PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

 

THIỀN NHẬP THẾ

 

 

          Theo tiếng Sanskrit (Phạn ngữ) thì Thiền là Dhyana được dịch âm thành Thiền Na. Người Trung Hoa gọi là Chan (Thiền) và Nhật gọi là Zen. Người Anh hay Pháp gọi là Meditation một cách đơn giản thôi. Khi nói đến Thiền người ta liên tưởng đến Phật Giáo. Thiền môn là cửa chùa.

Mùi thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.

Thực tế tôn giáo nào cũng có những phút tĩnh tâm. Dần dà Thiền vượt qua giới hạn Phật Giáo của nó để trở thành một thể dục tâm linh quốc tế.

Phật Giáo ở Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Đại Thừa của Trung Hoa. Thiền ở Trung Hoa pha trộn ít nhiều màu sắc Lão Giáo (Taoism) đề cao sự thanh tịnh vô vi. Nhật Bản tiếp thu Phật Giáo Đại Thừa qua trung gian các sư tăng Triều Tiên vào thế kỷ VI sau Tây Lịch. Thiền phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam vào thế kỷ X, XI, XII, XIII. Nó phát triển mạnh ở Nhật vào cuối thế kỷ XII. Ở nước ta chỉ có các sư Phật Giáo hành Thiền. Ở Nhật Zen chẳng những cho người tu Phật Giáo mà được quảng bá ra quần chúng.

Thiền là sự tập trung tư tưởng, lắng đọng tinh thần, tự kiểm soát ngũ quan hầu vượt qua mọi vọng động, mọi thèm khát của ngũ quan. Sự vọng động của ngũ quan là nguồn gốc của tội lỗi và tội ác. Chúng làm cho tâm con người mất sáng suốt và con người trở nên hung hăng, độc hiểm, tham lam, dâm bạo khả dĩ gây ra muôn ngàn tội ác khác.

Một lu nước quấy động đầy bùn không thể nào trong bằng một lu nước để yên để lắng cặn.

Một người học trò thả hồn vào các trò chơi, các món ăn, thức uống không thể lãnh hội bài giảng của thầy bằng một người học trò ngồi yên tĩnh lắng nghe thầy giảng bài.

Một người thợ vừa làm vừa nói chuyện, hút thuốc, uống rượu sẽ không hoàn thành tốt công việc bằng một người chú tâm vào công việc.

Những hình ảnh ấy giúp chúng ta thấy được ích lợi của việc tập trung tư tưởng bằng cách điều tức hơi thở, lắng đọng tinh thần hòa hợp với sự thanh tịnh bên ngoài lẫn trong tâm hồn.

Người hành Thiền luôn luôn bị thử thách. Chính những thử thách đó là những bài thi cho người Thiền. Có lắm người bị rớt và bỏ cuộc. Số còn lại tiếp tục, thỉnh thoảng họ cũng bị thử thách. Sự thử thách càng đắng cay càng cho thấy cấp độ Thiền càng cao. Bài thi để lấy học vị cao phải là bài thi khó.

Người mới tọa Thiền thường thấy người ngứa ngáy khó chịu, hoặc thấy những chuyện ghê rợn, hoặc gặp vài sự xui xẻo nào đó. Đó là những ma chướng làm cho người Thiền phải bỏ cuộc. Nhưng tôi xem đó là một sự thử thách. Trong cuộc đấu tranh tinh thần giữa Tốt- Xấu, Chánh- Tà phải có sự trắc nghiệm xem ta thực sự xấu hay tốt, chánh hay tà. Cái xấu tập hợp với cái xấu. Cái tốt tập hợp với cái tốt. Chánh, tà tập hợp riêng rẽ không thể lẫn lộn, chung đụng nhau. Có khi người mới tọa Thiền vội mừng khi cho rằng mình tọa Thiền thành công. Sự vui mừng đó là một dạng của sự vọng động. Nó sẽ sớm tan biến khi gặp những trở ngại cam go. Sự thử thách nói trên không thể so sánh với sự thử thách đức tin của Job theo lời thách thức của quỉ Satan với Thượng Đế trong Cựu Ước Kinh. Job chịu sự khổ đau về thể xác lẫn tinh thần vì bị ghẻ lở, bị vợ chế nhạo, đàn thú nuôi bị hủy sạch. Con cái bị chết theo lời thách của quỉ Satan nhưng Job vẫn một lòng tôn kính Thượng Đế và tin vào sự thưởng phạt công minh của Thượng Đế. Cuối cùng, với lòng chung thủy thờ kính và tin tuyệt đối vào Thượng Đế, lời khấn nguyện của Job được sự hồi âm của Thượng Đế. Ông sống đến 140 tuổi. Cuộc sống của ông phú túc hơn xưa gấp nhiều lần. Ông là cha của 07 con trai và 03 con gái như trước.

Hằng ngày chúng ta đều phải tắm cho cơ thể được thanh sạch. Dù mới tắm xong trên da vẫn còn chút đất. Ngày hôm sau vẫn tắm. Tắm xong kỳ trên da vẫn còn đất.

Hành Thiền tức là tắm rửa tâm hồn, tẩy sạch nghiệp chướng. Nghiệp chướng là nợ, là lớp đất trên da tắm hàng ngày vẫn còn nhưng sự dơ bẩn giảm đi rất nhiều nếu ta siêng tắm gội. Hành Thiền cũng tương tự như thế. Người hành Thiền vẫn bị xui xẻo nhưng độ xui xẻo ở mức độ thấp không đáng ngại giống như lớp đất sau khi tắm vì lớp đất này không dơ như lớp bụi và đất trên người trước khi tắm rửa.

Hành Thiền không phải là sự ép xác hay tự tạo quá nhiều ràng buộc khó thực hiện. Việc ăn thức ăn nhẹ cho sự tiêu hóa dễ dàng giúp cho sức khỏe được bình thường là điều kiện lý tưởng cho người hành Thiền. Khái niệm này không đồng nghĩa với việc không ăn thịt vì kiêng sát sinh. Sống trong xã hội và cộng đồng loài người chúng ta không nên chọn con đường đơn lẻ đối chọi với cộng đồng. Loài người cần đưa vào cơ thể những chất dinh dưỡng cần thiết để đương cự lại với khí hậu giá lạnh và lao động nhọc nhằn hàng ngày.

Thời gian tọa Thiền không bắt buộc phải quá lâu. Cách hành Thiền phải linh động tùy theo sức khỏe, tuổi tác và hoàn cảnh vật chất. Người già và không có nhiều sức khỏe không thể ngồi Thiền được. Các vị ấy linh động trong tư thế Thiền của mình. Điều quan trọng là đừng để sự hành Thiền bị gián đoạn vì bất cứ lý do gì. Vì trong mọi hoàn cảnh đều có thể hành Thiền được. Việc hành Thiền không phân biệt tôn giáo, nam, nữ, tuổi tác, nghề nghiệp địa vị xã hội, trình độ học vấn, chủng tộc. Thiền không có biên cương và không có sự kỳ thị.

Làm cách nào xua đuổi sự vọng động để tâm được định dễ dàng?

Theo kinh nghiệm bản thân, tôi dùng những câu kinh mà tôi thường dùng để đọc trước khi Thiền. Mỗi tín đồ các tôn giáo khác nhau dùng câu kinh thường dùng của mình để đọc để xua đuổi những vọng động. Tín đồ Phật Giáo thường dùng lục tự Di Đà hay câu kinh về đức Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng hạn. Điều đặc biệt là người tọa Thiền sẽ thấy khó chịu khi đọc sai hay sót một chữ trong câu cầu nguyện của mình. Trong trường hợp ấy phải điều hòa hơi thở và đọc lại thì buổi Thiền mới sớm định. Những người có trình độ Thiền cao nhập định ngay khi tọa và không cần được trợ sức bởi những câu cầu nguyện. Có người cho rằng cầu nguyện là sự vọng động. Tôi tán đồng với Pascal khi cho rằng con người quá nhỏ bé trong vũ trụ bao la nên sự cầu nguyện để được che chở, được an ninh, an toàn là điều không sao tránh khỏi. Đôi khi có nhiều người phải hạ mình trước một anh trưởng khu, trưởng phường, tại sao cầu nguyện Trời Phật lại xem là sự vọng động đáng khinh?

Người hành Thiền sẽ có những ấn dấu lành gì?

- Người hành Thiền có một dòng điện lành hiện trên nét mặt; lời nói công minh, trong sáng được người nghe tin phục.

- Có sức khỏe và cuộc sống lành mạnh

- Có trí sáng, thấy được chiều sâu của mọi vấn đề

- Tánh công bằng, lời nói chân thật từ đáy lòng

- Bình tĩnh trước mọi tình huống tốt, xấu; bình tĩnh trước sự sống và chết; bình tĩnh trước danh, lợi và quyền hành

- Sự kiên nhẫn và ý chí của người hành Thiền cao hơn người bình thường.

- Làm công việc gì với tất cả sự tận tụy của mình

- Không than thân trách phận, trách móc hay hận thù người khác vì hơn mình hay không giúp mình theo ý mình muốn.

- Không cầu cạnh

- Không tranh hơn thua với người khác về bất cứ chuyện gì trên bất cứ lãnh vực gì nhưng cũng không tự ty hay tự tôn mặc cảm đối với bất cứ ai. Nhưng, mọi việc đều có ranh giới của nó.

- Thông hiểu được kẻ ưa hay ghét mình hay không làm vừa lòng mình

- Phát triển lòng tự tin (Sự tự tin không phải là óc chủ quan)

- Có sự linh thông giữa trần tục và thần thánh

Tùy duyên mỗi người hành Thiền sẽ có những kết quả khác nhau. Có gieo hột thì có cây. Có cây thì có quả. Đó là định luật tất yếu. Đôi khi có nhiều kết quả bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của mình. Thiền giúp cho tôi nhớ nhiều chuyện với chi tiết khá chính xác và đầy đủ. Trong quá khứ tôi không hề để tâm đến Tử Vi, Châm Cứu và Thảo Mộc. Thế mà Thiền đã dẫn tôi đến đó. Tôi hăng say châm cứu và tìm hiểu cây cỏ sau năm 1975 và sớm nổi danh trong việc chữa trị bịnh bằng châm cứu đến nỗi quên rằng mình đang nghèo đói và có thể bị gây khó dễ về chuyện chữa trị này. Trại tỵ nạn là địa điểm cuối cùng nơi tôi chữa trị bịnh bằng châm cứu. Hiện nay mỗi ngày tôi dành 10 giờ đồng hồ để trau dồi sự hiểu biết về cây cỏ trên thế giới để bổ túc cho Thế Giới Thảo Mộc Từ Điển của tôi. Thiền đã giúp cho tôi sự hăng say đó mặc dù việc làm này không mang lại cho tôi một đồng bạc tượng trưng nào. Tất cả những chuyện lạ mà tôi ghi trong quyển Two Hamlets in Nam Bo đều được xem là kết quả siêu hình do Thiền đem lại.

Tôi cổ võ việc đại chúng hóa việc hành Thiền.

Do đâu người Nhật, một dân tộc hoàng chủng, bỏ xa người Trung Hoa, người Triều Tiên và người Việt Nam giữa lúc họ cũng từng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đời nhà Đường (Tang) và họ tiếp thu Phật Giáo Đại Thừa của Trung Hoa qua các sư tăng Triều Tiên?

Thiền được đại chúng hóa ở Nhật. Nó giúp cho người Nhật bình tĩnh trước những thiên tai (động đất, núi lửa, sóng thần, bão tố, băng sơn) gần như thường xuyên trên đất nước họ. Nó giúp cho họ lạc quan về tương lai của đất nước và dân tộc họ nhiều hơn. Thiền trui rèn họ quen đối đầu với những khó khăn trước mắt. Thực tế đời sống ở Nhật rất khó khăn. Bù lại họ có những nhà lãnh đạo cao thượng và can đảm phi thường. Người dân có đủ trí sáng và sự bình tĩnh để cảm thông với người lãnh đạo của mình, để yêu thương quê hương nhỏ hep đầy núi non và rừng xanh của họ. Người Nhật được thế giới thán phục và ngưỡng mộ về sự bình tĩnh, lòng tự trọng, lòng can đảm và sự chân thật nhờ kết hợp Zen và tinh thần võ sĩ đạo (Bushido). Những đặc tính tinh thần trên là sức mạnh hầu như bẩm sinh giúp cho nước Nhật tiến xa về mọi mặt so với các dân tộc hoàng chủng khác đồng châu.

Người Nhật Thiền không phải để cầu an, cầu phước, cầu thần thông, phép lạ hay để vào cõi Niết Bàn sau khi chết. Lợi ích của Thiền là làm gia tăng trí sáng, sự bình tĩnh, óc lạc quan, sự kiên tâm trì chí để tiến đến thành công cho bản thân, gia đình, xã hội và quốc gia nơi cá nhân sinh ra và lớn lên. Người Nhật nói ít làm nhiều. Tinh thần trách nhiệm rất cao. Rất lịch sự nhưng rất bạo khi cần. Người tu Thiền vẫn có nghĩa vụ đối với quê hương của mình. Thiền sư nổi tiếng của Nhật vào thế kỷ XX là Kodo Sawaki (1880- 1965) mồ côi cha mẹ lúc còn trẻ. Ông được một người chú, một tay cờ bạc có vợ có một quá khứ giang hồ không mấy tốt đẹp nuôi. Năm 13 tuổi ông canh giữ một sòng cờ bạc để có tiền sống. Năm 16 tuổi ông đi bộ đến một ngôi đền cổ xây dựng vào thế kỷ XIII với ý định xin tu. Ông không được phép tu mà được thu nhận làm tôi tớ trong đền. Nhờ công việc này mà ông có cơ hội phát triển Thiền (Zen). Năm sau ông được thu nhận cho tu ở đền Daiji-ji. Năm 1904 chiến tranh Nga- Nhật bùng nổ ở Mãn Châu. Sư Kodo phải nhập ngũ vào bộ binh. Sau một trận đánh ông bị thương nặng và bị liệng nằm lẫn lộn với các xác chết sắp đem chôn tập thể. May mắn có người thấy ông còn thở nên cứu ông và đưa về Nhật. Năm 1908 ông trở về chùa tiếp tục việc tu hành. Năm 1935 Thiền sư Kodo Sawaki dạy Thiền ở đại học Kanazawa. Ông mất năm 1965 sau khi truyền tâm ấn cho đệ tử là Taisen Deshimanu để vị này truyền Thiền Đạo sang Âu Châu. Thiền sư Kodo mang biệt danh ‘Kodo Vô Gia Cư’ vì ông không chịu ở trong chùa nào cả. Ông sống phiêu bạt rày đây mai đó để truyền dạy Thiền học cho bá tánh.


****


Tôi đến với Thiền không sư phụ và không trường lớp. Thiền đến với tôi sau khi tôi sắp tốt nghiệp đại học và trải qua những ngày dài mất ngủ. Thiền phát triển mạnh trong 10 năm khổ cực nhất trong đời tôi: 1975- 1985. Thiền đã mang cho tôi một loại hạnh phúc không tên trong cảnh cơ hàn của một người cân nặng không đến 40 ki-lô. Tôi nói như thế như một báo cáo về kết quả của Thiền đối với tôi.

Thế giới càng ngày càng trở nên phức tạp do sự gia tăng dân số, sự phát triển khoa học kỹ thuật mà ra. Đời sống ở các quốc gia kỹ nghệ không dễ dàng. Thị dân tăng; dân nông thôn giảm. Diện tích trồng trọt nhỏ lại nhường chỗ cho khu gia cư, nhà máy, công trường, giáo đường, trường học, chợ búa, bến xe, nghĩa địa v.v.. Người máy thay thế công nhân trong một số công việc nhất định. Nhiều chuyện xã hội gây nhức đầu xảy ra. Sự bức nhiệt của địa cầu làm cho tánh tình con người càng trở nên hung dữ cộc cằn. Loài người sống trong sự de dọa của chiến tranh, nghèo đói, thiên tai, bịnh tật dễ trở nên điên loạn và khủng hoảng tinh thần. Bất luận tôn giáo nào, chủng tộc nào, tuổi tác nào, phái nam hay phái nữ, người nghèo hay người giàu, người có học hay người mù chữ dành mỗi ngày ba phút hay năm phút để cho tâm hồn lắng đọng thì Trái Đất và Nhân Loại hy vọng được cứu  vãn vì tâm nhân loại có hòa bình thì thế giới mới được hòa bình.

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.


 

Trang Phạm Đình Lân

art2all.net