PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

 

THOÁT HIỂM

 


          Lời nói đầu: Xin bạn đọc đừng quá quan tâm đến tựa đề to lớn mà tôi đặt trên đây. Người ta thoát hiểm nhờ tài trí, gan dạ nên sự thoát hiểm được viết thành tiểu thuyết hay dựng thành phim để kiếm tiền. Chuyện thoát hiểm của tôi hoàn toàn không do trí thông minh hay sự gan dạ, liều lĩnh nào của tôi cả. Dù vậy tôi cũng cố gắng nhớ lại và viết ra thành lời để mọi người có thể đọc, suy gẫm và bình phẩm xem nguồn gốc sự thoát hiểm phát xuất từ đâu.


 

Tác giả, gia đình và học trò trong bữa giỗ Vua Quang Trung thời thập niên '80

 


CHUYỆN I
 

          Năm 1975 miền Nam Việt Nam chuyển mình sang một giai đoạn lịch sử mới. Tôi là một trong những người được chọn cho nghỉ việc. Nhưng ngày nào tôi cũng rời khỏi nhà cho đến chiều mới về để dối gạt với chánh quyền địa phương lẫn gia đình như thể tôi vẫn đi làm việc hàng ngày. Tôi cố giữ sự bình tĩnh trong cuộc sống hàng ngày để tránh sự dòm ngó đầy tò mò của người láng giềng. Con cái vẫn đi học bình thường. Hai cháu trai được học nhạc nên trong nhà lúc nào cũng có tiếng đàn và tiếng ca rộn rịp.

Gần hai năm sau ngày nghỉ dạy tôi trở nên quê mùa. Tôi không mang giày mà mang dép. Thận trọng hơn tôi không dám mang dép màu đỏ. Sài Gòn trở nên xa lạ với tôi từ phong cảnh đến con người. Những người tôi quen tản mát khắp nơi. Người thì về quê. Người đi học tập cải tạo. Người đã rời Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 04 năm 1975. Tôi cỡi xe đạp lang thang từ Sài Gòn đến Chợ Lớn không nhằm mục đích gì rõ rệt ngoại trừ việc dối gạt chánh quyền địa phương và gia đình rằng tôi vẫn còn làm việc cho tân chánh phủ cách mạng.

Một hôm tôi gặp một người bạn đồng hương ở Chợ Lớn. Anh bạn này là một thương gia làm ăn với người Hoa trong Chợ Lớn. Gặp tôi anh rất mừng vì anh đinh ninh tôi đã rời Việt Nam vào tháng 04 năm 1975. Anh mời tôi uống cà phê. Trong lúc trò chuyện anh cho tôi biết anh sắp đi Vũng Tàu để bàn chuyện làm ăn. Sẵn dịp này anh mời tôi cùng đi với anh cho vui. Tôi không tò mò tìm hiểu chuyện làm ăn của anh bạn là chuyện gì. Tôi từ chối lời mời của anh bạn vì không biết để xe đạp ở đâu trong thời gian đi Vũng Tàu. Anh bạn tôi thực sự muốn tôi cũng đi với anh ấy. Anh nói:

Anh cứ đi với tôi. Tôi quen nhiều nhà gần đây. Xe đạp của anh sẽ gởi ở nhà bạn tôi gần đây. Từ đó anh và tôi ra bến xe đi Vũng Tàu.”

Sau hai năm cỡi xe đạp bây giờ được ngồi xe đò lớn đi Vũng Tàu tôi cảm thấy thoải mái vô cùng. Vào thời kỳ mà toàn dân ăn khoai lang, khoai mì thay cơm mà được ngồi xe hơi đi Vũng Tàu, một thành phố nghỉ mát hướng ra Thái Bình Dương thì còn gì hạnh phúc bằng. Sau hai giờ trên đường nhựa xe đến Vũng Tàu lúc 06 giờ chiều. Xe chạy ngang đường Trương Công Định. Tôi cố tìm căn nhà của bạn Nguyễn Duy Hy (hiện ở California). Theo các bạn bè thì anh Hy và gia đình đã rời Việt Nam. Tôi nhìn vào nhà anh thì thấy có người trong đó nên đinh ninh lời đồn đãi về anh không đúng. Bạn tôi dẫn tôi đến một khu thuần nhà lá nhưng không thấy người ở. Đến một căn nhà tương đối rộng rãi tôi gặp một người đàn ông lớn hơn tôi lối 04 hay 05 tuổi nói giọng Huế. Ông bắt tay tôi và tự giới thiệu tên ông là T. Theo bạn tôi thì T. là kỹ sư đặc trách chương trình làm ống nước từ Bà Rịa ra Vũng Tàu. T. có nhiều công nhân cùng sống với ông. Ông là một người bặt thiệp và hiếu khách. Ông cho tôi biết ông có nhà thuốc Tây TV ở Sài Gòn. Tôi biết nhà thuốc này trên đường Audouit (Cao Thắng) trước trường tư thục Lê Bá Cang và gần đường Richaud prolongée (nối dài) (Phan Đình Phùng bây giờ là Nguyễn Đình Chiểu). Lúc ấy đường Richaud prolongée chỉ đến đường Audouit chớ chưa kéo thẳng đến đường Hui Bon Hoa (Lý Thái Tổ sau này). Tôi không biết kỹ sư T. nhưng tôi biết nhà thuốc T.V này và còn nhớ rõ tên hiệu nhà thuốc màu xanh lá cây rất tươi. Hướng về đường Chasseloup Laubat (Hồng Thập Tự) có rạp hát Việt Long nơi Hùng Cường lần đầu tiên được biết đến nhờ diễn tả xuất sắc bài Ông Lái Đò.

Tôi nói chuyện với ông T. vài phút thì xin phép ra thăm người bạn già của tôi trên đường Trương Công Định. Gọi như thế cũng không sai vì anh Hy lớn hơn tôi 07 tuổi. Thỉnh thoảng anh vào Sài Gòn bằng chiếc xe 2 CV của anh. Lòng tôi phấn khởi vì sẽ gặp lại bạn già sau 05 năm xa cách. Tôi có một lô chuyện để nói với anh.

Đến nơi, tôi gõ cửa. Một người đàn ông khoảng 50 tuổi, da ngăm đen mở cửa. Ông hỏi:
Kiếm ai?”.

Cách hỏi thiếu chủ từ và giọng nói của ông làm cho tôi giật mình. Tôi cố giữ bình tĩnh vì bạn Hy của tôi người miền Bắc, ông chủ nhà này nói giọng Nam. Bạn tôi không thể có một thân nhân hỏi xẳng giọng như ông này được. Tôi tự nhủ: “Hay là ông này là người của Mặt Trận?”

Tôi bình tĩnh hỏi lại ông:

“Thưa có phải đây là nhà của anh Nguyễn Duy Hy không ạ?

“Không phải. Nhà của tôi.” Ông đáp.

Tôi hơi bối rối nhưng cố không để cho ông ấy biết được. Tôi chưa kip nói gì thì ông ấy hỏi tiếp:

Anh là ai? Kiếm thằng Hy làm gì?

Tôi là bạn dạy học của anh Hy. Tôi đến để thăm anh ấy.” Tôi đáp.

“Anh ở đâu? Dạy học ở đâu?” Ông chủ nhà hỏi.

“Tôi dạy học ở TP Hồ Chí Minh.” Tôi đáp.

“Ra đây làm gì?” Ông ấy hỏi

Nguy quá câu này là nguồn gốc của sự rắc rối đang chờ tôi. Tôi bình tĩnh đáp:

“Bây giờ nghỉ hè nên tôi ra thăm một người bạn nhân tiện ghé thăm anh Hy.”

Tôi không biết thằng Hy. Nó chạy theo Mỹ rồi. Tôi thấy tên nó trên đồng hồ điện chớ không biết nó.” Ông chủ nhà mới nói. Ông tiếp tục hỏi tôi:

Anh ra đây ở nhà ai?

“Ở nhà của người bạn ở đàng kia.” Tôi vừa nói vừa chỉ bâng quơ và cố tránh nói tên của kỹ sư T.

Thấy tôi có vẻ thành thật, cái thành thật của một nhà giáo, ông chủ nhà hỏi:

“Anh thấy giáo dục cách mạng như thế nào?

Rất hay. Nếu không hay làm sao thắng đế quốc Mỹ sừng sỏ được.” Tôi đáp ngắn gọn dù hơi leo lề một chút.

Ông chủ nhà gật đầu có vẻ đắc ý lắm. Riêng tôi suy nghĩ không biết làm sao ra khỏi chỗ này. Tôi ngó ra sân thấy có mấy cây sống đời. Như gặp bài tủ tôi nói huyên thiên về đặc tính trị liệu của loài dược thảo này. Ông chủ nhà lắng nghe và có vẻ thích thú về những điều tôi vừa nói hình như đúng với vài căn bịnh mà ông có trong thời gian sống trong chiến khu. Ông pha trà cho tôi uống và nói nhiều về thú UTQ (uống trà quạo) với đường tán trong thời kỳ võ trang chiến đấu của ông. Tôi khấp khởi trong lòng và chờ giây phút thuận lợi để rời khỏi căn nhà này.

Trong lúc ông chủ nhà và tôi uống nước trà và trò chuyện thì có một thanh niên đội nón tai bèo và cỡi Vespa vào nhà. Ông chủ nhà cho biết người ấy là con trai của ông. Ông chủ nhà nhìn con và nói:

“Anh bạn này nói cây sống đời trị được nhiều bịnh.”

Người thanh niên mặt hầm hầm vào nhà mà không để ý gì đến lời nói của cha anh như nhắc khéo cha anh ta về lằn ranh Bạn- Thù đối với tôi. Tôi thấy không khí ngột ngạt và nóng bừng lại thêm cái nóng của nước trà khiến cho áo tôi ướt đẫm mồ hôi. Tôi phải chuyển sang chủ đề trà để tìm đường rút lui. Trước khi từ giã ông chủ nhà tôi không quên khen trà của ông và nhắc ông về tính năng trị liệu của cây sống đời (trường sinh).

Tôi đi bộ một cách nặng nhọc về căn nhà lá của kỹ sư T., lo lắng lẫn hối hận. Lo lắng vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra đêm hôm ấy. Hối hận vì nếu có chuyện gì bất lành xảy ra thì tôi mang tai vạ cho gia đình tôi lẫn kỹ sư T. Tôi lâm râm khấn nguyện trên đường đến nhà kỹ sư T.

Về đến nơi tôi thấy căn nhà đầy khói nhưng kỹ sư T. ngồi ngoài cửa chờ tôi về để ăn cơm. Thì ra kỹ sư T. cho hun khói để xua đuổi muỗi cho bạn tôi và tôi được ngủ yên vì không có mùng. Tôi xin lỗi kỹ sư T. về sự việc xảy ra và nghĩ rằng công an sẽ xét xóm nhà lá này khi đêm đến. Kỹ sư T. trấn an tôi và mời tôi dùng cơm với ông. Ăn cơm xong ông ra lịnh cho hai công nhân dẫn bạn tôi và tôi đến một khu nhà lá khác cách đó khoảng 500 m để ngủ. Vì mệt mỏi tôi ngủ ngon lành. Không việc gì xảy ra đêm ấy. Sáng dậy hai chúng tôi vội vã ra bến xe để về Sài Gòn không kịp từ giã kỹ sư T. Thế là tôi có một chuyến đi Vũng Tàu vô nghĩa. May mắn là không bị bắt oan vì bị nghĩ đi vượt biên. Cho đến ngày nay cả gia đình tôi cũng chưa biết chuyện thoát hiểm buồn tênh này. Có ngờ đâu cây sống đời đã làm cho người tiếp quản nhà của bạn Hy bớt hung hăng khi hạch hỏi tôi đủ thứ. Không biết tôi có nét dễ ghét, dễ hận thù gì mà con ông hầm hầm không nhìn tôi mặc dù tôi chờ anh ta nhìn tôi để gật đầu chào hỏi.

Hy vọng kỹ sư T. đọc được bài này để gặp lại và nói chuyện nhiều hơn. Chắc chắn ông không nhớ chuyện nhỏ này, cũng không nhớ người chỉ nói chuyện với ông vài phút lại vội vã trở về Sài Gòn như để tránh sự dòm ngó, theo dõi của cha con người tiếp quản ngôi nhà của bạn Hy. Tôi định viết lại chuyện này nhiều lần nhưng lại quên hay vì không có thì giờ. Vừa rồi đọc một bài viết thấy có một cô giáo tên T.V đúng với tên bảng hiệu nhà thuốc T.V mà kỹ sư T. nói với tôi. Bản thân tôi biết nhà thuốc ấy lúc còn là một học sinh trung học. Âu cũng là cái duyên. Tên T.V của một cô giáo Huế nào đó nhắc cho tôi về chuyện người đã qua đời tôi: kỹ sư T.
 


CHUYỆN II
 

          Chuyện thứ II xảy ra một năm sau chuyện I. Lần này không được may mắn như lần trước vì chuyện có vẻ nghiêm trọng hơn.

Tôi quen với NKL, một nhà giáo gốc ở Kim Long, Huế. L. là một nhà giáo và một nhạc sĩ theo đạo Thiên Chúa Không biết anh có thích cờ bạc hay không mà các con anh có tên riêng như Cơ (Coeur), Rô (Carreau), Bích (Pique). L. và vợ rất hiếu khách. Ba người con trai của anh rất lễ độ. Vì vậy, tuy mới quen, tôi rất thân thiện với anh. Thỉnh thoảng đi Sài Gòn tôi thường ghé thăm anh và gia đình ở Thị Nghè.

Một ngày mùa đông tôi đến thăm anh thì thấy ba người con trai của anh buồn bã. Tôi hỏi ba các cháu có ở nhà không thì các cháu im lặng không trả lời mà còn bỏ chạy xuống nhà sau. Một thanh niên chạy ra nắm xe đạp tôi và kéo vào nhà. Tôi biết ngay có chuyện bất lành. Người thanh niên ấy nói:

“Vô đây! Anh muốn kiếm ai?”

“Tôi đến thăm bạn L.”  Tôi đáp.

“Thằng L. bị bắt rồi!”  Người thanh niên nói một cách cộc lốc.

Tôi cảm thấy choáng váng mặt mày. Lần này khó thoát khỏi cảnh tù tội. Thời bấy giờ chánh quyền không có cảm tình với tôn giáo nhất là Thiên Chúa Giáo. Lúc ấy lại có tin đồn linh mục Vàng vận động với LHQ lên án nhà cầm quyền Cộng Sản ở Việt Nam. Đó chỉ là tin đồn chớ không ai biết hư thực ra sao cả. Tôi lại càng mù tịt vì ở nhà quê và không đọc báo cũng không nghe đài BBC hay VOA. Ở nước ta tin đồn muốn được tin thường phải dựa vào BBC, VOA , đài Á Châu Tự Do hay các bài bình luận trên Viễn Đông Kinh Tế Thời Báo (Far East Economic Review).

Một người công an khác đưa cho tôi vài tờ giấy trắng và bắt tôi viết lý lịch. Tôi viết xong bản lý lịch thì trời sụp tối. Tôi nhìn thấy vợ anh L và ba người con trai ăn cơm. Không ai nói một lời. Có lẽ đó là bữa cơm buồn đầu tiên trong nhà vì vắng bóng anh L. Bên ngoài không có tiếng trẻ nít đùa giỡn hay tiếng động cơ xe hơi, xe gắn máy vì không ai đủ tiền mua xăng để chạy xe có động cơ.

Người công an đọc bản khai lý lịch của tôi và hỏi:

“Anh đạo gì?”

“Không rõ ràng lắm. Nhưng tôi Thiền.” Tôi đáp.

“Phật Giáo?” Người công an hỏi.

“Có thể xem như vậy mặc dù tôi không ăn chay, không đến chùa, không có pháp danh và không có vị sư nào cả.” Tôi đáp.

“Tai sao anh dạy trường Thiên Chúa Giáo?” Người công an hỏi.

“Trường cần thầy dạy. Tôi cần chỗ dạy để có tiền. Ai mướn thì tôi dạy. Tôi có dạy trường Phật Giáo và Cơ Đốc Giáo nữa.” Tôi đáp.

“Anh đến gặp thằng L. để làm gì?” Người công an hỏi.

“Trước là để thăm anh ấy. Sau đó xem anh có thể giúp tôi một chỗ dạy kèm.” Tôi đáp.

Người công an như đã hết ý để đặt câu hỏi. Anh ta xét cái cặp của tôi và thấy một cuốn sách Toán bằng tiếng Pháp của Lebosse và cuốn sách Thiền đúng như lời tôi nói. Sau này tôi mới biết tôi đến nhà anh L. sau khi anh bị bắt và công an thành phố có tin một nhóm người Thiên Chúa Giáo chống chánh quyền họp ở nhà anh L. Ho nói rất nhiều về Cha Vàng. Thú thật cho đến bây giờ tôi cũng không biết đó là vụ gì hay chánh quyền cố dựng chuyện để dễ bề đàn áp Thiên Chúa Giáo.

Khoảng 08 giờ tối một thanh niên vào nhà và lớn tiếng hỏi:

“Học đờn bao nhiêu một tháng vậy?”

Một người công an nhảy ra nắm tay người thanh niên và hỏi:

“Kiếm thằng L. làm gì?”

“Thằng L. nào?”  Người thanh niên hỏi ngược lại.

“Giả vờ phản động hả?”  Người công an nói.

“Cái gì phản động?”  Người thanh niên bực tức hỏi lại.

“Chớ kiếm thằng L.làm gì?”  Người công an hỏi gằn.

“Tôi không biết thằng L. nào cả. Tôi thấy giấy quảng cáo dán ở đầu đường cho biết ở đây có dạy nhạc nên đến hỏi học phí hàng tháng là bao nhiêu. Vậy thôi chớ có làm gì mà phản động?”  Người thanh niên nói một cách bực tức.

Người công an không nói gì thêm mà đưa cho người thanh niên vài tờ giấy trắng và bắt anh ta ngồi xuống viết lý lịch.

Người thanh niên càu nhàu nói lẩm bẩm: “Viết lý lịch là viết cái gì?”. Đẩy sang tôi anh ta nói:

“Chú ơi! Chú làm ơn viết giùm cháu.”

“Không được đâu. Cháu tự viết đi.” Tôi nói.

“Viết cái gì vậy chú?”  Người thanh niên hỏi.

“Viết ngày, tháng, năm sinh. Học lớp mấy? làm nghề gì từ năm nào đến năm nào? v.v.”  Tôi nói.

Người công an hất mặt hỏi người thanh niên:

“Học lớp mấy?”

“Lớp 9.” Người thanh niên đáp.

“Học lớp 9 sao không biết viết lý lịch?” Người công an nói bằng một giọng khinh rẻ.

Người thanh niên học đờn cắm cúi viết lý lịch. Viết khoảng 10 dòng anh đưa bản lý lịch cho người công an. Người công an thứ hai hỏi tôi:

“Anh có tiền không?”

Tôi hơi ngạc nhiên về câu hỏi này nhưng vẫn phải trả lời.

“Có”. Tôi đáp.

“Bao nhiêu?” Người công an hỏi.

“10 đồng” (10 x 500: 5,000 tiền VNCH) Tôi đáp.

“Anh đưa tiền để tôi đi mua bánh mì cho anh ăn.” Người công an nói.

Tôi đưa cho anh ta $10 và tự nghĩ rằng tôi hiện thuộc chế độ người tù tự túc tiền cơm.

“Chú ơi! Cháu cũng đói bụng nhưng cháu không có tiền. Chú mua luôn cho cháu được không?” Người thanh niên hỏi.

“Được.” Tôi đáp

Người công an ra ngoài mua hai ổ bánh mì về cho tôi và người thanh niên ăn. Ăn xong tôi không được phép xuống nhà dưới của anh L. để xin nước uống. Người công an lấy hai ly nước cho chúng tôi uống. Vài phút sau điện thoại reo. Sở Công An Thành Phố ra lịnh cho công an đang canh giữ nhà anh L. trả tự do cho người thanh niên nhưng phải giữ tôi lại đó cho đến khi có lịnh mới. Tôi thấm mệt và buồn ngủ. Một người công an còng tay tôi vào thành ghế sa- lông trong phòng khách của nhà anh L. Tôi ngủ trên chiếc ghế đó. Hai người công an ngủ dưới đất. Họ nói chuyện với nhau về những cuộc bắt bớ, săn đuổi phản động ở Thủ Đức và tài thiện xạ của họ như để đe dọa tôi. Tôi mệt quá nên không suy nghĩ gì nữa mà chỉ muốn ngủ cho say để quên đi cảnh mất tự do và cuộc đời có thể đen tối hơn trong những ngày sắp tới. Hai người công an lên đạn và dặn tôi có muốn sử dụng nhà vệ sinh phải thông báo cho họ biết. Nếu bất tuân họ sẽ nổ súng. Tôi không quan tâm đến những lời nói đầy dọa nạt của họ mà nhắm mắt ngủ một giấc ngon lành như không hề xảy ra chuyện gì cả. Giữa đêm (không rõ mấy giờ vì không có đồng hồ) tôi thấy Chúa Jesus mặc áo trắng toát đặt tay Người lên tay tôi và bay từ từ lên ba tầng mây đen nghịt trông như một biển đen mênh mông. Đám mây đen cuồn cuộn như sóng biển trước cơn gió lớn làm cho tôi sợ quá. Tôi giật mình mở mắt ra thì thấy đèn trong phòng khách sáng choang; hai người công an còn ngáy ngủ. Tôi mừng thầm. Đây là lần thứ hai kể từ năm 1965 tôi gặp Chúa Jesus. Tôi biết tôi sắp thoát nạn nhưng phải gặp 03 năm đen tối như ba tầng trời mây đen mà tôi đã thấy.

Sáng sớm hôm đó Sở Công An Thành Phố điện thoại cho công an canh giữ nhà anh L. cho tôi được tự do nhưng phải giữ tất cả giấy tờ của tôi và mỗi thứ tư hàng tuần tôi phải trình diện ở Sở Cảnh Sát Thành Phố trên đường Trần Hưng Đạo. Tôi trở thành đối tượng theo dõi và điều tra tại tỉnh Sông Bé (Bình Dương) và Sở Công An Thành Phố Hồ Chí Minh. Điều may mắn là hai ngành công an hai nơi không liên lạc nhau. Nếu họ liên lạc thì địa phương có cớ để bắt và tịch thu nhà cửa của tôi như tôi đã mất xe cộ ngay sau ngày VNCH sụp đổ. Đó là lúc đức tin của tôi lại lên cao thay vì mất tinh thần. Điều dễ hiểu là tôi không có chỗ dựa nào nữa ngoại trừ Thượng Đế. Tôi không hưởng ân lộc gì dưới chế độ VNCH bây giờ tôi là người được chọn để chia lỗ sau khi VNCH thua trận. Hình ảnh của ông Job trong Cựu Ước Kinh như sống dậy trong tôi. Tôi không sợ sệt gì khi công an điều tra và tìm cách gài bẫy để đưa tôi vào ngục tù. Tôi có ý nghĩ ngộ nghĩnh trong đầu là tôi có khổ nhưng không khổ hơn ông Job.

Người công an điều tra tôi ở thành phố có vẻ là người có học từng hoạt động trong vùng Sài Gòn- Chợ Lớn- Gia Định. Trình độ của anh này cao hơn người công an Bảo Vệ Chánh Trị tỉnh Sông Bé (Bình Dương), tỉnh sinh quán của tôi. Vì có học và hiểu biết anh ta tỏ ra lịch sự với tôi nhưng lúc nào cũng có nhiều thủ đoạn chận đầu khá điêu luyện như:

- anh ta biết nhiều về tôi

- anh ta có dạy chung tư thục với tôi nhưng ở cấp đệ nhất cấp nên anh ta biết tôi mà tôi không biết anh ta

- em gái của anh ta là học trò của tôi. Cô ta rất mến mộ tôi v.v.

Ở tỉnh sinh quán của tôi người công an thường gặp tôi trở nên hòa nhã với tôi sau khi tôi chữa cho anh ấy hết đau lưng bằng châm cứu. Anh chở tôi đi uống cà phê khiến cho người quen của tôi ngạc nhiên và hoài nghi lo sợ. Sau đó một người công an khác được chỉ định đến điều tra tôi hàng tháng để tìm hiểu xem tôi sống như thế nào? giao thiệp với ai? về chuyện gì? có ý định vượt biên không? v.v. Vụ Võ Đại Tôn bị bắt cũng làm cho tôi khốn đốn mặc dù tôi không biết gì về Võ Đại Tôn! Xã nơi tôi cư ngụ mời tôi nói chuyện về châm cứu và Nam dược và xác định sinh quán của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu v.v. Người ta bớt gay gắt với tôi khi thấy tôi xơ xác, da đen như than; mắt bắt đầu yếu; người cân nặng không quá 40 ki- lô; ai rủ vượt biên cũng khước từ khéo léo nhưng cương quyết.

Sau 05 năm (5 x 52: 260 lần trình diện) giữ giấy tờ của tôi để điều tra nhưng không tìm được nguồn tin gì đặc biệt, người công an điều tra ở TP Hồ Chí Minh dẫn tôi ra gốc cây dầu trước Sở Chữa Lửa trên đường Trần Hưng Đạo trả lại giấy tờ cho tôi và xin lỗi đã làm phiền tôi suốt 05 năm không có giấy tờ gì trong người cả! Tôi có cảm giác đã thấy địa ngục khi đạp xe từ Lái Thiêu xuống Thành Phố Hồ Chí Minh để trả lời những câu hỏi vô hồn đã có từ buổi đầu! Vậy mà lúc 09, 10 tuổi tôi có mộng làm coureur như Lê Thành Cát, Nguyễn Văn Thêu và Lưu Quần. Ở tuổi 10 tôi cũng từng vào phòng tra khảo của Phòng Nhì Pháp (Deuxième Bureau) ở Phú Long, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, vì dẫn hai người bạn (Sâm và Pierre) đi chiến khu. Trong khi chờ đợi bị tra khảo thì có một ông ‘ách’ (adjudant) tên D. (sau này làm việc cho Quan Thuế Sài Gòn) đến và nói: “Nó là con nít biết gì mà hỏi và khảo nó!”. Câu nói của ông đã giải phóng tôi khỏi phòng tra khảo và cứu tôi khỏi những đòn tra tấn khủng khiếp mà những người từng bị bắt và tra khảo phải mua cua đồng về giã và vắt nước uống để làm tan máu bầm! Mộng tuổi xanh tan biến. Tuổi trung niên chua chát, ê chề trong thời kỳ cả nước uể oải tiến lên xây dựng một xã hội ‘thiên đàng’ đẫm mồ hôi và nước mắt! Về già hồi tưởng và viết lại để cám ơn những người đã qua đời tôi dù chỉ một lần. Những người ấy không biết tôi cũng không nhớ đã làm gì cho tôi. Riêng tôi vẫn nhớ ơn và dùng những dòng chữ này để cảm ơn anh L., ‘ách’ D. và kỹ sư T.
 

 

CHUYỆN III

        Người bịnh kinh niên quen dần với cơn bịnh. Tôi quen dần với cảnh cơ hàn nghèo khổ của người mất tự do và quyền sinh sống. Tôi tìm hạnh phúc trong việc chữa trị bịnh cho những người đồng cảnh ngộ như tôi bằng châm cứu trị liệu miễn phí, một việc làm vừa không có tiền vừa dễ bị chánh quyền dòm ngó. Tôi bỏ ngoài tai chuyện vượt biên vì không còn tiền và vì công an địa phương theo dõi và kiểm soát tôi chặt chẽ. Không ngờ cái nghèo lại là cái áo giáp che chở cho an ninh bản thân tôi.

Mỗi ngày hai buổi các học sinh người Hoa luân phiên nhau đến nhà chở tôi đi uống cà phê sáng và tối. Thỉnh thoảng vài cựu học sinh Lý Thường Kiệt và Thánh Liêm sang thăm và dự giỗ Quang Trung với gia đình tôi. Dù nghèo tôi vẫn không quên đám giỗ này mặc cho chánh quyền có theo dõi hay không. Dù vậy giỗ Quang Trung vẫn tươm tất như trước vì trước đám giỗ lúc nào tôi cũng có những tặng phẩm bất ngờ ngoài sự mong đợi. Đó là chuyện siêu hình không đủ giấy mực để nói dông dài trong những trang giấy chật hẹp này được.

Anh và em tôi học tập cải tạo về. Tôi biết tâm trạng người học tập cải tạo vừa được tự do thì muốn vượt biên vì đã chán ngán cuộc đời trong trại tập trung cải tạo lao động nên tôi khuyên ngăn: “Chúng ta đang trả nghiệp khá nặng. Nghiệp ấy như một đám cháy lớn. Bây giờ ngọn lửa đã tắt nhưng hơi nóng dưới gốc vẫn còn. Người bị nghiệp chướng giống như người té dưới sình. Càng quậy càng lún sâu. Cứ đứng im cho người đi ngang qua tri hô cho người khác đem sào đến cứu.” Tôi bình tĩnh trước cái khổ trước mặt vì trước Tết năm 1975 tôi có nói với em tôi lúc hai anh em cùng trên đường đến trường Bồ Đề Bình Dương rằng tôi sẽ gặp 10 năm thống khổ thậm chí có ngày bị chết đói nữa. Em tôi hoàn toàn không để ý đến chuyện này và xem đó như một sự cường điệu dẫu biết rằng tôi là người chưa cường điệu hóa chuyện gì hay nói ngược lại với tâm và với điều mình hiểu biết. Thời gian 1975- 1985 đã xác minh cho lời nói ấy và tôi bình tĩnh chấp nhận những gì đến với tôi. Anh tôi biết tôi nhiều hơn em tôi mặc dù em tôi là em và là học trò do tôi đào tạo. Em tôi bồn chồn tìm đường vượt biên và bị bắt khi mới qua khỏi cầu Phan Thanh Giản! May nhờ khai học lớp 7 và chạy một ít tiền nên sớm được tự do.

Từ một người an phận và thúc thủ tôi quyết định vượt biên trước sự ngạc nhiên của anh và em tôi. Khi anh và em tôi hỏi tôi chỉ trả lời vắn tắt: “Năm nay nếu tôi đi thi thì sẽ đậu.” Trước khi tôi quyết định có vài điềm lạ xảy ra:

1. Tết năm 1985 hoa mai của tôi nở từ 06, 08 đến 10 cánh. Anh tôi thấy vậy vội chạy về Sài Gòn xem cây mai của anh ra sao. Kỳ diệu thay! Mai của anh tôi cũng có 06, 08 hay 10 cánh. Anh tôi kiên nhẫn đạp xe về Lái Thiêu thông báo cho tôi tin vui này.

2. Tôi được nghe tiếng gọi lập đi lập lại bên tai: “Kim điền Toledo! Kim điền Toledo!”. Khi thuật lại vợ tôi nhạo tôi và nói rằng tôi mơ tưởng mới nghe như vậy.

3. Trong bài Thánh Thi của đức Quán Thế Âm Bồ Tát gởi cho tôi có câu: “Nhớ rằng Nhâm, Ất qui khôi....Bước Tây Phương lãnh lịnh tiền duyên v.v” (Năm tôi rời Việt Nam là năm ẤT SỬU (1985)

4. Câu hỏi của người chị vợ của người bạn ấu thời làm rể phụ trong đám cưới của tôi: “Sao chú còn ở đây? Không sống nổi đâu!” Một học sinh cũ của tôi ghé Cư Xá Đô Thành thăm tôi năm 1969 sau khi trải qua một trận bom đạn hãi hùng vào năm Mậu Thân. Em ấy nói: “Trong giây phút gần kề Tử Thần em nhớ lời thầy nói về cuộc thi gan giữa bom đạn và tinh thần chịu đựng.” Sau năm 1975 nghe nói em ấy có chút danh phận trong tân chế độ. Nhưng em nhắn với bạn học của em đến gặp tôi và khuyên tôi nên tìm cách rời khỏi Việt Nam.

5. Câu hỏi của một người gốc Hoa từng dạy Lý Hóa ở Rạch Giá khi uống cà phê với tôi và bạn của anh ấy là Lưu Minh, một học sinh người Hoa rất thân thiện với tôi hiện ở Canada, như sau: “Đã 10 năm rồi. Các trại ty nạn DNA sắp đóng cửa. Thầy không tính đi sao thầy?”

6. Sự suy tính ban đầu của tôi là để cho con trai trưởng của tôi đi mà thôi. Do đó tôi đặt cọc trước cho con tôi. Chị dâu tôi (chồng đã mất) thuyết phục tôi phải đi. Chị nói thẳng rằng chị cần sự có mặt của tôi trong chuyến đi vì gia đình và thân nhân của chị có 09 người đi trong chuyến đi này. Khi tôi chấp nhận vượt biên với chị dâu tôi thì anh tôi nói: “Chú đi anh cũng đi nữa.” Sự quyết định của anh tôi lúc ấy chỉ có tôi và chị dâu tôi biết mà thôi. Vợ và con của anh tôi không hay biết gì cả.

Trong thời gian lo chuyện vượt biên cho con tôi, tôi ở nhà anh tôi. Anh tôi có 08 người con. Gia đình anh sa sút trầm trọng sau năm 1975. Đi học tập về anh bị phường quản chế và theo dõi. Trong nhà có hai tân ‘hiệp sĩ’ suốt ngày chỉ ở trên ‘attic’ và chỉ xuất hiện ban đêm ra ngoài hút thuốc và hưởng chút gió mát.

‘Hiệp sĩ’ thứ nhất vượt biên hai lần và bị bắt hai lần đưa vào trại cải tạo ở miền duyên hải gần Vũng Tàu. Cả hai lần đều trốn trại. Cuộc trốn trại lần thứ nhất không nguy hiểm bằng cuộc trốn trại lần thứ hai. Lần này ‘hiệp sĩ’ trốn trại với một người cải tạo khác. Bị phát giác cả hai đều bị bắn. Người tù cải tạo bị trúng đạn chết; ‘hiệp sĩ’ của chúng ta chạy thoát và tìm đường về nhà. Lúc ấy ‘hiệp sĩ’ mới học lớp 8. ‘Hiệp sĩ’ thực sự là một người thông minh dồi dào óc duy lý, ham đọc sách và có năng khiếu ngôn ngữ. Sống quanh năm trên ‘attic’ ‘hiệp sĩ’ luyện truyện võ hiệp Kin Yung (Kim Dung), học tiếng Anh và cả tiếng Đức nữa. Khi sang Hoa Kỳ ‘hiệp sĩ’ thừa sức học đại học và lấy BS hạng Magna Cum Laude.

“Hiệp sĩ’ thứ hai cũng vượt biên bị bắt và chỉ trốn trại cải tạo một lần. Về nhà sống trong cảnh ‘ngày lặn đêm xuất’. Một đêm ‘hiệp sĩ’ gây lộn với một du kích phường và đánh nhau với người thanh niên có võ trang súng AK khiến chị dâu tôi phải khăn gói lên phường ký thỏa ước hòa bình bằng một ít quà cáp để mua sự yên thân.

Thấy tôi ngủ lại nhà của anh tôi mà không trình báo, công an phường khám xét nhà anh tôi giữa đêm. Họ xét từng phòng. Hai ‘hiệp sĩ’ bình yên vì ở trên ‘attic’. Đến phòng tôi ngủ tôi giả vờ ngủ say. Họ không khám xét và bỏ ra về trước sự cám ơn của anh tôi.

Tôi đạp xe về Lái Thiêu thông báo cho vợ tôi biết về ngày giờ khởi hành của con tôi. Tôi cũng cho vợ tôi biết nhóm tổ chức vượt biên có nhận cho tôi và anh tôi cùng đi chuyến của em và con tôi hay không. Vắng nhà vài ngày La C. than: “Thầy đi đâu mấy bữa nay em không uống cà phê vì không có thầy.” Tôi phải đi uống cà phê với La C. Lưu Minh biết tại sao tôi vắng mặt. Khưu Quang (hiện ở Hoa Kỳ) chạy lại chở tôi đi uống cà phê tận Cầu Ngang. Trời trưa nắng nóng nực khó chịu. Đến nơi nhà hàng đóng cửa. Quang phải chở tôi đi nơi khác. Tôi không thể từ chối lời mời của các em học sinh người Hoa này mặc dù thời gian rất hạn hẹp. Quang vừa chở tôi về đến nhà thì P., con của người bạn già cho tôi đất cất nhà tại thành phố Lái Thiêu vào nhà ngay lúc trời mưa như thác đổ. P. nói: ”Ba con bịnh nặng. Ba con không chịu đi đâu cả. Ba nói chỉ nhờ cậu Sáu lên chữa thôi chớ không nhờ ai cả.” Tôi đành phải sửa soạn để châm cho người bạn già phá sản bị bịnh suyễn rất nặng. Cơn bịnh của anh như đã giảm khi anh vui mừng thấy tôi sốt sắng đến chữa trị cho anh. Chữa xong tôi chuẩn bị ra về thì vợ anh chặn lại và nói: ”Cậu làm gì mà vội vã dữ vậy. Tôi có nấu chè. Cậu ăn chè rồi đi đâu thì đi.” Tôi đành phải từ chối vì phải về nhà chuẩn bị lên đọc điếu văn chỗ ông Phan K. T tức Phan Văn T., em của một cựu thủ hiến Trung Việt thời quốc trưởng Bảo Đại, theo lời yêu cầu thiết tha của ông khi còn sống. Ông Phan K.T bị lãng tai và được tôi chữa khỏi bằng châm cứu. Ông bắt chước Lục Vân Tiên khi gọi tôi là ‘tôn sư’ sau khi biết tôi chữa cho ông Long bị stroke, câm và nằm chờ chết trở lại đời sống bình thường; ông Nhỏ ễnh lưng đã thẳng lại và đi đứng bình thường; chú Thơm bị hở valve tim bị thầy chạy đã được cứu sống và sinh hoạt ngoài chợ bình thường; anh hai Dực, thợ mộc, bị còng lưng đã ngay lưng lại và bản thân ông T. lãng tai đã nghe lại trước khi chết vì bịnh già v.v. Đọc xong tôi đốt bản điếu văn và vái lạy ông T. rồi từ giã ra về (ông T. theo đạo Thiên Chúa). Về đến nhà thì em vợ của tiệm chụp hình Tân Quang mang một giỏ trái cây đến tặng tôi và chúc tôi ở lại bình an vì ngày hôm sau anh ra phi trường Tân Sơn Nhứt để đi Canada đoàn tụ với con.

Tối hôm đó trời tối và nóng nực vô cùng vì trời sắp mưa lại không có điện. Dưới ánh đèn dầu leo lét hai vợ chồng ngồi bàn kế hoạch cho ngày hôm sau: con trai tôi cỡi xe đạp đi Sài Gòn trước. Lối 05 giờ chiều tôi mới rời Lái Thiêu. Hai vợ chồng bàn bạc cả đêm và đó có thể là đêm cuối cùng tôi ở nhà nếu nhóm tổ chức chấp nhận cho anh tôi và tôi cùng đi với em và con tôi. Tôi thấm mệt và chuẩn bị đi ngủ thì có tiếng đập mạnh vào cổng kèm theo tiếng nói chát chúa của trưởng khu: “Có ai ở nhà không?”. Tôi cho rằng trưởng khu thấy tôi vắng mặt mấy ngày nên tìm cách theo dõi và kiểm soát tôi. Tôi mở cửa ra ngoài và đứng bên trong cổng. Tôi cất tiếng hỏi:

“Có chuyện gì không anh hai?”

“Ngày mai con anh lên xã trình diện khám nghĩa vụ quân sự.” Người trưởng khu truyền lịnh miệng giữa đêm khuya.

“Cám ơn anh hai.” Tôi nói và quay vô nhà.

Hai vợ chồng chúng tôi ngồi bàn xem con chúng tôi nên đi trình diện hay không đi vì, theo kế hoạch đã định, tôi và con tôi sẽ đi Sài Gòn vào trưa và lúc 05 giờ chiều ngày hôm sau. Tôi dặn con tôi cứ trình diện và cứ lên đường đi Sài Gòn như đã hoạch định vào buổi trưa. Nếu không trình diện và lỡ chuyến đi thất bại thì chuyện sẽ rắc rối hơn nhiều. Bàn xong tôi đi ngủ.

Sáng hôm sau con tôi đến xã để trình diện. Chờ hoài cũng không thấy ai đi trình diện như cháu. Cũng không thấy bác sĩ, y tá khám sức khỏe cho thanh niên thi hành nghĩa vụ quân sự. Một nhân viên trong xã hỏi con tôi chờ ai? Nghe con tôi trình bày sự việc nhân viên này nói: “Về đi! Không có khám nghĩa vụ quân sự gì hôm nay cả.” Vậy là người trưởng khu có dụng ý gì khác khi truyền khẩu lịnh vừa rồi.

Con tôi rời khỏi nhà sau khi ăn cơm trưa xong. Đến 05 giờ chiều tôi xách giỏ châm cứu đạp xe về hướng Sài Gòn. Đến Vĩnh Phú một người quen chận xe tôi lại và nói: “Tôi thấy anh chạy ngang qua đây vài ba lần nhưng kêu anh không nghe. Anh vô đây. Tôi có mua một trái mít đặc biệt cho anh. Anh chở nó về.” Tôi viện lẽ đi chữa bịnh cho một thân nhân của một người học trò nên không thể chở trái mít theo được. Tôi cảm thấy bứt rứt vì phải nói láo với một người thành thật và ưu ái đến mình. Người quen này là ai? Thú thật tôi không biết tên ông ta. Ông ta biết và làm quen với tôi trong trường hợp sau đây:

Theo người bạn ấu thời của tôi thì ông là đại tá CS phục viên về cất nhà ở Vĩnh Phú. Ông đào ao nuôi cá và học làm guốc với Ngô T.N., một chủ hãng sản xuất guốc nổi tiếng tại địa phương. N. là một nghệ sĩ. Anh đàn rất hay và vẽ các kiểu guốc phụ nữ được phụ nữ vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và Biên Hòa ưa chuộng. N. đào hoa và khá giả. Nhà có xe hơi, đàn piano và nhiều loại nhạc khí. Anh dạy nghề cho vị đại tá phục viên này cùng nhiều người trước kia khá giả nhưng bị cấm hành nghề cũ sau năm 1975. Vợ N. vượt biên. Anh không đi đâu cả và cũng không cần vợ bảo lãnh. Với vẻ đào hoa và cuộc sống tươm tất dù trong hoàn cảnh khó khăn chung sau 1975 anh không sợ sống trong cảnh ‘góa bụa’. N. không quen với tôi nhưng quen với một học sinh của tôi là CQV, anh của CQV ở Hóc Môn. V. giới thiệu N. lên gặp tôi để chữa chứng đau lưng của anh, hậu quả của chế độ đa thê! Anh rất mừng vì chứng bịnh đã khỏi. Từ đó thỉnh thoảng N. ghé thăm tôi khi có dịp đi Lái Thiêu. Một hôm N. bị đau nhói từ bụng sang lưng lên ngực lắm lúc như nghẹt thở. Người ta bán cho anh viên thuốc gì trị giá $400 (400 x 500: 200,000 tiền VNCH). Anh uống liên tục cả tuần nhưng không khỏi. Cơn đau nhức càng trầm trọng hơn. Anh trối với hai nhị nương phải chôn anh gần nhà nếu anh chết. Anh nằm ủ rũ không ăn uống gì cả. Vì là người quan trọng và nổi tiếng trong xã nhiều người đến thăm anh khi nghe anh bị cơn bạo bịnh. Trong số đó có ông đại tá phục viên và người bạn ấu thời của tôi. N. thều thào nói: “Bịnh của tôi chỉ có ông Lân chữa hết mà thôi.” Người bạn ấu thời của tôi nói: “Ông Lân là bạn của tôi. Bây giờ ai có xe gắn máy lên Lái Thiêu chở ông xuống?” Một người Hoa từng có trại chăn nuôi tại địa phương nói: “Tôi có xe gắn máy. Tôi biết nhà ông Lân vì thằng Tường, con tôi, là học trò của ông. Ông không biết tôi. Làm sao ông chịu xuống đây?” Người bạn tôi viết cho tôi một bức thơ để ông chủ trại chăn nuôi an lòng. Nhận được thơ tôi chuẩn bị mọi dụng cụ cần thiết để đi Vĩnh Phú. Đến nhà của N. tôi thấy đông đảo người đứng quanh nhà. N. nằm trên bộ ván, thân hình da bọc thây trông thê thảm lắm. Anh gật đầu nhẹ chào tôi. Sau vài câu hỏi tôi bắt tay vào việc ngay. Khoảng 20 phút sau N. ngồi dậy và tự tay anh pha cà phê cho tôi uống. Tất cả người chứng kiến kêu lên: “Ngộ quá! Ngộ quá!”. Viên đại tá phục viên tiến lại gần tôi và nói: “Tôi có nghe nói về châm cứu nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy tận mắt kết quả của nó. Có thuốc gì trong cây kim không?” Ông ngạc nhiên khi được biết không có thuốc gì cả. Ông mời tôi, bạn tôi và ông chủ trại chăn nuôi về nhà ông trên Quốc Lộ 13. Tự ông nấu cơm và chuẩn bị thức ăn đãi chúng tôi. Sự quen biết giữa ông và tôi bắt đầu từ đó. Ông lại càng tin tôi nhiều hơn khi tôi chữa cho vợ ông khỏi cơn ho dây dưa nhiều ngày. Ông đưa 04 đứa con của ông lên học với tôi. Ông không che giấu được sự vui mừng khi thấy các con ông đạt những thành tích học tập tốt tại xã cư trú của ông.

Trở lại chuyện trái mít. Biết tôi không chở trái mít được, ông đại tá phục viên liền xẻ trái mít cho tôi ăn tại chỗ. Ông nói: “Đây là trái mít ngon tôi đặt người ta tuyển để dành cho ông mà ông không ăn thì phí công của tôi.” Trái mít ngon nhưng trong đầu óc tôi có nhiều lo lắng ngỗn ngang nên mất ngon. Nỗi lo sợ trước mắt là sợ mít gây đau bụng trong lúc trên đường đi vượt biên. Tôi từ giã ông đại tá phục viên và tiếp tục cuộc hành trình hướng về Sài Gòn. Dù không biết tên ông đại tá, không là chiến hữu của ông, sự thành thật và ưu ái của ông dành cho tôi là một ấn dấu đẹp về tình người vào ngày cuối cùng của tôi trên quê hương. Giã từ người bạn biết mặt nhưng không biết tên! Đó cũng là người đi qua đời tôi.

Tôi đến Sài Gòn khi trời sụp tối. Lại là đêm không có điện. Anh tôi và tôi đến nhà chị dâu tôi để tìm hiểu tin tức về chuyến đi ngày hôm sau. Em và con tôi cũng có mặt ở đó. Chị dâu tôi cho biết nhóm tổ chức không nhận anh tôi và tôi. Tôi có chút suy nghĩ. Anh tôi vô tư hơn tức là sao cũng được. Anh tôi, tôi và em tôi rời nhà chị dâu chúng tôi đi kiếm quán cà phê như để uống và chia tay với em và con tôi. Con tôi còn ở lại nhà chị dâu tôi. Chúng tôi ngồi dưới gốc cây dầu trên đường Phát Diệm trong một đêm không điện nhưng chưa gọi cà phê. Anh tôi qua đường Hồng Thập Tự gần các quán bán thịt vịt mời anh Tốt (hiện ở Hawaii) cùng uống cà phê với chúng tôi. Gặp anh Tốt tôi nói:”Anh Tốt ơi! Tôi xem trật hết rồi! Anh tôi và tôi bị từ chối rồi!”. Trong bóng tối của cây dầu anh Tốt bảo tôi Thiền trong giây lát và cho anh một con số. Tôi định tâm vài phút rồi nói :"Số 1". Vừa nói thì anh Tốt mở bàn tay anh ra có viết trước số 1 trước sự chứng kiến của em tôi. Anh nói: “Anh được đi”. Anh Tốt vừa nói xong thì con tôi ngừng xe đạp trước mặt và nói:

“Bác Tư nhờ con đi kiếm ba và bác Năm.”

“Sao con biết ba ở đây mà kiếm?” Tôi hỏi.

“Con chạy từ nhà bác Tư đến đây tình cờ thấy ba ngồi dưới gốc cây này nên dừng xe lại.” Con tôi đáp.

Anh Tốt thúc giục chúng tôi đi lại nhà chị dâu tôi và chúc lành cho chúng tôi. Quả nhiên, khi đến nhà, chị dâu tôi cho hay nhóm tổ chức nhận cho anh tôi và tôi cùng tham dự chuyến đi sáng hôm sau. Tai sao nhóm tổ chức thay đổi quyết định của họ hoàn toàn trái ngược với những điều họ nói lúc chiều tối?

Đại diện nhóm tổ chức từ Trà Vinh lên Sài Gòn để sắp xếp chuyến đi ngày hôm sau. Vì thiếu giấy tờ gì đó anh ta không thuê khách sạn được nên đến xin chị dâu tôi cho ngủ nhờ vì em và cháu chị dâu tôi trong nhà sẽ lên đường đi Trà Vinh vào ngày giờ đã định. Lợi dụng cơ hội này chị dâu tôi đề cập đến trường hợp hai anh em chúng tôi như điều kiện để chị cho anh ta ngủ nhờ. Người đại diện này đồng ý với điều kiện chúng tôi trả tiền cho anh ta chớ không phải cho nhóm tổ chức. Anh ta hẹn sẽ chở anh tôi và tôi rời Sài Gòn lúc 02 giờ đêm từ nhà chị dâu tôi. Anh còn dặn phải ăn mặc hơi rách rưới một chút.

Anh tôi và tôi về nhà. Anh sắp xếp mọi việc với hai cháu lớn. Vợ anh về Mỹ Tho thăm mẹ nên hoàn toàn không biết gì về quyết định vượt biên đột ngột của anh. Khi về nhà không thấy anh tôi chị hỏi con:

“Ba mày đâu rồi?”

“Ba vượt biên rồi!” Một cháu đáp.

“Đừng nói bậy ở tù rục xương đó!” Chị dâu tôi nói.

“Thiệt! Ba vượt biên với chú Sáu hồi khuya này.” Cháu tôi nói.

Chị dâu tôi như người mất hồn. Chi lo lắng nhiều hơn là vui mừng. Nếu không may bị bắt thì chị không biết lấy gì thăm nuôi chồng. Ông chồng hiện diện trong nhà lúc này cũng không giúp ích gì cho gia đình được. Trong cảnh lo lắng và hy vọng lẫn lộn có lời nguyện cầu.

Sống trong nghèo khổ anh tôi đành phải bán căn nhà lầu đang ở với giá 10 lượng vàng. Giá bán rẻ như vậy nhưng anh lại thấy mình may mắn vì lúc bấy giờ có lịnh cấm bán nhà. Con gái anh tôi học chung một lớp với con gái một ông lớn nào đó trong thành phố Hồ Chí Minh. Cháu than phiền cuộc sống túng thiếu của gia đình nhưng không bán nhà được. Con gái ông lớn về nói lại với cha. Nhờ sự can thiệp của vị này mà việc bán nhà được hanh thông. Và cũng nhờ có số tiền này mà anh tôi và tôi mới vượt biên. Anh tôi trở thành ân nhân và chủ nợ của tôi qua sự thuyết phục của người chị dâu muốn tôi có mặt trong chuyến đi có em, cháu và và bà con của chị. Tôi rất ngại vì đây là sự hy sinh quá lớn của anh tôi đối với tôi. Trong cảnh rách nát tôi vẫn còn đỡ hơn gia đình anh tôi. Tôi còn nhà cửa, vật dụng trong nhà còn đủ. Tôi không học tập cải tạo như anh tôi. Trái lại còn có thì giờ nghiên cứu châm cứu, Nam dược và dạy Anh văn cho các con dù trong cảnh nghèo túng. Anh tôi phải bán nhà để cầm cự cuộc sống thì tôi nỡ nào mượn tiền của anh để vượt biên. Thất bại thì sao? Vì không muốn tôi từ bỏ việc tham dự chuyến đi này chị dâu tôi giải bày sự việc với anh tôi. Anh tôi là người rất thương em nên không có phản ứng gì ngược lại với sự thuyết phục của chị dâu của chúng tôi.

Đêm ngủ ở nhà anh tôi để chờ khởi hành lúc 02 giờ khuya theo hoạch định, nhà bị công an phường khám xét một lần nữa! Hình như công an phường nghi ngờ một chuyện gì. Cuộc khám xét cũng giống như cuộc khám xét tuần trước, họ đi từng phòng và dừng lại ở phòng tôi nằm rồi đi ra. Như lần trước anh tôi cám ơn họ và tiễn họ ra cửa. Nằm chợp mắt được một tiếng tôi giật mình ngồi dậy thấy đồng hồ chỉ 1:30. Tôi đánh thức anh tôi dậy. Anh tôi ôm hôn các con và dặn dò các cháu lần cuối. Một cuộc giã từ trong im lặng và chớp nhoáng. Các cháu nhìn theo cha và chú đạp xe trong đêm khuya dưới cơn mưa lất phất. Người đại diện nhóm tổ chức đã thức và ngồi chờ chúng tôi. Chị dâu chúng tôi chúc lành chúng tôi. Chiếc xe Honda đàn ông của người đại diện nhóm tổ chức nổ máy và từ từ lăn bánh. Giã từ Sài Gòn! Giã từ Quê Hương!

 

****

Anh tôi và tôi được người đại diện nhóm tổ chức cho xuống Trà Vinh bằng xe Honda. Nhóm đã đóng tiền cọc trước đông đảo hơn gồm: em, cháu, thân thuộc chị dâu tôi, em và con trai của tôi. Nhóm này tập trung ngoài bến xe miền Tây dưới sự hướng dẫn của một phụ nữ. Tại đây những người bán hàng gạ hành khách mua các món hàng mà họ bán để sinh sống hàng ngày. Người vượt biên có vẻ mặt lo lắng và vụng về riêng nên dễ bị những nhóm người này nhận dạng. Khi bị từ chối không mua hàng họ la lên: “Đám này vượt biên nè tụi bay ơi!”

Khi đến Long An tự nhiên có một đứa nhỏ nhìn chiếc xe Honda chở chúng tôi và la lên: “Trúng mánh rồi!”. Lời nói con người khủng khiếp thật. Thời VNCH tôi thường nghe những câu hỏi đại loại như: “Thằng A, sao không đi lính?” Nếu nó đi lính rồi thì “Sao nó còn ở đây?”. Nếu nó ra Mặt Trận thì có câu: “Sao nó chưa chết?” Thời Cộng Sản cũng có những câu hỏi tương tự như: “Sao nó không học tập?" Nếu nó học tập thì lại hỏi: “Sao nó không ra Bắc?” Từ đó tôi mới hiểu rõ lời dạy của Chúa Jesus: “Cái gì ta đưa vào miệng thì sạch. Cái gì từ miệng ta ra thì dơ.”

Xe đò chở toán vượt biên của em và con tôi đến bến phà thì dừng lại. Hành khách phải sang xe khác để đi Trà Vinh. Chiếc xe đò mà toán dự vượt biên sắp lên để đi Trà Vinh chở đầy hành khách gồm đàn ông, đàn bà và một số trẻ em. Đó là những người vượt biên bị bắt và được chở về Trà Vinh. Người đến Trà Vinh để vượt biên gặp người vượt biên bị bắt đưa về Trà Vinh. Một cuộc hội ngộ đầy hồi hộp cho em và con tôi: người vượt biên bị bắt ngồi cùng xe với người trên đường đi vượt biên.

Đến Trà Vinh người chở chúng tôi bảo chúng tôi xuống xe và dặn anh tôi giả vờ mua thuốc lá và nhìn kỹ xem anh ta quẹo vào hẻm nào. Anh tôi lo mua thuốc là và dặn tôi theo dõi xem anh ấy quẹo chỗ nào. Có lẽ anh này là công an tại địa phương không muốn cho người khác bắt gặp anh chở người lạ đến địa phương? Sau khi mua thuốc lá xong anh tôi và tôi đi bộ về phía người đại diện nhóm tổ chức quành xe vào. Đến hẻm đó chúng tôi không gặp ai cả. Hai anh em tôi đi chậm chạp trên đường hẻm khô ráo và khá dài để tìm người lái xe Honda chở chúng tôi. Anh tôi bắt đầu mất bình tĩnh. Anh trách tôi không theo dõi kỹ càng. Tôi quả quyết anh ấy quẹo vào hẻm mà chúng tôi đang đi. Mấy người dân sống quanh hẻm hỏi chúng tôi kiếm ai? Chúng tôi im lặng vì có biết kiếm ai mà trả lời. Thấy chúng tôi im lặng họ có vẻ tức giận và nói lớn: “Mấy thằng cha này vượt biên”. Chúng tôi giả vờ không nghe nhưng trong lòng lo lắng lắm. Tôi không quen ai ở Trà Vinh ngoài anh Bùi Văn Bảy, giám thị trường Lý Thường Kiệt, sau về làm việc cho Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức dưới quyền ông Đỗ Bá Khê. Nếu bị bắt tôi sẽ nói tôi đi kiếm nhà để thăm anh Bảy vẫn biết rằng anh Bảy có nhà ở Gò Vấp và đã mất ở đó vì áp huyết cao khoảng năm 1983, 1984 gì đó.

Đi đến cuối hẻm chúng tôi đành quanh trở lại. Gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, mặt đỏ gay có lẽ uống nhiều rượu, mặc áo thun trắng có vẻ còn mới và sạch sẽ, chân mang dép da theo phong thái của công an chế độ, anh tôi nói nhỏ: “Có lẽ thằng cha này chờ tụi mình.” Người đàn ông nhìn chúng tôi và nói cộc lốc: “Vô đi!”. Chúng tôi ngoan ngoãn vô nhà. Tôi mừng thầm vì thấy chiếc xe Honda chở chúng tôi mặc dù không có bảng số. Một người đàn ông khoảng 60 tuổi ngồi một mình cạnh một cái bàn dài đầy thức ăn ngon của một bữa tiệc. Người đàn ông có tuổi này có vẻ có uy lắm. Ông có bộ râu cá chốt trông có vẻ gây hấn lắm. Ông quát to: “Đi đám cưới gì giờ này mới tới.” Tôi không hiểu gì cả. Thì ra đó mật khẩu của nhóm tổ chức vượt biên. Xong người đàn ông đứng tuổi mời chúng tôi ngồi xuống ăn tiệc cưới. Bụng đói. Thức ăn ngon nhưng tâm trạng chưa ổn nên bữa ăn không ngon miệng lắm. Ăn xong người đàn ông mặc áo thun trắng và mang dép da dẫn anh em chúng tôi đi quanh chợ Trà Vinh rồi đi qua một cái cầu đến một căn nhà lá đóng cửa nhưng như đã mở vì người ngoài có thể vào nhà dễ dàng. Người đàn ông hỏi tôi cầm cái túi gì. Tôi cho anh ấy biết đó là túi đựng dụng cụ châm cứu của tôi. Tức thì anh nhờ châm cho anh tỉnh rượu. Sau khi châm cứu xong anh cám ơn và dặn chúng tôi ngủ một chút cho khỏe. Lúc chạng vạng tối người đàn ông có râu cá chốt về ngôi nhà này. Ông lịch sự chào hỏi chúng tôi. Ông chuẩn bị rượu và cháo gà cho chúng tôi ăn cơm tối. Trong lúc ăn uống ông cho biết ông là phó trưởng ty công an Vĩnh Long đã nghỉ hưu (?). Ông trách anh tôi và tôi sao ăn mặc lôi thôi như vậy để đi đám cưới. Ông nói, với cái nhìn nghề nghiệp công an của ông thì ông bắt chúng tôi ngay. Đi đám cưới sao ăn mặc rách rưới như vậy? Cùng một chuyện mà người tổ chức vượt biên ở Sài Gòn nói khác với người đàn ông có râu cá chốt. Hơn nữa có ai nói là chúng tôi đi đám cưới đâu!? Vợ và con gái của tôi phải xé áo lành để chằm vá cho ra vẻ rách rưới theo yêu cầu của người tổ chức. Bây giờ áo lành đâu mà mặc.

Sáng sớm người đàn ông có râu cá chốt thức dậy sớm, pha cà phê và làm thức ăn sáng cho anh em tôi. Bỗng tự nhiên ông nói lớn tiếng: “Đi đám cưới gì mà giờ này chưa khởi hành?” Tôi bắt đâu hiểu mật khẩu đám cưới rồi nên không quan tâm gì đến lời nói của ông. Bỗng từ dưới rạch con tôi và em của chị dâu tôi là Châu Ngọc Tốt (hiện ở Canada) từ từ đi vào căn nhà mà hai anh em tôi nghỉ đêm. Con tôi được bố trí ngủ dưới thuyền đậu trên con rạch trước căn nhà mà chúng tôi ở nhưng tôi không hay biết gì cả. Nhóm vượt biên chúng tôi ngồi trên nhiều chiếc thuyền gọi là ghe tắc xi khác nhau. Anh tôi, anh Châu Ngọc Tốt, tôi và con tôi đi trên một chiếc. Em tôi đi một mình trên một chiếc khác. Con anh Tốt và các thân thuộc của anh ngồi trên một chiếc ghe tắc xi khác. Các chiếc thuyền bắt đâu rời bến riêng rẽ để ra sông Cửu Long trên đường đến xã Long Hòa dự ‘đám cưới’. Người đàn ông có râu cá chốt chúc lành cho chúng tôi và dặn trong tình huống xấu nhất phải bình tĩnh để ‘người ta’ lo chớ đừng nói lung tung.

Người chèo chiếc ghe tắc xi chở chúng tôi tên là Mỹ. Anh bị lãng tai nhưng nói chuyện dữ lắm. Tiếng của anh rất lớn đến nỗi bên kia sông cũng có thể nghe được. Anh khoe có con ở Mỹ. Anh nói anh đến Mã Lai nhiều lần xong quay trở về tiếp tục chuyên chở người vượt biên. Gặp anh Mỹ thì có điềm tốt để được đi Mỹ nhưng anh này nói nhiều chuyện bất lành lắm. Thấy con tôi ở trần và trắng trẻo anh ra lịnh cho cháu phải mặc áo vào vì “ở đây không có ai trắng như mày”. Anh bắt con tôi lấy gàu tát nước sông vào thuyền rồi tát nước trong thuyền ra sông cho công an không nghi ngờ thuyền tắc xi chở người vượt biên. Anh Mỹ chỉ một chiếc tàu đậu bên kia bờ sông Cửu Long và nói: “Chiếc tàu đó bắt ghe chở hàng trên sông nhưng tụi nó cũng bắt người vượt biên nữa.” Người vượt biên làm sao vui được khi nói đến chuyện bắt bớ vì mất tiền (đúng hơn là vàng) với người tổ chức vượt biên còn bị tù tội đối với chánh quyền Cộng Sản. Tù tội rất nặng đối với người học tập cải tạo và người liên hệ đến chánh phủ Sài Gòn trước kia.

Chiếc ghe tắc xi phải đi lại trên sông Cửu Long giữa Trà Vinh và Bến Tre từ sáng đến chiều. Người chèo thuyền có vẻ mỏi mệt vì không ăn uống gì từ sáng đến chiều. Anh Mỹ cho thuyền tấp vào bờ sông Cửu Long thuộc Bến Tre để nghỉ mệt. Thuyền vừa đậu, con tôi vội nhảy lên bờ. Chung quanh nơi thuyền đậu không có nhà cửa mà chỉ có lau sậy, dừa nước và vài loại cây rừng sát. Một bà già không biết ở đâu bỗng xuất hiện. Bà hỏi con tôi: “Mày làm gì ở đây?” Con tôi chưa kip trả lời thì bà đi đâu biến dạng. Anh tôi thấy có chuyện bất ổn khi nghe câu hỏi đầy thù nghịch của bà già đầy bí hiểm này. Anh tôi gọi con tôi xuống thuyền và hối thúc anh Mỹ chèo thuyền ra giữa dòng sông. Hai chiếc ghe chạy kè theo thuyền anh Mỹ. Một người nói: “Thằng Mỹ hôm nay trúng mánh vượt biên!" Câu nói đơn giản đó không ảnh hưởng gì đến anh Mỹ nhưng nó làm cho 04 người trên thuyền không ngớt lo âu hồi hộp. Chuyện người tổ chức vượt biên bắt hay có khi giết người vượt biên vẫn thường xảy ra.

Trăng lên. Nhưng thuyền chở người vượt biên chưa đến như đã hẹn. Anh Mỹ bắt chúng tôi nằm dưới thuyền rồi lấy chiếc đệm to trùm lên như là một cách che giấu người vượt biên. Bị trùm dưới tấm đệm kín mít chúng tôi cảm thấy ngột ngạt và nực nội khó chịu mặc dù bên ngoài ánh sáng trăng tỏa chiếu trên mặt nước rất đẹp theo lời mô tả của anh Mỹ. Khoảng 10 giờ đêm chiếc thuyền máy lớn đến. Các toán vượt biên lần lượt lên thuyền. Trong lúc lên thuyền lớn một chiếc dép của tôi rớt dưới sông. Thuyền bắt đầu chạy ra cửa biển. Tôi bắt đầu nôn mửa và trong trạng thái ngộp thở của người thiếu dưỡng khí. Tôi không ăn hay uống nước gì cả mà nằm mê man. Tôi nghe tiếng cầu nguyện nho nhỏ của con tôi. Cháu có vẻ lo ngại cho sức khỏe của tôi lúc bấy giờ. Đến ngày thứ hai trên biển cả, nước ngọt cạn dần. Xăng nhớt cũng bắt đầu vơi nhưng thuyền chưa ra khỏi hải phận quốc tế. Khoảng 07 giờ sáng anh tôi than xăng nhớt gần cạn, nước ngọt gần hết làm sao đến Mã Lai được? Lúc ấy tôi vẫn còn mê man nhưng tôi nghe và hiểu ý anh tôi. Tôi nói:

“11 giờ có tàu vớt.”

Anh tôi xem đồng hồ và nói:

“Bây giờ mới 07 giờ.”

“Còn 04 tiếng nữa.” Tôi nói trong trạng thái mê man.

Con tôi đặt tay lên ngực tôi để kiểm soát xem tim tôi còn đập không.

Khoảng 09 giờ chiếc thuyền vượt biên phải dùng áo trắng phất lên như dấu hiệu kêu cứu. Một chiếc tàu đánh cá tiến về phía chiếc thuyền vượt biên. Thấy tàu mang tên Tiền Giang người tài công ra lịnh cho người vượt biên đứng trên thuyền nằm xuống. Tàu Tiền Giang ra dấu cho thuyền vượt biên đi qua. Vào thời bây giờ bất cứ tàu nào, binh chủng nào cũng có thể bắt thuyền vượt biên. Bắt vượt biên là thi hành đúng đường lối của nhà nước đồng thời cũng có lợi cho người bắt (có thuyền, xăng nhớt, tiền bạc, vàng của người vượt biên v.v). Đến 11 giờ tàu Jean Charcot của tổ chức Medecins du Monde xuất hiện. Tự nhiên lúc ấy sức khỏe của tôi trở lại bình thường. Tàu Jean Charcot cứu vớt 41 người trên thuyền của chúng tôi. Sau khi đưa người vượt biên lên tàu Jean Charcot các thủy thủ dùng những thanh sắt dài và nặng đánh chìm chiếc thuyền vượt biên. Việc cứu vớt và đánh chìm chiếc thuyền vừa xong thì có một chiếc tàu đen ngòm mang cờ đỏ sao vàng chạy lại gần tàu Jean Charcot và hỏi về chiếc thuyền vượt biên. Thuyền trưởng tàu Jean Charcot trả lời ông không thấy chiếc thuyền nào cả. Họ muốn gởi người vượt biên nhưng tàu không nhận gởi người. Họ chỉ nhận nếu tất cả người trên tàu quân sự đều vượt biên và tàu sẽ bị đánh chìm. Chiếc tàu Cộng Sản quay trở lại hải phận Việt Nam.

Tàu Jean Charcot chở chúng tôi đi Phi Luật Tân. Khi đến gần đảo Borneo thì tàu chiến Liên Sô rượt theo và hỏi quốc tịch của chiếc tàu. Cờ Pháp được kéo lên như một dấu hiệu cầu hòa. Tàu chiến Liên Sô ngưng không đuổi theo. Khi tàu cặp bến Puerto Princesa chúng tôi mới yên tâm rằng chúng tôi đã thực sự thoát hiểm.

 

****

Nhìn lại quãng đời đã qua tôi mới thấu hiểu sự Toàn Năng của Thượng Đế đã giúp tôi thoát hiểm một cách kỳ diệu như bạn đọc đã thấy qua ba mẩu chuyện ghi trên. Như tôi đã nói ở phần đầu, sự thoát hiểm mà tôi ghi trong những trang giấy này không phát xuất từ trí thông minh, tài ứng biến, sự gan dạ hay liều lĩnh của tôi mà ra. Tôi hoàn toàn thụ động trước những thử thách ngoài khả năng giải quyết của tôi. Tôi xin tóm lược vài chuyện lạ về Phúc- Họa, Nghiệp Chướng và Bù Trừ xảy ra cho tôi sau năm 1975 để bạn đọc tranh luận và bàn bạc:

1. Nếu không bị cho nghỉ việc tôi không biết gì về châm cứu và thảo mộc tuy rằng sự hiểu biết đó không mang sự sống ấm no cho gia đình tôi. Vừa bắt tay vào ngành mới tôi đã sớm trưởng thành và được nhiều người biết đến.

2. Nếu không nằm nhà suốt 10 năm dài tôi không có dịp dạy sinh ngữ cho các con tôi. Khi các con tôi đến Hoa Kỳ các cháu học đại học không gặp trở ngại về ngôn ngữ.

3. Suốt 10 năm thất nghiệp không làm gì ra tiền, gia đình ăn uống cực khổ. Nhưng tôi không bán vật gì trong nhà vì tôi muốn dùng sự hiện hữu của các đồ vật có sẵn trong nhà để nuôi dưỡng tinh thần lac quan cho vợ con tôi. Thể xác héo mòn còn cứu vãn được. Trái lại linh hồn chết thì không sao cứu vãn nổi.

4. Nếu tôi khá giả chắc chắn tôi sẽ gặp nhiều khó khăn đối với chánh quyền. Hóa ra sự nghèo khổ trong 10 năm (1975- 1985- cao điểm ở các năm 1978, 1979, 1980- ba tầng mây đen cuồn cuộn) là ‘áo giáp bọc thân’ như đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã dạy và an ủi. Phần xác yếu thì phần hồn mạnh hơn.

5. Tôi không nợ ai dù lâm vào cảnh túng thiếu ngặt nghèo ngoại trừ tiền mượn vượt biên của anh tôi. Món nợ này do sự sắp đặt của chị dâu tôi mà ra.

6. Các con tôi vẫn đi học và học âm nhạc nữa!

7. Chánh quyền địa phương không thích tôi hay nói cách khác họ không xem tôi là Bạn được nhưng họ không gọi tôi bằng THằNG. Trong suốt 10 năm dưới chế độ CS tôi không dự các phiên họp tổ dân phố lần nào. Vợ và con gái tôi đại diện cho tôi. Tôi cũng không lao động XHCN lần nào. Có một lần trưởng khu gọi tôi đi lao động XHCN. Tôi vác cuốc ra nơi tập hợp người lao động để chờ đi lao động nơi nào đó xa nơi cư trú. Một thanh niên lạ mặt không biết có chức phận gì hướng về tôi và nói lớn: “Thầy về đi! Thầy mà lao động cái gì!” . Thế là tôi khỏi lao động suốt 10 năm sống ở quê nhà dưới chế độ XHCN.

8. Suốt 05 năm không có giấy tờ gì trong người nhưng may thay suốt thời gian ấy không ai xét Chứng Minh Nhân Dân của tôi cũng không có việc gì cần đến CMND.

9. Nếu không có cháu gái tôi than với con gái của một ông lớn ở TP Hồ Chí Minh thì anh tôi không bán nhà được vì đã có lịnh cấm bán nhà. Nếu không có tiền bán nhà thì anh tôi và tôi không có điều kiện vượt biên. Ngày anh tôi và tôi rời Sài Gòn là ngày chị dâu tôi và các cháu dọn nhà về ở tạm trong nhà của anh cả chúng tôi ở Gia Định. Anh tôi, tôi và con trai trưởng của tôi có liên hệ khá kỳ lạ. Năm 1966 anh tôi và tôi ra tranh cử Quốc Hội Lập Hiến trong một liên danh. Liên danh chúng tôi dẫn đầu nhưng theo thể thức đại diện tỷ lệ chỉ có anh tôi đắc cử mà thôi. Người thụ ủy liên danh thứ nhì là ông Nguyễn Đình Quát được chọn làm người đắc cử thứ nhì. Trong ngày bầu cử này (11-09-1966) con tôi chào đời. Tôi bận việc kiểm phiếu nên không đến thăm vợ mới sinh con đầu lòng. Bây giờ vượt biên cả ba đều có mặt và cùng ngồi chung trên một chiếc ghe tắc xi trong ngày vượt biên.

10. Việc tôi nôn mửa và mê man trên thuyền vì ngột ngạt và say sóng khiến tôi rơi vào trạng thái vô thức không biết gì để sợ trước biển cả bao la, sóng gió dập dồn trước con thuyền nhỏ bé dài 9 m. Khi gặp tàu Jean Charcot tự nhiên tôi tỉnh lại.

Vạn sự như được sắp xếp theo thứ tự thời gian và sự việc trong bộ máy Thiên Cơ.

 

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.

 

Trang Phạm Đình Lân

art2all.net