà bếp Việt Nam, Thái Lan, Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản. Hoa huệ nầy màu vàng (fulva: màu vàng cam), có sáu cánh dài. Trên cánh hoa vàng có nhiều đốm đen nhỏ.
Vương miện kết bằng cành cây gai Quân lính bắt Chúa Jesus và giải về dinh thống đốc Pilate. Họ lột áo quần của Người, đánh đập và chế giễu Người. Họ dùng cành cây gai kết thành một vương miện, đặt trên đầu Chúa Jesus với ḍng chữ 'Vạn Tuế Đức Vua Do Thái' rồi giả vờ qú gối trước mặt Chúa để trêu ghẹo. Họ cởi chiếc áo đỏ mà họ đặt trên người Chúa và cho Chúa mặc lại quần áo của ḿnh trên đường đi đến Đồi Sọ (Golgotha) để bị đóng đinh. Cành cây gai được kết thành vương miện đặt trên đầu Chúa ngày bị đóng đinh trên Đồi Sọ là cành cây ǵ? Theo các nhà thực vật học ở Do Thái, có hai loại cây táo gai nổi tiếng: 1- Táo gai Zizyphus lotus. 2- Táo gai Zizyphus spina-Christi mà quân lính dùng để làm vương miện đội trên đầu Chúa Jesus. Cả hai loại táo gai nầy đều thuộc gia đ́nh Rhamnaceae. Thảo mộc mang tên khoa học Zizyphus lotus thuộc gia đ́nh Rhamnaceae là một loại táo gai hoang được t́m thấy nhiều ở Trung Đông, Trung Á, ven Địa Trung Hải (Trung Đông, Nam Âu, Bắc Phi) và tây bộ Trung Hoa. Cây có gai nhọn, lá dầy h́nh bầu dục, màu xanh tươi; hoa nhỏ, có năm cánh màu vàng; trái trơn như trái nhăn, màu đỏ bầm khi chín. Người Anh gọi cây táo gai hoang nầy là lotus tree (liên mộc), jujube; Pháp: jujubier sauvage; Á Rập: sidr; Tunisia: nbeg, Lebanon: annab v.v. Trong Odyssey của Homer (thi sĩ Hy Lạp vào khoảng thế kỷ VIII trước Tây Lịch) có đề cập đến những người lotophagi (người ăn hột sen - lotus eaters; Pháp: lotophage) buồn ngủ và quên hết mọi chuyện. Người ta cho rằng đó là những người trên đảo Syrte (1), Tunisia, ăn trái cây táo gai hoang Zizyphus lotus (liên mộc) chớ không phải hột sen Nelumbo nucifera. Như vậy có sự nhầm lẫn khi dịch chữ LOTUS (Sen, tức Nelumbo nucifera, một loại hoa mọc dưới nước và bùn lầy) với trái táo gai hoang hay liên mộc (Lotus tree) mang tên khoa học Zizyphus lotus. Trái táo gai nầy rất ngon, có sinh tố A, C, E, ác xít béo. Lá có sinh tố E, ác xít linolenic, n-fatty acids, saponins. Theo y học cổ truyền ở các quốc gia Bắc Phi và ven Địa Trung Hải, lá, vỏ, trái, rễ cây táo gai hoang (liên mộc) được dùng làm thuốc trị tiểu đường, táo bón, loét, kháng viêm, kháng lăo hóa. Cây táo gai vương miện mang tên khoa học Zizyphus spina-Christi thuộc gia đ́nh Rhamnaceae được t́m thấy nhiều ở các quốc gia Trung Đông, Bắc Phi, bán đảo Balkans, Nam Âu. Cây táo gai Zizyphus spina-Christi được quân sĩ thời Đế Quốc La Mă dùng làm vương miện đặt trên đầu Chúa Jesus gốc ở Sudan và được du nhập vào Do Thái cách đây trên 6.000 năm. Cây cao lối 10 m, có gai. Lá dầy h́nh bầu dục, màu xanh sậm. Hoa nhỏ năm cánh màu vàng. Trái tṛn, hột to và cứng. Trái ăn được nhưng không có hương vị đặc biệt. Hiện nay ở Ein Hatzeva (2), Do Thái, c̣n một cây táo gai vương miện Zizyphus spina-Christi 800 tuổi.
Cây táo gai chịu nắng hạn rất tốt. Người ta cho rằng rễ của cây nầy có thể ăn sâu dưới đất hàng chục thước! V́ vậy người ta trồng táo gai trên vùng đất khô hạn để làm hàng rào (v́ có gai), có trái và bóng mát. Cây bảo vệ đất tránh xâm thực gió và ngăn chận đất bị khô cằn và sa thạch hóa v́ nhiệt của ánh sáng mặt trời. Trái táo gai vương miện được xem là thức ăn của người nghèo ở vùng khô hạn. Lá là thức ăn của lạc đà, dê, trừu. Gỗ màu hồng nhạt và rắn chắc không sợ mối mọt. Gỗ được dùng để hầm than rất tốt. Trái táo gai vương miện Zizyphus spina-Christi có đường, Ca, Fe và sinh tố C. Lá có alkaloids, ziziphine, jubanine, amphibine, alphaterpinol, linalol và saponins. Theo phương pháp trị liệu cổ truyền ở Ai Cập và vài vùng ở Bắc Phi, lá, vỏ và trái táo gai vương miện được dùng làm thuốc cầm máu, trục lăi, an thần, hượt trường, lọc máu, kiết lỵ, tiêu chảy, rắn cắn.
Hoa cây táo gai vương miện hấp dẫn loài ong đến hút mật hoa.
Nơi nào có cây táo gai vương miện, nơi đó có mật ong thơm ngon và đắt tiền.
Chú thích:
(2) Ein Hatzeva là một làng định cư của Cộng Đồng Hợp
Tác Xă Nông Nghiệp Cá Thể của những người Do Thái lao động tiền phong nhập cư về
Đất Hứa vào đầu thế kỷ XX. Làng Ein Hatzeva nằm trong thung lũng Arava ở phía
nam Tử Hải. Trong sách cổ Hy Lạp đó là Eiselon. .
|