PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

 

THIÊN NGA VÀ THÂN THUỘC

 

 


          Nga tộc chúng tôi là loài chim sống dưới nước gồm những chi tộc chánh như Thiên Nga, Ngỗng và Vịt. Thiên Nga tạm gọi nôm na là Ngỗng Trời v́ bay trên Trời hay là loài thủy điểu của Trời. Muốn hiểu thế nào cũng được.

Thiên Nga chúng tôi sống ở những vùng sông nước, ao hồ ở các quốc gia khí hậu ôn đới, bán hàn đới hay hàn đới. Chúng tôi là loại có lông vũ sống dưới nước, lội dưới nước và bay bổng trên trời trong những đợt di dân theo mùa hàng năm. Nói theo ngôn ngữ thời đại chúng tôi vừa là Hải Quân, vừa Không Quân và Lục Quân. Chúng tôi sống đông đảo ở nước La Sát (âm từ chữ Russia?) đến nỗi nước này mang tên NGA của ḍng họ chúng tôi.

Các nhà động vật học cho ḍng họ chúng tôi vào ḍng Cygnus thuộc đại gia đ́nh Anatidae. Người Anh gọi chung chúng tôi là Swan.

Nam Thiên Nga

Nữ Thiên Nga

Ẩu Nhi Thiên Nga

Cob

Pen

Cygnet


Người Pháp gọi chúng tôi là Cygne bất luận nam hay nữ và con cái chúng tôi họ gọi là Jeune Cygne.

Người Trung Hoa gọi chúng tôi là Tian E được người Việt Nam âm thành Thiên Nga.

 

Về màu sắc Thiên Nga chúng tôi có hai màu áo khác nhau:

- Thiên Nga mặc áo trắng toát sống ở Bắc Bán Cầu. Đó là Bạch Thiên Nga.

- Thiên Nga mặc áo đen tuyền sống ở Nam Bán Cầu như Úc Đại Lợi chẳng hạn. Đó là anh chị Hắc Thiên Nga

Thiên Nga chúng tôi là loài chim sống dưới nước to lớn nhất với cổ dài h́nh chữ S; mỏ vàng với đốm đen nhỏ. Các anh chị Hắc Thiên Nga có mỏ màu vàng cam với đốm đen. Bạch Thiên Nga hay Hắc Thiên Nga đều có đôi cánh dài và đôi chân to, bàn chân màu vàng cam. Một chân bơi dưới nước; chân kia đặt lên đuôi làm bánh lái khi Thiên Nga chuyển hướng lội.

Các anh Thiên Nga Cygnus buccinator có tiếng kêu vang dội như kèn thổi được xem là ḍng Thiên Nga to lớn nhất dài đến 1.70 m từ đầu đến đuôi; hai cánh x̣e đo đến 3 m và cân nặng đến 23 ki- lô. Trọng lượng của các nam, nữ Thiên Nga khác thường xê dịch từ 9.5 ki- lô- 17 ki-lô cho Nam và 9 ki- lô - 11.5 ki- lô cho Nữ. Sự phân biệt nam nữ Thiên Nga hơi khó v́ cả hai đều có lông trắng hay đen đẹp như nhau. Giữa nam và nữ Thiên Nga chỉ khác biệt nhau ở trọng lượng, tiếng kêu và kích thước đầu và cổ. Nam Thiên Nga to lớn hơn, có tiếng kêu rất to và mặc quần áo dày hơn. Người ta phân biệt các loại Thiên Nga dưới đây:


1. Thiên Nga câm Cygnus olor được t́m thấy ở Âu Châu và Á Châu. Loại Thiên Nga này không kêu la như các loại Thiên Nga khác. Đến nỗi có người cho rằng nó chỉ kêu khi gần chết!

2. Thiên Nga Cygnus buccinator có tiếng kêu vang dội như kèn trompette. Đó là những anh chị Thiên Nga sống hoang dă ở Bắc Mỹ.

3. Thiên Nga Cygnus columbianus columbianus ở Nga và các nước Bắc Mỹ như Canada, Hoa Kỳ. Loại Thiên Nga này được người Anh gọi là whistling swan v́ có tiếng kêu như tiếng c̣i thổi.

4. Thiên Nga Cygnus cygnus ở Bắc Mỹ có tiếng kêu như tiếng ho khúc khắc nên được người Anh gọi là whooper swan.

 

Mute swan

 

Trumpeter swan

 

whistling swan

whooping swan

 

Loài ngỗng Coscoroba ở Nam Mỹ ngày nay không c̣n được xem là Thiên Nga nữa.

Các anh chị Hắc Thiên Nga ở Nam Bán Cầu có hai ḍng quan trọng. Đó là ḍng Cygnus atratusCygnus melanchorythus.

Thiên Nga chúng tôi sống bằng rong, rêu, cỏ, củ, hột. Chúng tôi thường t́m kiếm thức ăn dưới nước bằng cách lội và lặn hụp dưới sông, hồ. Các ấu nhi của chúng tôi có ăn chút tôm, tép để có protein trong thời kỳ phát triển. Vào mùa đông chúng tôi chuẩn bị di chuyển xuống phía nam tương đối ấm hơn. Khi bay như vậy chúng tôi phải theo đội h́nh chữ V. Trong những cuộc di chuyển trên không trên hàng ngàn cây số nhiều anh chị yếu sức phải bỏ cuộc dọc đường. Đó là những Thiên Nga đă chết trên đường t́m kiếm sự sống ấm cúng ở phương nam.

Khi nam, nữ Thiên Nga được 02 tuổi họ nghĩ đến chuyện lập gia đ́nh. Thiên Nga chúng tôi sống theo cặp tương đối ấm cúng và hạnh phúc. Nhưng trên mặt đất này không có ǵ là tuyệt đối cả. Loài người đề cao sự chung thủy của Thiên Nga. Điều này đúng đến 90%. Vẫn có trường hợp ly dị và tái giá hay tục huyền trong cộng đồng Thiên Nga tộc. Người ta tính có từ 4% đến 6% trường hợp ly dị trong cộng đồng Cygnus của chúng tôi. Đó là trường hợp các trứng ấp đều hư. Các chị Thiên Nga thua buồn đi t́m người yêu khác. Trường hợp tái giá hay tục huyền vẫn xảy ra khi nam hay nữ Thiên Nga ĺa dương thế v́ bất cứ lư do ǵ. Triết lư sống của Thiên Nga là phải có đôi. Do đó các nữ hay nam Thiên Nga góa bụa phải tái giá hay tục huyền để có cuộc sống lứa đôi. Nếu nam Thiên Nga tục huyền với một nữ trẻ tuổi hơn anh ta th́ nữ Thiên Nga phải theo chồng về lănh địa của chồng. Trong trường hợp ngược lại nếu người vợ lớn tuổi hơn th́ anh Thiên Nga tục huyền phải theo vợ về lănh địa của vợ tức quê vợ. Xem như thế đủ thấy cộng đồng Thiên Nga chúng tôi trọng người cao niên nhưng hôn nhân không kỳ thị tuổi tác.

Sau khi làm công tác truyền giống các anh Thiên Nga phải đi kiếm lá cây, cỏ, rơm hay lau sậy về làm ổ cho các chị Thiên Nga sinh. Ổ rộng từ 1- 3 m. Trước ổ phải có một ḍng nước hay một bờ đê do các anh xây đắp để che giấu ổ không cho bọn Chồn Cáo, rái hay Gấu đến ăn trứng và ăn thịt luôn cả Thiên Nga mẹ. Khi các chị Thiên Nga đẻ trứng, các anh canh chừng ổ. Các anh cũng ấp trứng thay cho các chị nữa. Mỗi chị Thiên Nga đẻ trung b́nh khoảng 10 trứng. Trứng màu trắng sữa dài 12 cm, rộng 7 cm và cân nặng lối 350 grams. Trứng ấp từ 32 đến 45 ngày mới nở ra con. Thiên Nga mới nở nặng lối 200- 300 gram. Ấu nhi Thiên Nga bay được khi cân nặng 7 ki-lô.

 

 

Nhờ có ngoại h́nh dễ nh́n mà loài người gán cho chúng tôi nhiều mỹ từ đẹp đẽ. Nào là chúng tôi chung thủy, độc thê. Nào là chúng tôi biểu tượng cho sắc đẹp, sự duyên dáng, sự tận tụy, sự thanh khiết. H́nh ảnh chúng tôi bơi lội hay bay bổng trên Trời xanh phản ánh sự yêu chuộng Tự Do của ḍng Cygnus chúng tôi. Trong văn hóa Celtic Thiên Nga là biểu tượng của sự thanh khiết và t́nh yêu. Trong Leviticus 11: 18 và Deuteromy 14: 18 có đề cập đến những loài chim không được ăn như đại bàng, quạ, diều, chim cú, kên kên, chàng bè, bồ nông, hải âu... nhưng không thấy từ ngữ nào liên quan đến ḍng Cygnus chúng tôi cả.  

Loài người ít ăn thịt Thiên Nga chúng tôi. Ở điểm này loài người tỏ ra thiếu thành thật với chính họ. Ở Anh người ta quay chúng tôi. Thịt chúng tôi là thức ăn của vua chúa ở Anh dưới triều vua Henry VIII (1491- 1547) và nữ hoàng Elizabeth I (1533- 1603). Năm 1482 một Đạo Luật về Thiên Nga được ban hành minh định Thiên Nga là tài sản của triều đ́nh. Việc ăn và săn bắt Thiên Nga bị nghiêm phạt như phạm tội h́nh.


Ở Hoa Kỳ người ta xem Thiên Nga chúng tôi là kẻ tấn công họ khi đến gần ổ trứng của chúng tôi. Nào là Thiên Nga phá hại mùa màng. Nào là Thiên Nga tấn công các loại chim muông khác v.v. Thợ săn Hoa Kỳ bắn giết và làm thịt chúng tôi như đă đối xử với các anh chị Gà Tây. Ho xào nấu thịt Thiên Nga như xào nấu thịt Gà Tây vậy.

Trong huyền thoại Hy Lạp có chuyện nữ Thần Leda và Thiên Nga. Chuyện t́nh này đă thành thơ. Theo huyền thoại Leda là mẹ của nhiều người con đẹp đẽ và quí phái kể cả người đẹp Helen thành Troy. Leda là vợ của Tyndareus, vua Sparta. Nhưng các con đẹp và sang trọng vừa nói không phải là con của Tyndareus mà là con của Thần Zeus hoá thân thành Thiên Nga. Chính người đẹp Helen thành Troy ra đời từ trong một cái trứng Thiên Nga.

Trong huyền thoại La Mă Thiên Nga rất thiêng liêng với nữ Thần Venus, nữ Thần t́nh yêu.

Loài người kết nối Thiên Nga với t́nh yêu, văn chương, âm nhạc và thi ca.

Nhà soạn nhạc Nga Pyotr Ilyich Tchaikovsky (1840- 1893) nổi tiếng với tác phẩm Swan Lake ra đời năm 1876. Năm 1925 Anna Pavlova được toàn thế giới biết đến nhờ điệu vũ ballet với Cái Chết của Thiên Nga (The Dying Swan) trong Swan Lake.

Người Anh gọi Thiên Nga chúng tôi là Swan. Swan có nghĩa là người có vẻ đẹp đặc biệt. Swan cũng có nghĩa là người có giọng ca ngọt ngào, một thi sĩ thiên tài. Chữ Swan hàm nghĩa tất cả những ǵ tốt đẹp và quí giá. Theo ngôn ngữ cổ th́ Swan chỉ miền Nam và miền Trung Tây Hoa Kỳ. Động từ To Swan có nghĩa là thế; bảo đảm.


Trong thực vật học có những loại phong lan được gọi là phong lan Thiên Nga ḍng Cycnoches thuộc gia đ́nh Orchidaceae như Cycnoches aureum, Cycnoches barthiorum, Cycnoches amparoanum, Cycnoches chlorochilon v.v. Loại phong lan này được t́m thấy nhiều ở Nam Mỹ. Hoa gọi là Swan flowers (Hoa Thiên Nga).  

Trong thiên văn học có sao Cygnus (sao Thiên Nga). Cygnus là cḥm bắc tinh về phía tây nam cḥm sao Draco (Long Tinh)  (Draco: Rồng- La Tinh). Ngôi sao sáng trong cḥm sao Cygnus (Thiên Nga) là sao Deneb.

Người Việt Nam ít biết về ḍng họ chúng tôi nhưng ở Sài G̣n trước năm 1975 có hiệu bột giặt Thiên Nga. Các du thuyền sang trọng của loài người thường có h́nh dáng Thiên Nga. Loài người nhất là người Á Đông cho rằng Thiên Nga là loài thủy điểu chung thủy. H́nh ảnh cặp Thiên Nga bơi lội thảnh thơi dưới một chiếc cầu cổ xây bằng đá trong hoàng cung Nhật ở Tokyo được xem là bức ảnh đẹp, thơ mộng, trang trọng và quí phái.

Trên thế giới có nhiều địa danh có chữ SWAN tức Thiên Nga như: Sông Swan ở Úc Đại Lợi; thành phố Swancombe ở Anh nơi người ta t́m thấy sọ người tiền sử (homo sapien steinheimensis); Swansea ở Anh và ở Massachusetts, Hoa Kỳ; Swanton ở Ohio v.v.


Đến đây chúng tôi xin lần lượt tŕnh bày về một thân thuộc gần của chúng tôi theo sự uy quyền của họ. Đó là đại gia tộc NGỖNG.
 

NGỖNG

 

 

Người ta dễ nhầm lẫn Thiên Nga và Ngỗng. Theo tên Hán- Việt, Nga là Vịt và cũng là Ngỗng. Chỉ khác với Thiên Nga bằng chữ Thiên mà thôi. Thiên Nga to lớn, cổ dài và mặc quần áo dài luộm thuộm và sang trọng hơn Ngỗng. Cũng như Thiên Nga, sự phân biệt Ngỗng nam và Ngỗng nữ rất khó ngoại trừ căn cứ vào kích thước đầu, cổ và trọng lượng. Ngỗng nam nặng cân; đầu và cổ to hơn Ngỗng nữ. Người Anh gọi các chị Ngỗng là Geese, các anh Ngỗng là Ganders và các cháu là Goslings. Người Pháp gọi các chị Ngỗng là Oies; các anh là Jars và các cháu là Oisons rất minh bạch.

Ngỗng có hai màu: ngỗng trắng và ngỗng màu hung đỏ nhạt, xanh, trắng, xám. Ngỗng mặc quần áo trắng có mỏ vàng, chân màu hồng. Ngỗng mặc quần áo nhiều màu sắc và có chân đen. Như Thiên Nga chúng tôi, Ngỗng lội rất nhanh và bay rất xa. Thiên Nga và Ngỗng đều bơi bằng một chân. Chân kia gát sau đuôi như bánh lái khi ngỗng muốn đổi hướng theo ḍng nước. Các anh chị Ngỗng đều lớn tiếng ầm ĩ nhưng tiếng kêu của các anh vẫn lớn hơn tiếng kêu của các chị. Thị giác và thính giác của Ngỗng rất tốt mặt dù mắt Ngỗng rất nhỏ. Chính nhờ vậy mà người Việt Nam nuôi Ngỗng để giữ nhà thay các anh chị Khuyển.  

Có 29 ḍng họ Ngỗng khác nhau trên thế giới.

 

 

- ḍng Anser (lông xám). Anser cygnoides là ḍng Ngỗng Thiên Nga ở Đông Á. Giống Ngỗng này rất to con

 

 

- ḍng Branta (lông đen hay đa sắc). Ngỗng Canada mang tên khoa học Branta canadensis.

 

 

- ḍng Chen như Chen caerulescens (lông trắng toát)

 

 

- Ngỗng mặc quần áo nửa trắng nửa đen, chân hồng ở Úc Đại Lợi mang tên khoa học Anseranas semipalmata. Loài ngỗng nầy ngủ trên cây nhưng làm ổ dưới đất và mớm thức ăn cho ngỗng con thay v́ vất thức ăn trong ổ để các ngỗng con tự giành giựt mà ăn.

 

 

- Ngỗng tí hon (Pygmy goose) ở Phi Châu mặc áo quần rất đẹp v́ có nhiều màu hung đỏ, trắng, xanh và đôi khi vàng nữa. Loài Ngỗng này giống vịt hơn là Ngỗng về h́nh dáng, màu sắc lẫn kích thước nhỏ bé. Tên khoa học của loài Ngỗng tí hon này là Nettapus auritus.  

 

 

Chiều dài trung b́nh của Ngỗng xê dịch từ 60- 120 cm; Cánh x̣e từ 83 đến 170 cm; vận tốc bay của Ngỗng lối 90 km/ giờ. Trọng lượng trung b́nh của các anh chị Ngỗng xê dịch từ 3 ki-lô đến 9 ki- lô.

Tuổi thọ của Ngỗng sống trong trạng thái hoang đă kéo dài từ 10 đến 15 năm. Nếu sống trong sở thú tuổi thọ có thể lên đến 40- 50 năm. Đời sống ở trại chăn nuôi rất ngắn ngủi và bất hạnh v́ bị cưỡng ép ăn để lên cân cho loài người bán thịt và gan.

Xă hội Ngỗng là xă hội đa thê. Nhưng Ngỗng nổi tiếng là loài động vật chung t́nh. Các chị Ngỗng có quyền tự do lựa chọn người yêu lư tưởng của ḿnh và chung sống với anh Ngỗng được chọn. Nếu vị hôn phu nầy mất tích v́ bị Chồn Cáo bắt cóc hay bất cứ v́ lư do ǵ khác, chị Ngỗng tái giá và chung thủy với vị hôn phu mới.

Thanh niên Ngỗng lên 02 hay 03 tuổi bắt đầu nghĩ đến chuyện yêu đương để bảo tồn ḍng giống. Khi đă bắt cặp và có thiếp anh Ngỗng phải bảo vệ các chị từ chánh thất đến thê thiếp. Các anh phải một mất một c̣n với các anh Ngỗng khác mon men đến lănh địa của các anh để ḍm ngó thê thiếp của các anh. Sau những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi, các anh Ngỗng phải lo xây ổ bằng lá cây, cỏ, rơm rạ hay nhánh cành nhỏ để các chị sinh. Mỗi chị Ngỗng sinh từ 5 đến 10 trứng. Trứng Ngỗng lớn gấp 1.5 trứng vịt nhưng nhỏ hơn trứng Thiên Nga. Sinh xong, các chị Ngỗng ấp trứng. Các anh Ngỗng nằm gần ổ canh chừng ổ. Các anh sẵn sàng tử chiến với Chồn Cáo, Raccoon, Chó Sói và cả với thợ săn của loài người nữa. Trứng ấp từ 30 đến 35 ngày th́ nở. Ấu nhi được cha mẹ chăm sóc kỹ lưỡng. Mẹ sưởi ấm. Cha bảo vệ an ninh và dạy cách ăn uống, cách t́m vùng cỏ ngon, có nước trong để tập bơi lội. Cha mẹ Ngỗng ăn cỏ, hột, củ, rễ cây, côn trùng, ṣ ốc. Khác với những ǵ người Việt Nam nói về gia tộc Ngỗng. Họ không ăn chay như người Việt Nam tưởng mà ăn tạp những thức ăn chủ yếu vẫn là thực vật. Cha mẹ Ngỗng hướng dẫn con thay lông vào tuần thứ hai sau khi vỡ vỏ trứng chào đời. Đến tuần thứ 10 th́ các ấu nhi đă có đầy đủ lông đuôi, lông cánh để tự túc bơi lội, bay nhảy để tự kiếm ăn. Đó là lúc cha mẹ chúng xa chúng. Vào mùa đông Ngỗng Canada tạm rời vùng băng giá để bay về phía nam.

 

Họ đến Hoa Kỳ hay Mễ Tây Cơ. Nhưng Hoa Kỳ là nơi họ thích sống nhất v́ có đầy đủ thức ăn, an ninh được bảo đảm 100% ngoại trừ bị tai nạn giao thông trên đường phố. Một hôm có chị Ngỗng Canada dẫn một đàn con đi trên xa lộ. Xe cộ phải ngừng lại cho các ấu nhi băng qua đường. Cảnh sát được thông báo để đến đưa mẹ con chị Ngỗng về nơi an toàn để họ được ăn uống, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe đầy đủ. Nhưng nếu xuống Mễ Tây Cơ th́ tất cả những điều nói trên có thể trống vắng thậm chí mạng sống cũng không được vẹn toàn. Nhiều gia đ́nh Ngỗng Canada chọn Hoa Kỳ làm quê hương sau khi sinh đẻ nhiều con cái ở đó. Vả lại nghĩ đến những chuyến bay xa ngàn dặm họ cảm thấy ngao ngán như thế nào ấy! Họ đă chọn Hoa Kỳ là nơi cư trú và quê hương với ư nghĩ tầm thường là nơi nào có TỰ DO và SỰ SỐNG nơi đó là QUÊ HƯƠNG. Nếu nơi đó mất vào tay kẻ dữ và tàn độc th́ TỰ DO và SỰ SỐNG cũng mất theo.


Khắp nơi trên địa cầu người ta đều lập trại nuôi ngỗng để lấy lông và thịt. Loài người khen thịt Ngỗng Toulouse ngon hơn các loại thịt Ngỗng khác. Người Pháp nuôi Ngỗng và căng họng họ nhồi nhét thức ăn vào miệng các anh chị Ngỗng đến nghẹt thở. Họ cho rằng làm như vậy là thúc đẩy cho Ngỗng mau lớn, cho nhiều thịt nhất là cho gan béo ngon. Nhân loại đề cao món paté gan Ngỗng béo. Đó là món paté de foie gras nổi tiếng của Pháp. V́ món này mà bao nhiêu sinh linh nhà họ Ngỗng lần lượt ngă gục. Họ ăn Ngỗng quay, paté gan. Lông Ngỗng dùng để trang trí, làm quạt, nhồi vào gối, dệt tơ để may quần áo mùa Hạ. Ngày xưa lông Ngỗng được dùng làm viết. Chữ Plume có nghĩa là cái lông và cây viết trong tiếng Pháp. Mỡ Ngỗng được dùng làm dầu thoa bóp. Kết hợp với turpentine (nhựa thông) thoa lên ngực trị ho, cảm, tê thấp.  

Ngỗng trắng Sichuan (Tứ Xuyên) sinh sản rất chậm nên dân số càng ngày càng ít dần. Loài người nghĩ đến việc thụ thai nhân tạo cho các chị Bạch Nga Si Chuan nhưng kết quả vẫn chưa được khả quan như mong mỏi.

Từ 3000 năm trước đây Ngỗng Anser anser lông xám đă có mặt ở Ai Cập. Người Ai Cập cổ và người Trung Hoa xem các anh chị Ngỗng như sứ giả của Trời và Đất. Người Trung Hoa và người Việt Nam xem Ngỗng là loài thủy điểu chung thủy. Trong đám cưới ngày xưa lúc nào cũng có hai người ôm Ngỗng: một người ôm một anh Ngỗng và người kia ôm một chị Ngỗng như một lời chúc tụng cặp vợ chồng mới cưới được chung thủy với nhau. Người Việt Nam c̣n cho rằng loài Ngỗng có căn tu nên không ăn tôm tép. Nhiều người không ăn thịt Ngỗng v́ gọi Ngỗng là 'Thiên Nga’ tức là Ngỗng của Trời! Tuy nói vậy người Trung Hoa và Việt Nam rất thích ăn Ngỗng quay.

Phụ nữ sinh con khó nuôi được cho ăn trứng Ngỗng luộc! Một nhà lănh đạo Trung Hoa không ăn thịt Ngỗng mà chỉ ăn gân chân Ngỗng để được bổ gân. Cách ăn cũng không đơn giản. Người ta xây một cái ḷ khổng lồ. Trên miệng ḷ có cả một cái nắp to bằng kim khí. Quanh cái nắp có ṿng rào cao để khi thả ngỗng vào Ngỗng không chạy ra khỏi cái nắp kim khí khổng lồ nóng bức v́ dẫn nhiệt của than, củi bùng cháy dưới ḷ. V́ nóng Ngỗng phải nỗ lực chạy. Đó là lúc người ta làm thịt các anh chị Ngỗng cố gắng chạy để tránh sức nóng của nắp ḷ. Người ta chặt hai chân của các anh chị ấy, lấy gân biến chế thức ăn cho lănh tụ. Để có một chén gân Ngỗng người ta phải giết hàng trăm anh chị Ngỗng. Hàng trăm ki- lô thịt bị vất đi.

Trong huyền thoại La Mă, Ngỗng là vật thiêng của nữ Thần Juno, Thần ánh sáng, hôn nhân, sinh sản. Đó là nữ Thần phù hộ cho thành La Mă.  

Trong huyền thoại Hy Lạp, Ngỗng được liên kết với Bắc Phong (Gió Bấc). Điều này đúng với nguồn gốc xuất phát của Ngỗng tức Nga và sự tiên liệu thời tiết (mùa Đông lạnh lẽo sắp đến).

Ngỗng là vật tổ của Đông Chí đối với người Da Đỏ ở Mỹ Châu. Người Da Đỏ có kinh nghiệm về thời tiết nhất là đông tiết qua sự đi chuyển của anh chị Ngỗng Canada Branta canadensis. Khi Ngỗng Canada đi về hướng Nam vào tháng 08 (August) th́ mùa đông năm đó sẽ khắc nghiệt vô cùng.

Người Welsh tin rằng Ngỗng đẻ một trứng mềm và một trứng cứng th́ tài lộc trong nhà được phú túc dồi dào.

Ở Bắc Phi người ta ăn thịt Ngỗng vào đầu năm để có một năm mới tốt đẹp.

Người Do Thái thời Trung Cổ cho rằng người giết Ngỗng vào giữa tháng 12 và giữa tháng 02 sẽ bị quỉ hại.

Người Anh tin rằng ăn thịt Ngỗng vào ngày Thánh Michael tức ngày 29 tháng 09 th́ không sợ thiếu hụt tiền bạc.

Loài người gọi một cách ngạo nghễ là Ngỗng trống, Ngỗng mái hay cao hơn một bậc là Ngỗng đực, Ngỗng cái. Trong ngôn ngữ của Việt Nam những từ TRỐNG, MÁI dành cho loài vật thấp. ĐỰC, CÁi dành cho động vật cao như Trâu, Ḅ, Heo, Ngựa, Dê, Trừu....TRAI, GÁI chỉ dành cho loài người mà thôi. Quí vị thấy không, ngôn ngữ của loài người đầy màu sắc kỳ thị.

Người ngổ ngáo được ví với con Ngỗng đực.

Chữ Goose (con Ngỗng) của người Anh cũng ám chỉ kẻ ngu si, đần độn.  

Người Việt Nam nói nổi da gà. Người Anh nói nổi da Ngỗng (goose flesh- Flesh: thịt).

Quân lính Đức Quốc Xă đi diễn hành theo chân Ngỗng đầy gây hấn.

Trên đảo Newfoundland ở miền đông Canada có một trạm hàng không nơi các phi cơ xuyên Đại Tây Dương dừng lại để đổ xăng. Đó là Goose Bay.

Trên đảo Newfoundland có thành phố Gander.

Ở South Carolina, Hoa Kỳ, có thành phố Goose Creek.

Trong Đề 40 con Ngỗng mang số 3 trước anh chị Ốc (số 2) và anh chị Công tức Khổng Tước (số 4).

Trong thực vật học có nhiều cây có mang chữ ‘goose’ của tiếng Anh như:  

- Gooseberry tree tức cây chùm ruột Phyllanthus acidus
- Goosefoot tức Hỷ thảo Chenopodium album
- Goosegrass tức Cỏ nệm Galium aparina
- Goose wort tức Khoai lang Tây Tạng Potentilla anserina.
- Nga Bất Thực Thảo là biệt danh của Cỏ The hay Cúc Mẳn v́ Ngỗng, Vịt không ăn cỏ nầy. Tên khoa học của cỏ the là Centipeda minima.

Trong Thiên Văn Học có cḥm sao VulpeculaAnser (Chồn Cáo và Ngỗng). Sao sáng là sao Anser (Ngỗng- Nga Tinh).

Trong Thánh Kinh Ngỗng cho loài người nhiều bài học quí báu về:  

* Lănh Đạo (Ngỗng đầu đàn. Khi vị này mỏi mệt th́ có vị đầu đàn khác thay thế ngay)  
* Tinh Thần Hợp Quần (sống và di chuyển có đàn)
* Nâng Đỡ và Hợp Tác theo phương châm: Hai (2) mạnh hơn Một (1)  (luôn luôn sống có cặp. Nam, nữ Bạch Nga hay Hắc Nga đều không thích sống cô đơn)
* Cổ Vơ và Khích Lệ (tiếng kêu vang rền của Ngỗng)  
* Thẳng Tiến Đúng Hướng (đội h́nh chữ V như mũi tên bay)
* Tiên Liệu để tránh điều xấu xảy ra (di chuyển sang vùng ấm trước khi mùa đông giá buốt đến)

Câu chuyện Chiếc Áo Lông Ngỗng của Mỵ Châu, con gái vua An Dương Vương, vào năm 207 trước Tây Lịch là một trang bi sử, đen tối, đẫm máu và đẫm lệ đă đưa quê hương vào ṿng nô lệ cường lân Bắc quốc trên 11 thế kỷ. Vua An Dương Vương lẫn công chúa Mỵ Châu không thể vô tội trước cảnh bi thảm lịch sử này. Chao To (Triệu Đà) từng đem quân toan xâm chiếm nước Âu Lạc nhưng thất bại. Thế mà An Dương Vương kết nghĩa thông gia với ông ta và cho con trai Chao To ở trong nhà để ḍm ngó nội t́nh nước Âu Lạc nhất là t́m hiểu về cây nỏ Thần. Vua An Dương Vương không chăm lo việc nước mà chỉ ỷ lại vào cái lẫy nỏ và sự trợ giúp của Thần Kim Qui trong việc quốc pḥng. Một loại vơ khí quan trọng như vậy mà để cho công chúa Mỵ Châu biết và dẫn người chồng dị chủng vào xem và trao cái nỏ giả mà không hề hay biết. Vua An Dương Vương và công chúa Mỵ Châu đáng khen hay đáng thương ở chỗ nào khi đất nước và dân tộc đắm ch́m dưới gót giày ngoại nhân trên 11 thế kỷ (207 tr. T.L- 111 tr. T.L rồi 111 tr. T.L- 938 sau T.L)  ? Vua An Dương Vương và công chúa Mỵ Châu đáng thương hay dân tộc Việt Nam và đất nước Việt Nam đáng thương? Thiên Nga chúng tôi xin có chút ư mọn về vấn để tế nhị nầy.  

Hai anh chị Ngỗng trắng (Bạch Nga) là đề tài xướng hoạ thi văn giữa sư Lư Giác (Lee Kio) của nhà Tống và sư Đỗ Pháp Thuận tức Lạc Thuận giả làm người chèo thuyền đưa sư vào Hoa Lư.

Thấy hai anh chị Bạch nga lội dưới sông, Lee Kio xuất khẩu hai câu thơ:

Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha.

dịch:
Song song ngỗng một đôi.
Ngửa mặt ngó ven trời.

Người chèo đ̣ Đỗ Pháp Thuận tiếp hai câu thơ của Lee Kio bằng hai câu thơ đối đáp:

Bạch mao phô lục thủy
Hồng trảo bái thanh ba.

dịch:
Lông trắng phơi ḍng biếc,
Chân hồng quạt sóng xanh.

 

Chúng tôi tạm dừng bài trần t́nh của Thiên Nga và Ngỗng ở đây. Trưởng Lăo Vịt Xiêm sẽ tŕnh bày với quí vị về Vịt trong bài thuyết tŕnh kế tiếp. Chúc loài người càng ngày càng bớt hung hăng và mâu thuẫn. Một mặt quí vị đề cao ḍng tộc chúng tôi với những mỹ từ đẹp nhất mà quí vị nghĩ ra. Mặt khác quí vị hạ sát và đưa thịt của thân thuộc chúng tôi vào bụng quí vị không một chút thương tiếc.

Chúc quí vị có những giấc ngủ không có ác mộng.
Đệ nhất Thiên Nga Lăo Bối.

 

PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

 

 

art2all.net