|
PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.
THẢO MỘC GẮN LIỀN VỚI ĐỨC PHẬT
Lotus Heart (one-vibration.com)
– cây shal hay shala Về cây shala lại có một loại thảo mộc được người Indonesia gọi là Sala và người Ấn Độ gọi là Naga linga và được gọi là thánh mộc. Tôi nói qua về 3 loại cây nầy v́ cả ba đều được xem là thiêng mộc trong Ấn Giáo (Hinduism) lẫn Phật Giáo.
Cây Vô Ưu Shala, cây Vô Ưu Ashoka và cây Thánh Mộc 1. Cây Vô Ưu Shala: Tên khoa học của cây vô ưu Shala là Shorea robusta thuộc gia đ́nh Dipterocarpaceae như cây sao, cây dầu, nghĩa là loại cây có trái có cánh. Cây cao từ 30-40m; lá rộng; hoa màu trắng rất thơm. Hoa nở vào tháng 4 dương lịch hàng năm. Cây vô ưu shala có nhiều ở Ấn Độ, các xứ vùng Hy Mă Lạp Sơn, Bangladesh. Người Ấn Độ gọi là Sal, Shala ; tiếng Sanskrit (Phạn): ashvakarma.
2. Cây Vô Ưu Ashoka: Theo tiếng Sanskrit ashoka có nghĩa là vô ưu. Do đó người Anh gọi là sorrowless tree hay ashoka tree. Người Ấn Độ gọi là Vanjulam. Cây vô ưu ashoka tức cây vàng anh cao từ 20-30m. Lá rộng, đầu lá nhọn. Hoa to, cánh bầu tṛn màu đỏ-vàng, nhụy dày đặc. Hoa thơm và đẹp. Tên khoa học của hoa vô ưu ashoka là Ashoka saraca thuộc gia đ́nh Fabaceae. Cây ashoka liên hệ đến Thần Rama và vợ là nữ Thần Sita của Ấn Giáo và Đức Phật. Đó là nguồn thuốc của phụ nữ, biểu tượng cho sự sinh sản. Đến ngày lễ Ashok Shasthi phụ nữ Ấn Độ ăn hoa ashoka để được vô ưu. Nhiều phụ nữ cầu tự bằng cách nhảy múa dưới cây ashoka. Người ta cũng tin rằng Đức Phật ra đời dưới cây ashoka v́ có sự lẫn lộn giữa cây shala vô ưu với cây ashoka vô ưu. Vỏ cây vô ưu ashoka sắc uống trị rối loạn tử cung, huyết tiện, tử cung xuất huyết, u bướu, da mất sắc tố v.v…
3. Thánh Mộc Naga Linga: Loại thảo mộc nầy được t́m thấy nhiều ở Nam Mỹ
Châu, Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Sri Lanka. Tên khoa học là
Couroupita
guianensis thuộc gia đ́nh Lecythidaceae. Người Tamil gọi là
Naga Linga (Naga:
con rắn được tín đồ Ấn Giáo quí trọng; Linga: dấu hiệu của Thần Shiva trong Ấn
Giáo. Linga-Yoni là bộ phận sinh dục của Nam và Nữ tượng trưng cho sự sinh hóa
trong vũ trụ). Người Ấn Độ gọi là
Shiva Linga. Người Anh gọi là cannon ball tree v́ trái tṛn, to bằng cái tô giống như trái đạn đại bác hay
monkey pot (nồi khỉ
v́ khỉ dùng tay bóc ruột trái chín để ăn). Người Indonesia gọi là
Sala tựa như
cây Shala Shorea robusta. Cây Naga Linga cao từ 20-30m; lá to và có hương thơm.
Hoa màu đỏ-vàng rất đẹp kết thành một chuỗi dài 3m. Trái nhiều, tṛn và to như
cái tô, vỏ cứng, cơm nhiều khi chín có mùi thơm nhưng có người lại cho là mùi
không chịu nổi như trường hợp trái sầu riêng. Ngoài loài khỉ, loài người cũng ăn
trái cây nầy được. Vỏ và lá thánh mộc Naga Linga dùng như thuốc trụ sinh, kháng
nấm, trị cảm, trị đau bụng. Lá giă nát vắt nước dùng trị bệnh ngoài da. Lá cũng
được dùng để trị nhức răng. Ở Nam Mỹ người ta dùng vỏ cây Naga Linga sắc nước
uống trị sốt rét. Cây Naga Linga thường được trồng quanh đền Thần Shiva hay chùa
Phật Giáo ở Ấn Độ, Sri Lanka. V́ trái to và nặng khi rụng trúng đầu người có thể
gây nguy hiểm đến tánh mạng nên người ta không trồng cây Naga Linga (cây nồi khỉ
hay cây đạn thần công) ngoài đường như trường hợp cây dừa vậy.
Hoa Sen Hoa sen là hoa thiêng trong Ấn Độ và Phật Giáo Đại Thừa, Tiểu Thừa và Hoàng Giáo Tây Tạng. Tên khoa học của hoa sen là Nelumbo nucifera thuộc gia đ́nh Nelumbonaceae . Người Ấn Độ gọi hoa sen là Kamala. Tiếng Sanskrit cũng gọi là Kamala hay Padma. Người Anh gọi là Sacred lotus (Sen thiêng), Indian sacred lotus.
Hoa sen đỏ liên hệ đến Thần Vishnu và sen trắng liên hệ nữ Thần Sarasvati. Lá sen, ngó sen, hột sen, nhụy hột sen, củ sen đều có công dụng. Hoa sen vừa có tính biểu tượng, vừa đẹp vừa có hương thơm. Hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết của một loài hoa mộc dưới nước nhưng: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Ngoài đặc tính là thức ăn ngon và bổ dưỡng toàn thân, hoa sen c̣n được xem là một nguồn thuốc. Hoa sen có alkaloids nuciferine C19H21NO2 và apomorphine C17H17NO2 có tác dụng trị chứng bất lực sinh lư. Ngó sen, củ sen và hột sen được dùng để cầm máu, trị loét dạ dày, xuất huyết hậu sản, kinh nguyệt quá đà (ngó sen), nhuận trường, trị tiêu chảy, kiết lỵ, bán thân bất toại, mất ngủ, di mộng tinh, bất lực sinh lư, hạ huyết áp, hạ cholesterol, hưng phấn các sớ thịt tử cung (hột, củ sen) v.v…
Phật mẫu Mahamaya thấy voi trắng dùng ngà có hoa sen trắng
chạm vào hông. Voi trắng là voi thiêng biểu tượng cho sự sinh sản và sự khôn
ngoan. Sự xuất hiện của voi trắng như là sự báo hiệu của sự xuất hiện của đấng
siêu phàm. Hoa sen trắng (bạch liên) là hiện thân của nữ Thần Satasvati. Bảy đóa
hoa sen (bảy bước) là Đông, Tây, Nam, Bắc, Thượng, Hạ, Trung Tâm. Có phải chăng
số 7 tượng trưng cho 7 ngôi sao trong cḥm Đại Hùng Tinh (Ursa Major) của Sao
Bắc Đẩu trên ṿm Trời? Đức Phật ngồi thiền và đắc đạo dưới cây bồ đề ở Bodh Gaya, tiểu bang Bihar, Ấn Độ. Cây bồ đề là thiêng mộc đối với Ấn Giáo và Phật Giáo. Tín đồ Ấn Giáo tin rằng Thần Vishnu ra đời dưới cây bồ đề và Thần Krishna chết dưới gốc cây bồ đề. Huyền thoại Ấn Độ tin rằng gốc và rễ cây bồ đề là Thần Brahma; thân cây là Thần Vishnu và lá là Thần Shiva. Người Ấn Độ gọi cây bồ đề là Peepal (pipal). Tiếng Sanskrit (Phạn) là pipala, bodhi; Sri Lanka: Bo; Thái Lan: bodhi. Bodhi có nghĩa là sự khôn ngoan. Người Anh phải gọi cây bồ đề là Sacred bodhi (cây bồ đề thiêng), bodhi tree v́ họ biết người Ấn Độ, tín đồ Ấn Giáo lẫn Phật Giáo đều tôn kính cây bồ đề. Tên khoa học của cây bồ đề là Ficus religiosa thuộc gia đ́nh Moraceae. Không phải thảo mộc mang tên khoa học Ficus religiosa nào cũng được xem là cây bồ đề thiêng. Chỉ có những cây bồ đề lấy giống từ cây bồ đề ở Bodh Gaya, Bihar, Ấn Độ, nơi Đức Phật Thiền tịnh và đắc đạo mới được xem là có đặc tính đặc biệt xứng đáng gọi là cây bồ đề thiêng. Cây bồ đề Jaya Sri Maha Bodhi ở Anuradhapura, đảo Sri Lanka, lấy giống từ cây bồ đề Sri Maya Bodhi ở Bodh Gaya, Bihar, nơi Đức Phật Thiền tịnh và đắc đạo, được trồng từ năm 288 trước Tây Lịch (2300 tuổi tính đến năm 2012). Cây bồ đề cùng ḍng và cùng gia đ́nh thảo mộc với cây đa. Cây cao lối 20m; lá h́nh trái tim. Trái chín màu tím đen.
Đối với người Ấn Độ cây bồ đề được bao quanh bởi nhiều huyền thoại. Nó có nhiều công dụng và tính năng trị liệu theo y học cổ truyền Ấn Độ. Ở Ấn Độ người ta trồng cây bồ đề ở hướng Đông của nhà hay đền, chùa. Vỏ cây bồ đề có nhiều tannins được dùng trong kỹ nghệ thuộc da. Từ vỏ cây bồ đề người ta khai thác màu nhuộm màu đỏ. Lá bồ đề là nguồn thức ăn cho voi và lạc đà.
Lá, vỏ, rễ, trái cây bồ đề dùng làm thuốc trị suyễn (trái tán
thành bột), tiêu hóa, loét, tê thấp, nướu răng đau (rễ), lá già vắt nước nhỏ vào
tai bị đau. Vỏ thân tán thành bột trị vết thương, viêm, loét, hoàng đản. Tên khoa học của lúa gạo là Oryza sativa thuộc gia đ́nh Poaceae. Đó là một loại cây lương thực quan trọng ở Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, các hải đảo Thái B́nh Dương ngày xưa. Cây lúa có năng xuất cao hơn lúa ḿ. Từ lúa biến thành gạo, cơm nhanh chóng và giản dị hơn từ hột lúa ḿ biến thành bột ḿ và tạo ra ổ bánh ḿ. Dân tộc ăn cơm đều nấu cơm ở nhà nhưng dân tộc ăn bánh ḿ không thể nhồi bột ḿ, rải men, cho bột dậy và xây ḷ để nướng bánh ḿ trong nhà dễ dàng được. Cây lúa là nguồn sống của nhân loại, đặc biệt là người Á Châu. Trung Hoa và Ấn Độ là hai nước sản xuất và tiêu thụ nhiều lúa gạo nhất thế giới. Từ gạo người ta làm ra bột, làm bánh, cất rượu, làm giấm và biến chế ra nhiều thức ăn khác. Trấu được dùng nấu nướng thay than củi. Rơm dùng để làm thức ăn khô cho trâu ḅ. Gốc rạ dùng để nấu nước uống và trị bịnh trái rạ. Người ta ăn gạo lức đề ngừa bịnh thủng. Cám gạo dùng ̣để làm thức ăn cho heo hay để làm một loại bánh ngọt lợ ăn để ngừa bịnh phù thủng. Gạo rang nấu nước giúp cho người bị thổ tả phục hồi lại nước trong thân thể v.v…
Ấn Giáo tức đạo Bà La Môn (Brahmanism) là tôn giáo có ảnh
hưởng tuyệt đối quan trọng ở Ấn Độ. Xă hội chia ra nhiều giai cấp:
Trong xă hội Ấn Giáo người ăn thịt được xem là người nghèo
thuộc giai cấp thấp trong xă hội. Thực phẩm cho những người khất thực phần lớn
xuất phát từ những người thuộc giai cấp Thương (Vaisyas), Công (Shudras) trong
xă hội. Chắc chắn trong số đó có thịt (gà, vịt, dê, trừu nấu cari v.v…) nhưng tu
sĩ khất thực không thể vất ra v́ làm vậy là coi thường ḷng thành kính của họ
đối với người tu hành. Người tu có thể ăn thịt với điều kiện không thấy con thú
bị giết và không nghe tiếng rên rỉ, gào thét của nó trong lúc bị giết. Chén cơm
mà người phụ nữ dâng cho Phật dưới cội bồ đề không thể là chén cơm trắng? Hay có
thể là cơm trắng với cà ri thực vật? Và ly sữa là sữa nấu từ thực vật như đậu
nành, đậu phọng chẳng hạn chớ không phải là sữa dê hay sữa ḅ? Dù là thức ăn
chay hay mặn, tất cả đều là ḷng thành của người phụ nữ. Nhưng nếu bà chuẩn bị
thức ăn để dâng cho người tu th́ bà nấu thức ăn chay. Nếu bà không chuẩn bị th́
bà có thức ăn ǵ mà trong nhà dùng th́ bà dâng cho. Trong trường hợp thái tử
Siddharta ngồi tham Thiền dưới gốc cây bồ đề theo các tu sĩ khắc khổ và gầy g̣
ốm yếu chắc chắn người phụ nữ nầy chuẩn bị nấu thức ăn bổ dưỡng để dâng cho
người tu để cứu Người khỏi cửa Tử Thần khi thực hành phép tu khắc khổ. Thức ăn
bổ dưỡng nhằm bồi bổ sức khỏe là thức ăn có thịt hay thức ăn thực vật?
Đức Phật và các đệ tử đến làng Pava và được Cunda, một người
thợ rèn, nấu món sukara-maddava cho Người dùng. Ăn xong Đức Phật thấy khó chịu
v́ đau bụng dữ dội. Các đệ tử đưa Người về Kusinagara cách đó lối 10km. Người bị
đi kiết ra máu rất nhiều và khát nước vô hạn. Người gọi Ananda kiếm nước cho
Người uống. Ananda không thể lấy nước được v́ có một đoàn xe ḅ đi ngang qua
ḍng nước làm cho ḍng nước bị đục và nổi lên nhiều vết đất bùn dơ bẩn. Đức Phật
viên tịch ở Kusinagara, tiểu bang Bihar, Ấn Độ, dưới gốc cây shala.
Tuber melanosporum
Gọi là nấm truffle do chữ tuber trong tiếng La Tinh có nghĩa là củ mà ra. Tên
khoa học của nấm truffle là Tuber melanosporum thuộc gia đ́nh
Tuberaceae. Nấm
truffle không có chân và tàng nấm như những loại nấm thông thường. Nó chỉ là một
khối tṛn như một củ khoai to bằng cái chén. Trên mặt nấm có nhiều đốm lồi lơm
và lỗ nhỏ. Nấm không mọc lộ thiên trên mặt đất mà nằm dưới đất như các loại
khoai củ. Nấm truffle có nhiều ở Pháp (vùng Périgord) và Ư. Nấm toát mùi của
chất kích thích tố của heo đực nên muốn t́m nấm phải dẫn một con heo cái đánh
hơi và ủi đất để lấy nấm. Nấm truffle rất quí v́ việc t́m kiếm nó rất khó khăn.
Vả lại khi ủi đất và gặp nấm, con heo cái vội ăn nấm ngay! V́ vậy ngày nay người
ta huấn luyện chó đi t́m nấm truffle thay cho heo cái.
Tuber magnatum
Nấm truffle ở Ấn Độ là nấm Tuber indicum màu đen, không thơm giá khoảng 20 Mỹ kim một pound .
Tuber indicum
Nếu món sukara-maddava là món nấm truffle th́ đó là một món ăn quí giá vô cùng.
Nếu Cunda chọn nhầm nấm độc chớ không phải nấm truffle hay xào nấu bằng nồi chảo
đồng rỉ ten xanh độc th́ không những Đức Phật bị ngộ độc mà các đệ tử cũng bị
trúng độc. Như vậy sự giải thích của Đại Đức bác sĩ Mettanando Bhikkhu được xem
là khả tín.
___________
Chú thích của a2a : Các h́nh trong bài là do a2a lượm nhặt trên internet .
|