PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

 

VÀI LOẠI HOA

TRONG ÂM NHẠC VIỆT NAM

 

       

          Hoa là biểu tượng của sắc đẹp. Ở bất cứ nơi nào trên thế giới hoa là đề tài của văn thi và nghệ thuật. Tỷ lệ nữ phái trên thế giới mang tên các loài hoa rất cao. Có loại hoa đẹp hữu hương hữu sắc. Có loài hoa chỉ hữu sắc nhưng vô hương và ngược lại. Hữu hương và hữu sắc như hoa hồng th́ lại có gai nên có câu:

Không hoa hồng nào không có gai.

Hoa hợp với khí hậu nóng và khô và không hợp với mưa gió băo bùng. Trung Đông nổi tiếng với hoa hồng. Vùng sa mạc nổi tiếng với các loại hoa xương rồng trong đó có Quỳnh Hoa, hoa Thanh Long.

Trong âm nhạc Việt Nam có các loài hoa trúc đào (Trúc Đào. Thơ: Nguyễn Tất Nhiên. Nhạc: Anh Bằng), hoa mai ( Đồn Vắng Chiều Xuân của Trần Thiện Thanh. Đồn anh đóng ven rừng mai. Nếu mai không nở, anh không biết xuân về hay chưa?), hoa sứ (Hoa Sứ Nhà Nàng của Hoàng Phương), hoa quỳnh (Quỳnh Hương của Trịnh Công Sơn), hoa xoan (Hoa Soan Bên Thềm Cũ của Tuấn Khanh), hoa sim (Những Đồi Hoa Sim- Thơ: Hữu Loan. Nhạc: Dzũng Chinh), hoa pensée (Chuyện T́nh Hoa Pensée của Ngọc Sơn), hoa trinh nữ (Hoa Trinh Nữ của Trần Thiện Thanh), hoa thiên lư (Chuyện Giàn Thiên Lư của Anh Bằng), hoa lê-ki-ma (Cô Gái Đất Đỏ), hoa phượng vĩ (Nỗi Buồn Hoa Phượng của Thanh Sơn; Phượng Buồn của Lê Kim Khánh và Tuấn Hải), hoa hiếu nữ (Hai Sắc Hoa Ti- Gôn- Thơ: T.T. Kh . 1. Nhạc: Anh Bằng 2. Nhạc: Trần Thiện Thanh 3. Nhạc: Hà Phượng). Trong bài Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím thi sĩ Kiên Giang chỉ nói màu hoa mà không nêu rơ tên hoa. Trong bài thơ Đưa Em T́m Động Hoa Vàng do Phạm Duy phổ nhạc thi sĩ Phạm Thiên Thư cũng không nói rơ đó là hoa ǵ. Các loại hoa vừa kể không hẳn là hoa hữu sắc hay hữu hương nhưng chúng thích hợp với thời gian và không gian của câu chuyện mà thi nhân đă trải qua và muốn đề cập đến.

Lần lượt chúng ta t́m hiểu về các loại hoa được t́m thấy trong âm nhạc vào thế kỷ XX vừa qua.

TRÚC ĐÀO
Nerium oleander
Gia đ́nh: Apocynaceae

 

          Hoa trúc đào là một loại cây hoa có thể cao đến 4- 5 m. Cây hoa trúc đào gốc ở miền Địa Trung Hải như Bắc Phi, Trung Đông, nam Âu Châu. Hiện nay trúc đào được t́m thấy khắp nơi trên thế giới nơi có khí hậu nhiệt đới hay đại dương. Cây hoa trúc đào chiu khô hạn và khí hậu nóng rất tốt. Thân cây có nhiều nhựa trắng đục gây khó chịu khi đụng vào da hay rơi vào mắt. Lá trúc đào dài, nhọn màu xanh tươi. Hoa màu trắng, hồng, tím nhạt, đỏ sẫm rất đẹp. Trái có hột rất độc. Nh́n chung cây hoa trúc đào có nhiều độc chất.

Tên khoa học của hoa trúc đào là Nerium oleander thuộc gia đ́nh Apocynaceae. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Trúc đào
Trung Hoa Jia Zhu tao
Anh Oleander; Rosa laurel; Rosa laurel
Pháp Laurier rose
Ấn Độ Kannada
Ả Rập Zaqqum

 

Công dụng:

- trồng làm hàng rào; có lá và hoa đẹp. Cây không kén đất và chịu khí hậu nóng và khô rất tốt.

- Nhựa, thân, lá đều có độc chất. Ngựa chỉ cần ăn 30 lá trúc đào tức khoảng 100 grams th́ chết ngay. Trúc đào có cardiac glycosides: nerioside và oleandroside C32 H48 O9 và saponins. Vỏ cây trúc đào có rosagenin có tác dụng như strychnine C21 H22 N2 O2, một độc chất rất mạnh. Người hay thú vật ăn lá hay hột trúc đào th́ bị nôn mửa, chóng mặt, con ngươi nở ph́nh và đứt mạch tim mà chết.

- Ngày xưa ở Âu Châu người ta dùng trúc đào để trị rắn cắn. Vỏ và lá trúc đào giă nát có tính sát trùng và sát kư sinh trùng. Dùng ngoài da trúc đào được dùng để trị bịnh ngoài da, ung nhọt, phong hủi. Trúc đào có đặc tính gây nôn và nhuận tiểu. Dùng thận trọng v́ có độc chất. Thảo mộc thuộc gia đ́nh Apocynaceae thường có nhiều độc chất.
 

CÂY SIM
Rhodomyrtus tomentosa
Gia đ́nh: Myrtaceae
Ngưu Nải Thị
Đào Kim Nương

         

          Cây sim là một loại cây nhỏ cao từ 1- 2m được t́m thấy ở vùng khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới. Thân cây nhỏ nhưng rất dẻo. Lá dài, nhọn và cứng. Hoa màu đỏ- tím có 05 cánh; đầu nhụy màu vàng. Trái tṛn hay bầu dục màu đen sẫm khi chín. Trái chín có vị ngọt chát. Lá sim rất chát.

Tên khoa học của cây sim là Rhodomyrtus tomentosa thuộc gia đ́nh Myrtaceae. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Sim; Ngưu nải thị; đào kim nương (Hán Việt)
Khmer Sragan
Thái Lan Phrua
Mă Lai Karamunting
Anh Rose myrtle; downy rose myrtle
Pháp Myrte groseille
Trung Hoa Tao Jin Niang (đào kim nương), meigui tao jin niang (Meigui: hoa hồng)

 

Công dụng:

- Lá và thân cây sim có nhiều tannins được dùng làm màu nhuộm.

- Hơ nóng thân cây sim tiết ra một loại nhựa dùng để nhuộm răng hay nhuộm chân mày.

- Người ta nghiền hay giă nát lá sim để đắp vào vết thương hay nấu nước lá giă nát để rửa sạch vết thương v́ có nhiều chất chát. Trái hay lá sim dùng để trị tiêu chảy, kiết lỵ. Lá sim có nhiều chất rhodomyrtone C26 H34 O6, một kháng sinh thiên nhiên diệt trùng rất mạnh.

HOA THIÊN LƯ
Telosma cordata
Gia đ́nh: Apocynaceae
Asclepiadaceae

 

          Không biết v́ sao người Pháp dựa vào âm điệu của bài Scarborough Fair để có bài Chevrefeuille Que Tu Es Loin được nhạc sĩ Phạm Duy phóng dịch thành Giàn Thiên Lư Đă Xa. Chevrefeuille không phải là hoa thiên lư mà là Kim Ngân Hoa (honeysuckle).

Chúng tôi lần lượt nói đến hoa thiên lư trong Chuyện Giàn Thiên Lư của Anh Bằng và kim ngân hoa trong Chevrefeuille Que Tu Es Loin. Cả hai loài hoa này đều là dây ḅ trên giàn, có hương thơm ngào ngạt.

Hoa thiên lư là một loại dây màu xanh chuyển sang màu hung đỏ khi già. Lá màu xanh sẫm h́nh trái tim, đầu lá nhọn. Hoa màu vàng- xanh nhạt có 05 cánh, 05 nhụy. Hoa kết chùm tỏa hương thơm về đêm nên được gọi là hoa dạ lư hương. Trái thon dài hao hao giống trái g̣n cực nhỏ. Hột già màu hung đỏ- đen có lớp tơ trắng mịn bao phủ.

Tên khoa học của hoa thiên lư là Telosma cordata thuộc gia đ́nh Apocynaceae hay Asclepiadaceae. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Hoa thiên lư, hoa lư, dạ lư hương, dạ lài hương (âm từ Hoa ngữ Ye lai xiang)
Trung Hoa Ye lai xiang
Ấn Độ Surkilla
Anh Tonkin jasmine, Tonkin creeper, Chinese violet, palanlana vine (dựa theo cách gọi của người Hawaii)
Thái Lan Dok salit
Mă Lai Bunga Tonkeng (Tonkeng: Bắc Kỳ, Bắc Bộ Việt Nam)
Pháp Parfum nocturne (dạ hương)
Tây Ban Nha Fragancia nocturna (dạ hương)


Hoa thiên lư được t́m thấy nhiều ở vùng khí hậu nhiệt đới Á-Phi-Châu Mỹ La Tinh, vùng khí hậu Địa Trung Hải như Nam Âu, Trung Đông, Bắc Phi. Ở Hoa Kỳ các tiểu bang Florida, California, Hawaii v.v. có hoa thiên lư.

Công dụng:

- có hương thơm như hoa lài nhất là về đêm. V́ vậy nên có tên gọi Ye lai xiang (dạ lài hương), dạ lư hương. Hoa thiên lư có geraniol C10 H18 O, beta- ionone, dihydro- beta ionone, dihydro-beta-ionol. Hoa có mùi thơm Channel No 5 cạnh tranh với dầu thơm làm bằng hoa sứ Ylang- Ylang Cananga odorata nổi tiếng một thời.

- Hoa và lá non ăn được. Người ta dùng lá để nấu canh và hoa để nấu canh hay chiên với hột gà ăn như rau cải. Hoa có proteins, carbohydrates, sinh tố A, C, E, Ca, Ph, beta carotene.

- Người Trung Hoa dùng hoa thiên lư để chữa đau mắt nóng đỏ, cất dầu thơm.

- Lá hoa thiên lư giă nát làm thuốc đắp trị đau lưng, giải nhiệt. Nước sắc uống giải độc. Trong quyển Medicinal Plants of VietNam, Cambodia and Laos trang 77, Giáo Sư Nguyễn Văn Dương ghi một báo cáo của bịnh viện Thái B́nh năm 1962 về việc dùng lá thiên lư giă nát được dùng làm thuốc đắp trị sa ruột, sa tử cung có kết quả.

 

KIM NGÂN HOA
Chevrefeuille
Lonicera japonica (1)
Gia đ́nh: Caprifoliaceae

 

          Gọi là kim ngân hoa v́ hoa mới nở màu trắng (ngân: bạc). Khi gần tàn hoa chuyển sang màu vàng (kim). Tên gọi này phỏng theo cách gọi của người Trung Hoa: Jin yin hua (kim ngân hoa).

Kim ngân hoa là loại dây có hoa xuất phát từ Đông Á: Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản. Hiện nay trên thế giới có nhiều kim ngân hoa. Ở Hoa Kỳ nó trở thành loại dây lấn đất.

Dây kim ngân hoa cứng và dài lối 5- 6 m. Lá nhọn ở đầu và bầu dưới cuống. Hoa dài có nhiều cánh dài màu trắng. Nhụy hoa màu vàng nhạt. Khi gần tàn hoa chuyển sang màu vàng. Hoa kim ngân rất thơm nhất là về đêm. V́ vậy người ta dễ lẫn lộn kim ngân hoa với hoa thiên lư. Trái của dây kim ngân hoa tṛn và nhỏ. Khi chín, trái màu đen bóng.

Kim ngân hoa Lonicera fragrantissima màu trắng rất thơm như tên khoa học đă ghi. Kim ngân hoa Lonicera periclymenum có hoa màu hồng nhạt.

Tên khoa học của kim ngân hoa là Lonicera japonica thuộc gia đ́nh Caprifoliaceae. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Kim ngân hoa, Nhẫn đông (chịu lạnh mùa đông rất tốt)
Trung Hoa Jin yin hua (kim ngân hoa; Rendong deng (nhẫn đông đằng)
Anh Honeysuckle; Chinese honeysuckle; Goat’s leaf
Pháp Chevrefeuille (Capri: con dê; folia: lá tức feuille trong tiếng Pháp)
Nhật Bản Suikazura; nindo

 

Lá của dây kim ngân hoa là thức ăn của thú rừng như nai, thỏ và các loại thú khác.

Nhật và Trung Hoa xem kim ngân hoa là dược thảo quan trọng. Người Trung Hoa dùng kim ngân hoa phơi khô để làm thuốc.

- Kim ngân hoa kháng trùng lao Streptococcus pneumoniae, trùng đau màng óc Neisseria meningitidis, kháng viêm, thanh lọc máu (tẩy độc), nhuận tiểu, trị sốt, sởi, cảm cúm, u nhọt, hạ huyết áp, bắp thịt máy động (chuột rút chẳng hạn), hạ cholesterol, hạ huyết áp, trị tê thấp, quai bị, viêm gan, sưng phổi, ho lao và các bịnh vi trùng khác. Kim ngân hoa kết hợp với liên kiều Forsythia suspensa để trị sốt, nhức đầu, đau cuống họng, khát nước. Dây kim ngân hoa có tannins, saponins, flavonoids luteolin, lonicerin C27 H50 O15, inositol C6 H12 O6. Kim ngân hoa có chất kháng sinh tự nhiên v́ có chlorogenic acid C16 H18 O9, lutein C40 H56 O2, một kháng sinh chống lăo hóa, kháng viêm với isochlorogenic acid C16 H18 O9 khiến cho dược tính của kim ngân hoa càng phong phú hơn dưới cái nh́n của các thầy thuốc Đông Y Trung Hoa và Nhật Bản.

- Dây kim ngân hoa có nhiều saponins thả xuống ao làm cho cá bị say ngất ngư để bắt. Dây dài có nhiều sợi dùng để bện dây.

- Hoa và lá non kim ngân hoa luộc ăn được. Thận trọng v́ có chút độc chất.

- Kim ngân hoa là nguồn dược thảo quan trọng trong Hoa Y, Nhật Y. Indonesia dùng kim ngân hoa để hạ sốt, trị loét, đau cuống họng, phổi nhiễm trùng, trị suyễn từ năm 659 sau Tây Lịch.

 

(1) Chữ Lonicera trong tên khoa học của kim ngân hoa là do tên của một bác sĩ người Đức tên Lonicer vào thế kỷ XVI đă khám phá ra hàng loạt dược tính của kim ngân hoa. Các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo ở Âu Châu dùng kim ngân hoa để chữa chứng đau ngực, sốt mùa hè, tâm trạng hoài hương nhớ nhà.
 

HOA SỨ
Plumeria rubra (Hoa Sứ Đỏ)
Plumeria alba (Hoa Sứ Trắng)
Gia đ́nh: Apocynaceae

 

          Cây hoa sứ c̣n được gọi là sứ ma, sứ cùi v́ thân cây và nhánh có những nốt sần sùi như người bị phong hủi. Goi nôm na như vậy, thực tế hoa sứ có hương thơm rất đặc biệt.

Cây hoa sứ được t́m thấy nhiều ở Trung, Nam Mỹ, Ấn Độ và các hải đảo Thái B́nh Dương hay biển Caribbean. Ở Mexico và Costa Rica có nhiều cây hoa sứ mọc hoang.

Cây hoa sứ cao từ 5- 7 m; lá dài, láng, rộng và dày. Hoa 05 cánh rất thơm. Có hoa sứ màu trắng (Plumeria alba). Có hoa sứ màu đỏ (Plumeria rubra). Cũng có hoa sứ màu vàng (Plumeria rubra yellow).

Tên khoa học của hoa sứ là Plumeria rubra hay Plumeria alba thuộc gia đ́nh Apocynaceae. Chữ Plumeria trong tên khoa học là tên của nhà thực vật học Pháp vào thế kỷ XVII, Charles Plumier. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Hoa sứ
Trung Hoa Da Ji hua
Ấn Độ Champa (1)
Lào Champa
Sri Lanka Champey
Khmer Champei krahom
Anh temple tree; red jasmine; frangipani (tên của hầu tước Y  Muzio Franjipani làm dâu hoa sư vào thế kỷ XVI)
Nicaragua Sacuanjoche
Pháp Franjipanier (cây hoa sứ)
Tây Ban Nha Plumeria


Công dụng:

- trồng để có hoa đẹp và thơm. Ở Hawaii và trên hải đảo Thái B́nh Dương dân chúng kết hoa sứ để mang trên người. Các tín đồ Phật Giáo hái hoa sứ để cúng Phật. Cây hoa sứ thường được trồng trước các đền, chùa chiền và nghĩa địa. Người Sri Lanka (Ceylon) gọi cây hoa sứ là Sinh Mộc.

- Ở Nam Á và Đông Nam Á người ta dùng vỏ cây hoa sứ như thuốc xổ, thuốc điều kinh, hạ sốt, ngăn ngừa stroke, trụy thai, trị bịnh phong t́nh. Vỏ cây hoa sứ có plumieride C21 H26 O12, fulvoplumierin C14 H12 O4, một kháng sinh chống vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis. Vỏ cây hoa sứ tán nhuyễn dùng để xức ghẻ; sắc nước uống trị kiết lỵ, tiêu chảy.

- Hoa sứ ăn được. Đó là nguồn dầu thơm Franjipani; tạo hương thơm cho dầu dừa. Hoa sứ nhuận tiểu, kháng nấm, kháng khuẩn, kháng trùng; chống sự co giật của các sớ thịt; giảm đường trong máu.

- Nhựa cây hoa sứ có crotonic acid C4 H6 O2, lupeol C30 H50 O kháng viêm, kháng ung thư rất mạnh. Nhựa dùng trị ghẻ, vết sưng, đau rằng.

- Lá cây hoa sứ có alkaloids, flavonoids, terpenoids, hợp chất phenol, cyanogenic glycosides, tannins, saponins.

(1) Champa: Quốc hiệu của Chiêm Thành.
 

HOA XOAN
Hoa Tử Đinh Hương
Syringa vulgaris
Gia đ́nh: Oleaceae

 

          Nơi xuất phát của cây xoan hay tử đinh hương là lục địa Á- Âu, vùng Balkans, phía đông nam Âu Châu tức vùng khí hậu Địa Trung Hải. Vùng này trước kia chịu ảnh hưởng chánh trị của đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) nên vườn hoa của các nhà caí trị Thổ Nhĩ Kỳ ở Trung Đông thường trồng cây tử đinh hương để có hoa đẹp và thơm.

Ở Nga có hoa tử đinh hương màu trắng nở vào mùa xuân. Hoa được xem là niềm tự hào hay vẻ đẹp của thành phố Moscow.

Cây xoan là một loại cây cao từ 5- 6 m; thân cây rắn chắc. Cây già có thể có đường kính lối 20 cm. Lá cây xoan h́nh trái tim màu xanh sẫm; hoa nhỏ có 04 hay 05 cánh màu trắng, hồng hay tím nhạt kết thành chùm dài 20- 30 cm rất đẹp và thơm. Trái có nắp với hai hột có cánh khi hột già và cứng.

Tên khoa học của hoa xoan hay hoa tử đinh hương là Syringa vulgaris thuộc gia đ́nh Oleaceae của cây ô- liu. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Xoan; tử đinh hương; sầu đông (sầu đâu)
Anh Lilac; French lilac; common lilac; Persian lilac
Pháp Lilas
Sanskrit Nila (có nghĩa là màu xanh thẫm)
Iran Nilak


Chú ư: Chữ French lilac hay Persian lilac c̣n được dùng để chỉ cây sầu đông Melia japonica hay Melia azadirachta thuộc gia đ́nh Meliaceae. Việt Nam gọi là sầu đâu hay sầu đông (v́ lá rụng vào mùa đông). Người Khmer gọi là sdau. Cây sầu đâu được gọi là cây xoan đào; trái tṛn; hột cứng dùng làm hột chuỗi nên ngoài những tên Chinaberry, neem tree, cây sầu đông c̣n được gọi là bead tree. Hoa sầu đông nhỏ, kết thành chuỗi màu tím, hồng nhạt và có hương thơm ngạt ngào. Hoa xoan trong bài Hoa Xoan Bên Thềm Cũ có lẽ là hoa xoan đào tức hoa sầu đông hay sầu đâu Melia japonica.

Công dụng:

- trồng cây xoan hay tử đinh hương để có hoa đẹp và thơm.

- Hoa tử đinh hương là hoa biểu tượng của tiểu bang New Hampshire, Hoa Kỳ.

- Hoa ăn được và có thể dùng để cất dầu, làm nước hoa, làm thuốc nhuộm màu xanh. Lá dùng để làm thuốc nhuộm màu xanh hay hung đỏ. Nụ non dùng để làm thuốc nhuộm màu vàng cam.

- Tử đinh hương có iridoids, lignans, phenylethanols C8 H10 O, verbascosides C29 H36 O15 kháng viêm, kháng bướu, kháng cao huyết áp, kháng oxy- hoá được dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm và dược phẩm để trị mụn trứng cá và chứng rụng tóc. Lá và vỏ cây tử đinh hương (cây xoan) được dùng để hạ sốt, trục lăi, trị bịnh định kỳ như sốt trong vùng Địa Trung Hải chẳng hạn.

 

XOAN ĐÀO
Sầu Đông- Sầu Đâu
Melia japonica
Azadirachta indica
Melia azadirachta
Gia đ́nh: Meliaceae

 

         Cây xoan đào lớn hơn cây xoan (tử đinh hương). Cây xoan đào tức sầu đông (v́ rụng lá vào mùa đông) hay sầu đâu gốc ở Ấn Độ và vùng Nam Á.

Cây xoan đào cao từ 15- 30 m. Lá dài, nhọn màu xanh ô-liu khi để khô. Hoa có 04 hay 05 cánh dài màu trắng hay trắng- hồng rất thơm. Nhụy hoa dài. Trái tṛn khi chín chuyển sang màu vàng. Bên trong có hai, ba hột rất cứng dùng để làm dầu sầu đâu (neem oil) hay để làm hột chuỗi. Người ta ăn trái xanh chớ không ăn trái chín. Lá, vỏ, trái sầu đâu rất đắng và có độc chất azadirachtin C35 H44 O16. Tuy vậy vẫn ăn được.

Tên khoa học của cây xoan đào (sầu đông hay sầu đâu) là Melia japonica thuộc gia đ́nh Meliaceae như cây dái ngựa. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Xoan đào; sầu đông; sầu đâu
Khmer sdau
Lào Phan ka dao
Thái Lan sadao hay sdao
Sanskrit Nimba
Ấn Độ Neem
Anh Chinaberry, neem tree; margosa tree; lilac tree; nim; bead tree; Persian lilac


Công dụng:

- cây to cho nhiều gỗ tốt không bị mọt ăn; cho bóng mát và hoa đẹp và có hương thơm.

- dầu sầu đâu dùng để thắp đèn, làm xà bông gội đầu diệt gầu (dandruff), kem thoa da (sát trùng và diệt nấm). Ấn Độ nổi tiếng về việc bán dầu sầu đâu.

- Hột sầu đâu già rất cứng dùng để cất dầu hay làm hột xâu chuỗi.

- Trái xanh và lá sầu đâu non đều ăn được. Người Khmer có nhiều kinh nghiệm về việc dùng sầu đâu.

- Ngày xưa người Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka xem cây sầu đâu là nhà thuốc xă thôn tức là xem loài thảo mộc này như thuốc trị bá bịnh. Lá phơi khô nấu nước uống như thuốc bổ. Nụ non dùng như thuốc đánh răng, làm xà bông, mỹ phẩm bảo vệ da, thuốc diệt côn trùng, trị lăi, phỏng, vết thương, ghẻ, loét, đau tai, nhức đầu, sốt, đau cuống họng, nấm, bịnh ngoài da, đau nướu răng. Ở Ivory Coast người ta dùng lá hay vỏ sầu đâu để trị tiểu đường. Hiện nay người ta nghiên cứu việc dùng hoạt chất lấy từ cây sầu đâu để trị ung thư, bịnh AIDS. Nh́n chung vỏ và lá sầu đâu rất đắng nên được dùng như kư- ninh để trị sốt rét, chống viêm, cước khí. Người ta bỏ lá sầu đâu dưới giường để xua đuổi rệp, kiến và bọ trong sách để mối, mọt không cắn phá sách.- Vỏ cây sầu đâu có nimbin C30 H36 O9, nimbinin, nimbiol C18 H24 O2. Nimbiol làm giảm cơn sốt nên dùng để tri sốt rét rất thích hợp. Chất prostaglandin có tác dụng kháng viêm rất cao. Hoạt chất lấy từ lá sầu đâu ngăn chặn sự kết bướu. Sodium nimbidinate rất nhuận tiểu nhưng nó diệt tinh trùng của nam và nữ nên dẫn đến t́nh trạng vô tự (sterility). Sầu đâu trở thành thuốc ngừa thai và có tính diệt tinh trùng (spermicide).

 

HOA MAI

 

          Chúng ta có dịp thấy qua về Hoa Mai trong bài Chuyện Hoa Mai. Chúng tôi tạm tóm lược hoa mai Việt Nam và mai hoa (Meihua) của Trung Hoa như sau:

- Mai Việt Nam là loại cây hoa mọc hoang dại cao từ 1- 3 m. Hoa 05 cánh màu vàng rất đẹp. Trái nhỏ màu đen láng không ăn được. Tên khoa học là Ochna harmandii thuộc gia đ́nh Ochnaceae.

- Mai của Trung Hoa (Mei) là hoa 05 cánh của cây mơ Prunus mume thuộc gia đ́nh Rosaceae. Đó là loại cây ăn trái có thể cao đến 10- 15 m. Trái ăn được. Trái chín khô đen nên gọi là ô mai (wumei). Hoa mai này là hoa biểu tượng của Dân Quốc Trung Hoa (ROC: Republic of China) tức chánh phủ Taiwan (Đài Loan). Năm cánh hoa tượng trưng cho Ngũ Quyền Phân Lập: 1. Hành Pháp 2. Lập Pháp 3. Tư Pháp 4. Giám Sát 5. Khảo Thí. Ba nhụy ở mỗi cánh hoa tượng trưng cho Tam Dân Chủ Nghĩa (San Min Chu I): a. Dân Tộc Độc Lập b. Dân Quyền Tự Do c. Dân Sinh Hạnh Phúc.

 

HOA LÊ-KI-MA
Lucuma mammosa
Gia đ́nh: Sapotaceae

 

          Cây lê-ki-ma xuất phát từ Mexico, Trung Mỹ, Nam Mỹ và các hải đảo trong biển Caribbean. Người Việt Nam gọi là cây lê-ki-ma, âm từ Lucuma, tên gọi của người Quechua ở Nam Mỹ có nghĩa là trái có h́nh trứng (eggfruit).

Cây lê-ki-ma được người Tây Ban Nha du nhập vào Phi Luật Tân. Từ Phi Luật Tân giống cây này được t́m thấy ở Mă Lai, Indonesia và được du nhập vào vùng Đông Nam Á lục địa. Đó là một loại cây ăn trái miền nhiệt đới và bán nhiệt đới có thể mọc trên vùng đất sét.

Cây lê-ki-ma cao từ 15- 20 m. Lá dài và dày màu xanh sẫm. Gân lá rơ nét. Hoa trắng rất thơm nên hấp dẫn ong đến hút mật hoa. Trái to rất chát khi c̣n non. Khi chín trái chuyển sang màu vàng rất đẹp. Da láng, cơm dày màu vàng nghệ. Trái có một hột to như hột gà, vỏ ngoài hột màu hung đỏ- đen rất láng.

Tên khoa học của cây lê-ki-ma là Lucuma mammosa thuộc gia đ́nh Sapotaceae của cây sa-bô-chê. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Tây Ban Nha Mamey zapote
Anh mamey sapote
Pháp Sapotier a gros fruit
Nhật Mamii sapote
Trung Hoa Ren xin guo (Nhân Tâm Quả)


Người Việt Nam không hưởng ứng trái lê-ki-ma nên không thấy vườn lê-ki-ma ở Việt Nam. Không thấy văn thơ Việt Nam đề cập đến hoa lê-ki-ma ngoại trừ bài hát ca ngợi cô gái Đất Đỏ, Bà Rịa, được nghe sau năm 1975. Đó là Vơ Thị Sáu giết chết một ông cai tổng ở Đất Đỏ. Trái lại trên lục địa Mỹ Châu nhất là Trung và Nam Mỹ trái lê-ki-ma được xem là 'Vàng của người Incas’ cổ xưa.

Công dụng cây lê-ki-ma:

- cây to, gỗ cứng chắc rất tốt trong ngành mộc. Trái to ăn được nhưng không hấp dẫn như những loại trái cây nhiệt đới khác.

- Trái lê-ki-ma cơm vàng, vị ngọt lợ. Nó có nhiều ca-lo-ri, glucose, fructose, inositol C6 H12 O6, Ca, Ph, ascorbic acid C6 H8 O7 (tức citric acid hay sinh tố C), succinic acid (CH2)2 (CO2H)2, Fe, protein v.v.

- Hột lê-ki-ma rất to, cứng, có nhiều dầu. Dầu lê-ki-ma được dùng trong kỹ nghệ xà bông, dầu thơm, dược phẩm, mỹ phẩm. Hột có amygdalin C20 H27 NO11. Dầu lê-ki-ma dùng để xức tóc, chặn đứng sự rụng tóc. Vỏ cây lê-ki-ma có lucumin C19 H25 NO 10 đắng và chát. Lá và vỏ sắc nước uống trị xơ động mạch, hạ huyết áp. Nhựa cây lê-ki-ma dùng để trị lăi, gây nôn, làm mềm vết chai.


HOA PENSEE
Viola tricolor hortensis
Gia đ́nh: Violaceae

 

          Hoa pensée là một loại hoa thường niên ở miền ôn đới. Cây hoa cao lối 20- 30 cm, thân yếu; lá có lông mịn. Hoa có nhiều mầu khác nhau: trắng, nhung, tím, đỏ, vàng màu trắng sữa hay ba màu (tricolor). Cánh hoa tṛn, mỏng như cánh bướm.

Tên khoa học của hoa pensee là Viola tricolor hortensis thuộc gia đ́nh Violaceae. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam pensée (gọi theo Pháp), hoa bướm
Anh Pansy; heartsease (hoa bướm dại)
Pháp Pensée
Tây Ban Nha Flor de pensamiento
Trung Hoa San se jin hua
Nhật Panji no hana


Công dụng:

- trồng trong vườn để có hoa đẹp nhiều màu sắc. Hoa pensee là đề tài của thi ca.

- Thành phần hóa học: polyphenols, anthocyanin, carotenoids, antioxidants.

- Trị liệu: chứng động kinh, hay suy tư, bịnh về da, kháng viêm, bổ phế, bổ tim, nhuận tiểu, nhuận trường, tê thấp, tiểu tiện khó khăn, viêm bọng đái (cystitis). Rễ: gây nôn.
- Hoa bướm c̣n được dùng để làm mầu nhuộm vàng, xanh lá cây, xanh dương.
 

HOA TRINH NỮ
Hoa Mắc Cỡ
Mimosa pudica
Gia đ́nh: Mimosaceae
Fabaceae

 

         Mắc cỡ là một loại dây có thân nhỏ nhưng cứng và có gai nhọn. Lá mắc cỡ mọc đối và sắp xếp thành h́nh lông chim. Hoa mắc cỡ được cấu tạo bằng những cánh hoa nhuyễn tạo thành h́nh tṛn màu tím nhạt. Nhụy hoa màu tím sẫm. Mắc cỡ có trái nhỏ tựa như trái dâu thật nhỏ. Vỏ của trái có gai.

Cây mắc cỡ cao từ 20- 30 cm. Gọi là cây mắc cỡ v́ khi đụng vào th́ lá xếp lại. Lá mắc cỡ tự động xếp như say ngủ khi trời tối và mở ra khi mặt trời mọc.

Tên khoa học của hoa trinh nữ là Mimosa pudica (Pudica: thẹn thùng nên ta gọi là mắc cỡ) thuộc gia đ́nh Mimosaceae hay Fabaceae. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Trinh nữ; mắc cỡ
Anh touch-me-not; sensitive plant; shameful plant; sleeping grass
Pháp sensitive; plante sensitive
Indonesia Putrid malu (công chúa thẹn thùng)
Mă Lai Pokok semalu (cây mắc cỡ)
Nhật Bản Ojigi-so
Trung Hoa Han xiu cao
Sanskrit Lajja


Dùng lá, thân, hoa, rễ trong việc trị liệu.

Cây mắc cỡ có: tannins, saponins, flavonoids, phenols, phytosterol, norepinephrine C8 H11 NO3, mimosine C8 H10 N2 O4. Hột gây nôn.

Đặc tính: cầm máu, nhuận trường, kích dục, gây nôn, trị kiết lỵ, rụng tóc hói đầu (alopecia), trục lăi, kháng trùng, kháng khuẩn, lợi phế, an thần. Lá hơi đắng nấu nước uống làm tỉnh rượu. Ở Phi Luật Tân người ta sắc lá mắc cỡ uống như thuốc kích dục.
 

HOA TI- GÔN
Hoa Hiếu Nữ
Antigonon letopus
Gia đ́nh: Polygonaceae

 

          Đây là một loại dây gốc ở Mexico, Trung, Nam Mỹ. Loai dây này được t́m thấy ở những vùng khí hậu nhiệt đới, bán nhiệt đới hay đại dương như các hải đảo Thái B́nh Dương, biển Caribbean. Điều đáng lưu ư là một loại dây tầm thường, lấn đất lại có nhiều tên gọi trong tiếng Anh.

Dây hoa ti- gôn dài lối 10 m; lá hao hao giống lá nho nhưng nhỏ và thô. Hoa nhỏ màu trắng, hồng hay đỏ sẫm, có h́nh như trái tim nhỏ. Trái là thức ăn của chim muông và thú rừng.

Tên khoa học của hoa ti- gôn là Antigonon leptopus thuộc gia đ́nh Polygonaceae.
Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Pháp liane coral; liane antigone
Việt Nam hoa hiếu nữ, hoa ti- gôn (dùng hai âm cuối của antigone của Pháp)
Tây Ban Nha rosa de montana (hoa hồng núi v́ hoa màu đỏ mọc hoang dại)
Anh coral vine, chain of love (dây t́nh ái), Mexican love vine (dây t́nh ái Mễ Tây Cơ), mountain rose, bribes tears (giọt lệ nàng dâu), queens jewels (kim hoàn hoàng hậu), bee bush (ong đến hút mật hoa)


Công dụng:

- trồng để có bóng mát, giữ đất không bị xâm thực gió hay sa thach hoá v́ nhiệt mặt trời. Có hoa hồng, trắng hay đỏ rất đẹp. Ở Ấn Độ người ta trồng dây ti- gôn để làm mái che cho chuồng ḅ, chuồng trâu hay chuồng heo.

- lá non, hoa, củ đều ăn được. Ở Thái Lan người ta chiên lá non của dây ti- gôn hay hoa với hột gà. Dây ti-gôn già có củ to đến 7 ki- lô. Củ luộc ăn rất ngon.

- Thành phần hóa học: alkaloids, hợp chất phenols, saponins, triterpenoids, anthraquinone C14 H8 O2, ferulic acid C10 H10 O4 (antioxidants), b- sitosterol v.v.

- Trị liệu trong dân gian: trị đau nhức, tiểu đường, ho, bịnh về da, cảm, đau bụng, kháng trùng, kháng viêm, bảo vệ gan.
 

QUỲNH HOA
Selenicereus grandiflorus
Gia đ́nh: Cactaceae

 

          Quỳnh hoa thuộc gia đ́nh xương rồng Cactaceae. Quỳnh hoa có cuống dài mọc ra từ lá. Hoa chỉ nở về đêm và tàn trong đêm. V́ vậy có câu:

Quỳnh hoa sớm nở chóng tàn.

Tên khoa học của quỳnh hoa là Selenicereus grandiflorus (Selen: mặt trăng .<.ban đêm.>. - Hy Lạp ngữ. Grandiflorus: hoa to- La Tinh) thuộc gia đ́nh Cactaceae. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Quỳnh hoa
Trung Hoa Tan hua; Dai hua she bian zhu
Nhật Gekka bijin (mỹ nữ dưới trăng)
Anh Night blooming cereus, Queen of the night, Lunar flower
Pháp Reine de la nuit
Tây Ban Nha Reina de la noche
Ấn Độ Brahma kamal


Quỳnh hoa là loại hoa thuộc gia đ́nh xương rồng. Hoa to và có nhiều cánh dài màu trắng, nhụy vàng rất đẹp và thơm. Hương thơm do benzyl salicylate C14 H12 O3 mà ra.

Quỳnh hoa gốc ở Mexico, Jamaica, Cuba. Nó được đưa từ West Indies (Tây Ấn tức các hải đảo trong biển Caribbean) sang Anh vào thế kỷ XVIII.

Hoa và cuống quỳnh hoa có cactine hay hordenine C10 H15 NO và alkaloid nhuận tiểu, nhuận trường, bổ tim, trị đau ngực (angine), bàng quang nhiễm trùng, tiểu đường (vài bộ lạc Da Đỏ ở Mỹ Châu), kích thích cột xương sống và các kinh lạc, trị hồi hộp, buồn nản, chóng mặt, yếu sinh lư v.v. Phụ nữ có thai không được dùng thuốc làm từ quỳnh hoa v́ có độc chất betacyaninsflavanol glycosides.
 

PHƯỢNG VĨ
Delonix regia
Gia đ́nh: Fabaceae hay Caesalpiniaceae

 

         Cây phượng vĩ gốc ở Madagascar. Nó được t́m thấy nhiều ở các hải đảo Thái B́nh Dương, các nước Trung, Nam Mỹ, Nam Á, bắc Úc Đại Lợi nhiệt đới. Cây cao từ 15- 25 m; lá xếp như lông chim. Hoa màu đỏ thắm. Cũng có loại phượng vĩ màu vàng.

Trái dài từ 30- 45 cm tựa như trái dầu. Trái chín màu đen; vỏ trái cứng. Hột to và cứng rang ăn được.

Tên khoa học của phượng vĩ là Delonix regia thuộc gia đ́nh Fabaceae. Tên gọi thông thường:

Quốc Gia Tên Gọi
Việt Nam Phượng vĩ
Pháp Flamboyant
Anh Flamboyant, flame tree, royal poinciana (do tên của thống đốc De Poinci của Pháp ở Tây Ấn thuộc Pháp vào thế kỷ XVII)
Tây Ban Nha Flamboyant real


Hoa phượng vĩ gắn liền với các trường học lớn do người Pháp xây cất ở Hà Nội, Huế, Sài G̣n và các địa phương khác ở ba miền.

Công dụng:

- trồng để có bóng mát, hoa đỏ thắm rất đẹp vào mùa hè; cây có nhiều gỗ. Hột rang ăn được.

- Vỏ cây phượng vĩ được dùng trong ngành nhuộm và thuộc da (có nhiều tannins).

- Lá có b- sitosterol, lupeol C30 H50 O (kháng viêm, kháng ung thư), tannins.

 

PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

Bài viết tổng hợp dựa vào Thế Giới Thảo Mộc Từ Điển do tác giả Phạm Đ́nh Lân biên soạn.

           

Trang Phạm Đ́nh Lân

art2all.net