|
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
VIỆT NAM và
UKRAINE :
TƯƠNG
ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT

Trong những tháng vừa qua toàn thể thế
giới theo dõi tin tức về cuộc nổi dậy ở Ukraine của phe chống Nga và chủ trương
liên kết với Liên Âu, sự xâm lăng của Nga vào bán đảo Crimea và sáp nhập bán đảo
này vào Liên Bang Nga, rồi những cuộc nổi dậy của những người gốc Nga ở các tỉnh
(oblast) miền đông và đông nam Ukraine đòi sáp nhập các tỉnh Donetz, Kharkhiv và
Luhansk vào Nga bằng một cuộc trưng cầu dân ý như đã làm ở Crimea nhưng không
cần có sự can thiệp quân sự của quân Nga như đã thấy ở Crimea vào tháng 03 vừa
qua. Trước sự xâm lăng trắng trợn của Nga vào Crimea và việc tổ chức trưng cầu
dân ý tách rời Crimea ra khỏi Ukraine để sáp nhập vào Nga bằng sức mạnh của võ
khí bất chấp luật pháp quốc tế, chánh phủ Hà Nội tán đồng việc làm võ đoán của
Nga. Một tiến sĩ họ Vũ ở Hà Nội mạt sát người Ukraine ở Kiev đã biểu tình và lật
đổ tượng của Lenin. Beijing (Bắc Kinh) thích thú với việc làm của Putin nhưng
giả vờ tỏ ra ‘không tán đồng’ bằng cách bỏ phiếu trắng trong quyết định lên án
hành động của Nga ở Crimea tại diễn đàn LHQ. Việt Nam không làm gì khác hơn là
bỏ phiếu trắng như CHNDTQ.
Trong bài viết này chúng tôi cố đưa ra những tương đồng và dị
biệt giữa Việt Nam và Ukraine trước hai cường lân: CHNDTQ và Liên Bang Nga.
NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG GIỮA VIỆT NAM và
UKRAINE
1. Quá Khứ Thuộc Địa
Việt Nam trải qua trên 1,000 năm bị Trung Hoa đô hộ và gần
một thế kỷ đặt dưới sự đô hộ của Pháp. Trung Hoa là một cường lân và đế quốc đối
với Việt Nam. Ukraine trải qua trên 02 thế kỷ dưới ách đô hộ của Nga (thế kỷ
XVIII đến 1917). Người Nga vẫn xem đông bộ và nam bộ Ukraine là Novorossiya
có nghĩa là Tân Nga Quốc. Đó là các vùng Donetz, Odessa, Luhansk,
Dnipropotrovsk. Bây giờ Putin nhấn mạnh thêm Kharkiv (trước kia vùng này không
nằm trong Novorossiya của đế quốc Nga). Khi cách mạng tháng 10 thành công
năm 1917, Lenin tỏ ra chế độ Cộng Sản do ông lãnh đạo khác với đế quốc Nga thời
Nga Hoàng. Ông cho thi hành chánh sách Korenizatsiya nhằm bản địa hóa
(indigenization) Ukraine thay vì Nga hóa như đã thi hành dưới chế độ Nga
Hoàng. Năm 1920 Ukraine trở thành Cộng Hòa Nhân Dân Sô Viết. Năm 1922 đó là một
Cộng Hòa Sô Viết trong Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Sô Viết. Stalin là
tổng bí thơ đảng Cộng Sản Liên Sô chủ trương Nga hóa Ukraine. Tiếng Ukraine
không được dạy trong trường học. Chánh sách Korenizatsiya chấm dứt. Năm
1932 - 1933 Ukraine bị nạn đói mà người Ukraine gọi là Holodomor (nạn đói
giả tạo nhằm mục đích diệt chủng Ukraine).
2. Quá Khứ Cộng Sản
Khi Cách mạng Tháng 10 thành công, Ukraine trở thành một nước
Cộng Sản rồi một Cộng Hòa Sô Viết, một bộ phận của Liên Sô. Khrushchev và
Bezhnev là người Ukraine trở thành hai vị lãnh đạo Liên Sô sau khi Stalin chết.
Hồ Chí Minh được huấn luyện ở Liên Sô năm 1924 và 1934. Ông thành lập đảng Cộng
Sản Việt Nam đổi thành đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930. Các ông Trần Phú, Lê
Hồng Phong, Hà Huy Tập, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Giàu, Nguyễn
Văn Trấn...đều được huấn luyện ở Liên Sô và có tên Nga. Năm 1945 Hồ Chí Minh
cướp chánh quyền ở Hà Nội. Nhưng chánh phủ VNDCCH lúc bấy giờ chưa công khai là
một chánh phủ Cộng Sản và chế độ Cộng Sản chưa được thực thi lúc bấy giờ. Mãi
đến năm 1954 chế độ Cộng Sản mới được thiết lập ở miền Bắc Việt Nam. Năm 1975
chánh phủ Sài Gòn sụp đổ. Cộng Sản chiếm miền Nam Việt Nam và thống nhất đất
nước dưới quốc hiệu Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Năm 1991 Liên Sô sụp đổ.
Ukraine được độc lập khỏi Nga. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam dưới thời Lê
Duẩn sát cánh với Liên Sô và chống lại Trung Hoa Cộng Sản. Hai quốc gia Cộng Sản
láng giềng đánh nhau đẫm máu ngoài biên giới năm 1979. Nhưng trước và sau khi
Liên Sô sụp đổ các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam như Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn
Đồng, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh xin hàng phục Beijing và
chấp nhận mọi điều kiện do Beijing đưa ra. Cho đến nay chế độ Cộng Sản vẫn tồn
tại vững mạnh ở Việt Nam nhờ hậu thuẫn của Trung Hoa Cộng Sản. Cố nhiên Cộng Sản
Việt Nam phải chịu một số điều kiện nặng nề nào đó không thể tiết lộ được.
3. Kinh tế yếu kém
Ukraine là xứ rộng lớn có đồng bằng phì nhiêu, có nhiều quặng
mỏ và kỹ nghệ sắt, thép, xe hơi vận tải, phi cơ, võ khí...nhưng kinh tế Ukraine
sau ngày độc lập vẫn còn thấp kém. Ukraine lệ thuộc Nga về dầu khí. Kinh tế Việt
Nam sau ngay ‘đổi mới’ theo kinh tế thị trường có nhiều tiến bộ so với thời kỳ
kinh tế chỉ huy. Đời sống dân chúng có cải thiện nhưng nhìn chung kinh tế Việt
Nam vẫn là kinh tế nông nghiệp thấp kém.
Quốc gia
Lợi tức
Thứ Hạng Trong Sạch
Việt Nam
1,900 MK 116/
177
Ukraine
3,860 MK 144/
177
4. Bị cường lân đe dọa
Ukraine bị cường lân Nga nằm về hướng đông đe dọa. Việt Nam
bị cường lân Trung Hoa phía bắc đe dọa. Đó là những điểm tương đồng của hai nước
Việt Nam và Ukraine. Giữa hai nước có sự dị biệt nào?
NHỮNG DỊ BIỆT
1. Năm 1917 chế độ Nga Hoàng sụp đổ ở Nga.
Nhưng Ukraine không phải là nước độc lập. Ukraine đương nhiên trở thành một
Cộng Hòa Nhân Dân theo chế độ Cộng Sản và chủ nghĩa Marx- Lenin từ vị thế của
một vùng đất đặt dưới sự đô hộ của đế quốc Nga. Ông Hồ Chí Minh được
đảng Cộng Sản Pháp đưa sang Liên Sô huấn luyện để trở thành cán bộ của Đệ Tam
Quốc tế Cộng Sản. Ông là người đưa chủ nghĩa Marx- Lenin vào Việt Nam và tự
nguyện đưa nước Việt Nam theo chế độ Cộng Sản dưới sự chỉ đạo của Moscow.
Khi Liên Sô sụp đổ, Ukraine vui mừng vì được độc lập thoát khỏi chế độ Cộng Sản
và sự kìm kẹp của Nga trong khi chế độ Cộng Sản vẫn tồn tại ở Việt Nam. Lần này
Cộng Sản Việt Nam đổi chủ từ Liên Sô sang Trung Hoa Cộng Sản. Tượng của Lenin
đứng sừng sửng ở Hà Nội trong khi nhân dân Ukraine ở Kiev đã đập phá tượng
Lenin. Như vậy người Cộng Sản Việt Nam nặng về việc cướp chánh quyền, bám lấy nó
để hưởng quyền lợi chớ không bao giờ nghĩ đến quyền lợi, tương lai của đất nước
và hạnh phúc của nhân dân.
2. Người Ukraine chán ghét người Nga và chế
độ Cộng Sản mặc dù có hai người Ukraine nắm quyền cao nhất ở Liên Sô: Nikita
Khrushchev (1894- 1971) và Leonid Brezhnev (1906- 1982) khác với tỉnh Hà Tĩnh
vinh hạnh sản xuất ba nhân kiệt lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam: Trần Phú (sinh
ở Phú Yên nhưng gốc Hà Tĩnh), Hà Huy Tập và Lê Duẩn (gốc Hà Tĩnh nhưng sinh ở
Quảng Trị). Trước đền thờ của Lê Duẩn ở Hà Tĩnh có câu đại để Chúng ta chiến
đấu vì Liên Sô và Trung Quốc. Người Ukraine không hân hạnh có Khrushchev và
Brezhnev giữa lúc quê hương họ mất trên bản đồ, tiếng nói của họ bị chôn lấp,
hàng chục triệu tiền nhân của họ bị ‘diệt chủng’ vì nạn đói giả tạo. Người
Ukraine có nhiều liên hệ với Nga về chủng tộc, chữ viết Cyrillic và Chính
Thống Giáo nhưng họ quá kinh sợ Nga. Trái lại Bác Hồ xem Lenin là cha,
thầy và cố vấn vĩ đại. Bác khóc òa khi hay tin Lenin mất như dân Bắc Hàn khóc
trước đám tang của cha con nhà họ Kim năm 1992 và 2011. Tố Hữu khóc sướt mướt
khi nghe Stalin chết.
3. Ukraine bị Nga thường xuyên đe dọa. Họ
dám tỏ thái độ chống Nga và luôn luôn tìm cách thân thiện với các nước dân chủ
Tây Phương. Họ ước ao được như Ba Lan hay Latvia, Estonia, Lithuania...nghĩa
là được gia nhập vào Liên Âu và trở thành thành viên của NATO. Việt Nam
chuyển sự thần phục từ Liên Sô sang Trung Hoa Cộng Sản sau khi Liên Sô sụp đổ.
Bắc Hàn cũng chịu ảnh hưởng của Trung Hoa Cộng Sản. Kim Il Sung (1912- 1992) gia
nhập đảng Cộng Sản Trung Hoa. Kinh tế Bắc Hàn lệ thuộc vào kinh tế Trung Hoa
Cộng Sản sâu đậm vì nước này không có quan hệ ngoại giao rộng rãi với cộng đồng
thế giới. Tuy vậy mức độ thần phục của Bắc Hàn đối với Trung Hoa Cộng Sản không
tệ hại như Việt Nam. Vì giữa Bắc Hàn và Trung Hoa Cộng Sản chưa có chiến tranh
với nhau mặc dù Bắc Hàn và Việt Nam đều có chánh sách đu dây giữa Beijing và
Moscow. Liên hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Hoa Cộng Sản bị ràng buộc bởi
‘Bốn Tốt’ và ‘Mười Sáu Chữ Vàng’. Đó là sự trừng phạt của Trung Hoa Cộng Sản đối
với Cộng Sản Việt Nam một thời ngã theo Liên Sô và xung đột võ trang với họ vào
năm 1979 và những năm kế tiếp ngoài các tỉnh biên giới. Từ năm 1950 Cộng Sản
Trung Hoa đưa người vào guồng máy chánh quyền và đảng Cộng Sản Việt Nam. Trường
Chinh, Hoàng Quốc Việt (Hà Bá Cang), Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn (Thọ),
Lê Đức Anh, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu...đều là những người Cộng Sản
thuộc khuynh hướng Mao. Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đong đưa giữa hai khuynh hướng
Maoist và Sô Viết. Cả hai quay hẳn về Liên Sô khi Mao Zedong ân cần tiếp đón
tổng thống Nixon của Hoa Kỳ năm 1972. Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười,
Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Trương
Tấn Sang, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng tái qui phục Trung Hoa
Cộng Sản sau khi chế độ Cộng Sản sụp đổ ở Đông Âu (1989) và lung lay ở Liên Sô.
Phan Văn Khải được đào luyện ở Liên Sô khi tập kết ra miền Bắc với tư cách là
học sinh thuộc gia đình tham gia kháng chiến ở Nam Bộ. Ông trù trừ trong việc
tán đồng các hiệp ước Hoa- Việt Nam 1999 và 2000 chấp nhận mất đất ngoài biên
giới Việt- Hoa, mất biển và đảo nên bị mang tiếng là người ‘tham nhũng nhất
nước’. Nông Đức Mạnh là người Tày trở thành người có quyền hành nhất nước vì
lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, tự nhận mình là người Choang (Zhoang), một sắc
tộc thiểu số ở Guangxi (Quảng Tây), và được xem là con của Bác Hồ với người đep
họ Nông! Trong những năm 2009, 2010, 2011 những người biểu tình chống Trung Hoa
Cộng Sản về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa đều bị công an đàn áp và lùng bắt gắt
gao. Các tướng lãnh công an đều được thăng chức nhờ đàn áp những cuộc biểu tình
chống Trung Hoa Cộng Sản tuy rằng những cuộc biểu tình này qui tụ không quá 300
người ở Hà Nội cũng như Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn). Năm 2010 lễ Ngàn Năm
Thăng Long được cử hành đúng ngày Quốc Khánh của CHNDTQ (01-10) và bế mạc vào
ngày Quốc Khánh của Trung Hoa Dân Quốc (Taiwan- Dai Loan) (10-10- ngày Song Thập).
Cuối năm 2011, nhân chuyến viếng thăm Hà Nội của Xi Jinping (Tập Cận Bình), các
học sinh mang cờ Trung Hoa Cộng Sản với 05 sao nhỏ chầu một ngôi sao lớn như ám
chỉ Việt Nam là ngôi sao thứ năm tức là một quận hay tỉnh của CHNDTQ. Tượng Lý
Thái Tổ được đúc ở Trung Hoa lục địa. Phim vua Lý Thái Tổ thiên đô từ Hoa Lư về
Thăng Long được quay trên lục địa Trung Hoa bằng đào kép người Hán! Chùa chiền
mới ở Việt Nam đều nguy nga tráng lệ và đầy ắp chữ Hán.
4. Ukraine lo sợ bị Nga hóa. Họ tìm
cách xích lại gần các nước Âu Châu ở phía Tây để học hỏi, phát triển và tìm tàn
dù an ninh. Từ năm 1990 về sau CHXHCNVN tự Hán hóa để nhờ tàn dù Trung Hoa Cộng
Sản bảo vệ chánh quyền để đảng viên CS trở thành QUAN CHỨC và ĐẠI GIA hầu thụ
hưởng vinh hoa phú quí lâu dài. Khi Trung Hoa Cộng Sản tấn công và chiếm quần
đảo Hoàng Sa năm 1974 của VNCH, Hà Nội im lặng. Năm 1988 một phần quần đảo
Trường Sa, những đảo san hô nhỏ hẹp không người ở nhưng có khả năng có những túi
dầu quan trọng, bị Trung Hoa Cộng Sản chiếm đoạt sau khi đánh bại Hải Quân của
CHXHCNVN. Beijing càng ngày càng lấn dần vào hải phận Việt Nam để khai thác dầu
khí cung ứng cho nhu cầu kỹ nghệ của họ. Họ tự cho có chủ quyền trên 3 triệu km2
ở Đông Hải mà người Trung Hoa gọi là Nam Hải (South China Sea) và cấm chánh
quyền Hà Nội cấp giấy phép thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng Lưỡi Bò chạy
dài từ Phi Luật Tân xuống đến Mã Lai- Indonesia. Trong 05 quốc gia khiếu nại chủ
quyền trên quần đảo Trường Sa (Việt Nam, Phi Luật Tân, Trung Hoa Dân Quốc <Đài
Loan- Taiwan>, Mã Lai, Brunei) chỉ có Phi Luật Tân kiện CHNDTQ sau khi nước này
chiếm bãi cạn Scarborough. Việc kiện thưa này không có kết quả gì nhưng Phi Luật
Tân không còn cách nào hơn. Quân sự? Không được. Ngoại giao? Không được. Chỉ còn
nhờ luật pháp quốc tế. Nhưng luật pháp quốc tế không đủ sức ngăn chận tham vọng
biển đảo và tài nguyên dưới lòng biển của một quốc gia đang vươn lên về phương
diện kinh tế và kỹ nghệ. CHXHCNVN không dám làm như Phi Luật Tân với hàng loạt
lý do tiêu cực che phủ bởi sự ‘yêu chuộng hòa bình’ và ‘đời sống của dân chúng’.
Yêu hòa bình hay bị Trung Hoa Cộng Sản nắm thóp từ thời Hồ Chí Minh, Phạm Văn
Đồng đến thời Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng,
Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang...? Luận điệu của Hà Nội rất hùng hổ, sắt máu
và ngạo nghễ khi nói đến chiến thắng Điện Biên Phủ và Đại Thắng Mùa Xuân năm
1975. Nào là Chín năm làm một Điện Biên. Nào là Ai thắng ai? Nào
là đánh thắng mọi kẻ thù dù to lớn đến đâu và xuất phát từ đâu. Nhưng họ
cấm đặt vòng hoa tưởng niệm các bộ đội tử trận trong Chiến tranh Biên giới với
Trung Hoa Cộng Sản năm 1979. Các lãnh đạo đảng Cộng Sản, chánh phủ CHXHCNVN phải
sang Trung Hoa lục địa báo cáo những điều mà Beijing cần biết nhất là ngoại giao,
nội vụ và quốc phòng. Cuối năm 2011, trước khi chánh thức cầm quyền trên lục địa,
Xi Jinping thăm viếng Hà Nội. Người mà ông cần gặp và trao mệnh lệnh là đại
tướng Lê Hồng Anh đặc trách Công an có bổn phận đàn áp biểu tình, theo dõi những
đảng viên Cộng Sản không theo chủ nghĩa Mao, lùng bắt những người đấu tranh đòi
dân chủ v.v. Đó là tất cả những ấn dấu cho thấy Việt Nam đặt dưới gọng kìm của
CHNDTQ. Việc Việt Nam mua võ khí, phi cơ, tàu chiến không cùng ý nghĩa tự vệ và
bảo vệ đất nước như các nước khác mà chỉ là một hành động có tính tượng trưng mà
thôi. Các nước khác mua võ khí, tàu bè, phi cơ nhằm tự vệ và bảo quốc vẫn biết
rằng họ không đủ sức đương đầu với một kẻ thù to lớn có một nền kinh tế đang lên.
Các nước ASEAN đó khác với Việt Nam vì họ không lệ thuộc Trung Hoa Cộng Sản như
Việt Nam. Tổng thống, thủ tướng, tổng trưởng quốc phòng hay tổng trưởng bộ nội
vụ các nước ấy không phải đến Trung Hoa lục địa để báo cáo như Việt Nam đã làm
vì cùng đảng Cộng Sản, cùng chủ nghĩa Marx-Lenin- Mao. Việt Nam còn bị ràng buộc
bởi Bốn Tốt và Mười Sáu Chữ Vàng như là điều kiện để được Beijing chấp nhận cho
tái thần phục! Chánh quyền Việt Nam có thối nát, vô khả năng và gây tai hại cho
đất nước đến đâu nó vẫn bền vững vì được Beijing bảo vệ. Việc đưa tàu ra phản
đối Trung Hoa Cộng Sản thiết lập giàn khoan dầu cách đảo Lý Sơn 220 km và bị tàu
Trung Hoa Cộng Sản đụng bể nhưng họ lại tạo cho Cộng Sản Việt Nam một thiên anh
hùng ca là đã tấn công tàu của họ 171 lần! Người nhái Cộng Sản Việt Nam lặn gần
tàu của họ 5 m và thả lưới có vật kim khí nặng <ý muốn nói thủy lôi>! Cách nói
đó tạo sự hào hùng giùm cho Cộng Sản Việt Nam. Sau đó không còn có tin gì về
cách đối phó của CHXHCNVN trước sự lấn biển và tạo việc đã rồi trong vùng Lưỡi
Bò rộng 3 triệu km2 trong Biển Đông để dần dần xác lập chủ quyền theo ý muốn của
Beijing. Trong im lặng Việt Nam tuân lịnh Beijing tự cô lập mình về phương diện
ngoại giao quốc tế.
ASEAN nể sợ Trung Hoa Cộng Sản nên quan tâm đến vấn đề Biển Đông một cách dè dặt.
Hội nghị ASEAN năm nay họp ở Miến Điện. Thông cáo chung của Hội nghị có đề cập
đến vấn đề Biển Đông, khác với Hội nghị ASEAN năm 2012 ở Cambodia. Nhưng thông
cáo chung không đề cập đến giàn khoan HD- 981 hay nói đích danh đến Cộng Hòa
Nhân Dân Trung Quốc.
Giả sử Trung Hoa Cộng Sản tấn công Việt Nam trên biển phần thua nghiêng về phía
Việt Nam. Hải chiến thời nay không có điểm nào giống với các chiếc thuyền gỗ và
cọc gỗ lim đóng dưới lòng sông Bạch Đằng thời Ngô Quyền và Trần Quốc Tuấn cả.
Việt Nam hoàn toàn xa lạ với hải chiến, việc xử dụng tàu chiến ngoài biển cả.
Biểu tình? - Không làm cho Trung Hoa Cộng Sản nao núng đến nỗi phải tháo gỡ giàn
khoan nhất là những cuộc biểu tình do chánh quyền cho phép có nghĩa là không
xuất phát từ sự đoàn kết của toàn dân và lòng yêu nước cao độ của họ. Những cuộc
biểu tình trước đây đều bị đàn áp, bắt bớ thì bây giờ những người đi biểu tình
do chánh quyền Cộng Sản bật đèn xanh cũng sẽ bị bắt sau khi thành phần có thẩm
quyền ở Việt Nam thân Beijing được lịnh phải bắt những người biểu tình bằng hình
thức Trăm Hoa Đua Nở?
Trông đợi Hoa Kỳ? Giữa CHXHCNVN và Hoa Kỳ có cam kết gì mà Hoa Kỳ phải đụng độ
với một đối thủ nặng cân? CHXHCNVN vẫn xem Hoa Kỳ là kẻ cựu thù.
Trông đợi vào Nga? Sự trông đợi này càng mơ hồ. Nga bán võ khí cho cả CHNDTQ,
nước đe dọa tấn công, và CHXHCNVN, nước bị đe dọa tấn công. Nga bây giờ không
còn là một nước Cộng Sản. Nga đang hợp tác với Trung Hoa Cộng Sản tập trận ở
Đông Bắc Á hầu gây rối loạn cho Hoa Kỳ nghĩa là Nga âm thầm ủng hộ việc làm của
Trung Hoa Cộng Sản ở Biển Đông!! Trước kia giữa Liên Sô và CHXHCNVN có ký hiệp
ước hũu nghị 1978. Năm 1979 CHNDTQ tấn công CHXHCNVN ở các tỉnh biên giới và
Trường Sa năm 1988 nhưng Liên Sô có can thiệp để giúp đỡ cho CHXHCNVN không?
Hòa bình? - Đó là điều kẻ gây hấn ước mong. Không ai yêu hòa bình bằng kẻ xâm
lăng.
Giả sử Việt Nam bị tấn công trên bộ, Việt Nam cũng không có khả năng thắng trận
vì Trung Hoa Cộng Sản có người khắp ba miền đất nước từ hai thập niên nay.
Cambodia và Lào ngã theo họ nên khả năng bại trận của Việt Nam rất rõ ràng.
Kháng chiến? - Các chiến khu rải rác khắp ba miền đã bị Trung Hoa Cộng Sản khai
thác (trồng rừng, lập xa lộ, khai thác quặng mỏ). Các dân tộc thiểu số ở miền
Bắc gốc ở Yunnan (Vân Nam) hay Guangxi (Quảng Tây) sẽ nghiêng theo Trung Hoa
Cộng Sản hay theo Cộng Sản Việt Nam? Họ gần với ai? Nghiêng theo bên mạnh hay
bên yếu? Người Việt gốc Hoa ngã theo Việt Nam? Toàn dân đoàn kết dưới sự lãnh
đạo của đảng Cộng Sản? Đó là những giấc mơ hiếm khi xảy ra. Nhưng đó lại là sự
thật hãi hùng.
Thực tế Trung Hoa Cộng Sản không cần đánh vẫn chiếm được Việt Nam qua những
người lãnh đạo do họ đào tạo, nuôi dưỡng và tiếp sức từ nửa thế kỷ qua. Họ cũng
không có lợi gì biến Việt Nam thành thuộc địa vừa mang tiếng vừa có trách nhiệm
nuôi dân thuộc địa. Họ giữ nguyên trạng như hàng chục năm qua để đưa dân sang
Việt Nam còn dễ dàng hơn sự đi lại của dân họ trong nước. Họ mua đất đai, cưới
vợ người bản xứ và Hán hóa phần đất chữ S này không mấy khó khăn. Họ khai thác
tài nguyên Việt Nam và biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng hư mục hay
độc hại của họ. Việc nuôi dân nghèo Việt Nam có 3 triệu người Việt Nam ở ngoài
nước chăm lo. Những con số dưới đây làm cho chúng ta ngạc nhiên không biết tại
sao Việt Nam luôn luôn mang ơn Trung Hoa Cộng Sản và cảm thấy mình quá nhỏ nhoi
với dân số 90 triệu người, khác với luận điệu hùng hổ thường ngày vào năm 1975.
Nhập cảng
Quốc gia
Trị giá
CHNDTQ 29.2 tỷ Mỹ
Kim
Hoa Kỳ
06.3 tỷ Mỹ Kim
Xuất cảng
CHNDTQ 14.2 tỷ Mỹ
Kim
Hoa Kỳ
19.0 tỷ Mỹ Kim
Nga chiếm Ukraine khó khăn hơn Trung Hoa Cộng Sản thôn tính
Việt Nam bằng giá rẻ nhất: đào tạo, nuôi dưỡng và chỉ huy giới lãnh đạo do họ
tạo ra để họ xé nát đoàn kết dân tộc bằng chiến tranh, chánh sách cai trị hà
khắc, kỳ thị giai cấp, kỳ thị địa phương, tham nhũng, hối lộ, bất công xã hội...
để biến nhân dân lân quốc nhược tiểu thành những người nô lệ tự nguyện. Giới
lãnh đạo được hưởng vinh hoa phú quí lâu dài; con cháu được quyền ‘thế tập’.
Quần chúng được ru ngủ bằng tứ đổ tường nhưng tự hào hưởng thụ những tiện nghi
xa xỉ nhất trên một đất nước chưa sản xuất được một chiếc xe đạp hoàn chỉnh được
người trong nước ưa chuộng sau 40 năm hòa bình! Thế giới chỉ đưa ra những phản
ứng thông lệ trước vụ tàu Trung Hoa Cộng Sản đụng tàu Cảnh sát Biển Việt Nam gần
giàn khoan HD- 981 cách đảo Lý Sơn 220 km bằng những ngôn từ ngoại giao được lập
đi lập lại từ hàng chục năm qua.
Phản ứng của Liên Âu và Hoa Kỳ trong vấn đề Ukraine có vẻ tích cực hơn nhiều.
Nga bị Liên Âu và Hoa Kỳ lên án về việc sáp nhập Crimea và cuộc trưng cầu dân ý
ở Donetz và Luhansk (11-05-14) và dọa có biện pháp trừng phạt Nga về phương diện
kinh tế. Quỹ Tiền Tệ Thế Giới cho Ukraine vay 17 tỷ để giải quyết những khó khăn
kinh tế. Ukraine có lập trường rõ rệt. Liên Hiệp Quốc nhóm họp và lên án Nga xâm
lăng Crimea và phủ nhận tính pháp lý của cuộc trưng cầu dân ý ở Crimea và việc
sáp nhập bán đảo này vào Liên Bang Nga. Ukraine không cô đơn.
Trái lại Việt Nam rất đơn côi, hậu quả của đường lối độc tài, giáo điều, kiêu
căng, hiếu chiến khiến cho Hà Nội tự cô lập mình về phương diện ngoại giao và
cắt đứt quan hệ hữu hảo giữa chánh quyền và dân chúng. Việt Nam là một nước độc
lập có 90 triệu dân lại thấy mình nhỏ nhoi trước Trung Hoa Cộng Sản. Nước Nhật
có 127 triệu dân nhưng không có cảm giác thấp hèn trước quốc gia đông dân hơn họ
gấp 10 lần. Ngoài sức mạnh kỹ thuật và võ khí họ có sức mạnh tinh thần: đoàn kết
dân tộc và niềm tin trọn vẹn của toàn dân đối với những người lãnh đạo của họ.
Lãnh đạo có tinh thần trách nhiệm và có viễn kiến cho tương lai đất nước và dân
tộc mới tạo được sự đoàn kết dân tộc chặt chẽ như vậy. Họ không tự gắn cho họ
tinh thần hiếu hòa hay hiếu chiến mà phải có những hành động thích nghi khi tình
thế đòi hỏi. Trước khi hành động họ phải nghiên cứu kỷ lưỡng Lợi, Hại, Thành,
Bại để tránh những hậu quả tệ hại do sự thành hay bại gây ra. Họ không thấy nhỏ
nhoi trước Trung Hoa trong chiến tranh năm 1894 và 1937. Họ không nhỏ nhoi trước
Nga trong chiến tranh năm 1904 và 1905. Họ đụng độ với Hoa Kỳ năm 1941 nhưng họ
là người Á Châu duy nhất nể phục Hoa Kỳ không phải vì bị bại trận vì bom nguyên
tử mà vì tinh thần nhân bản, dân chủ, sự kiến hiệu của tổ chức và quản lý, sự
phát triển khoa học kỹ thuật, kinh tế tài chánh kỳ diệu của Hoa Kỳ. Họ vẫn kỷ
niệm ngày Hiroshima và Nagasaki (06 và 09-08) nhưng không xem Hoa Kỳ là kẻ thù
mà là ân nhân đã giúp cho kinh tế của họ vươn lên thời hậu chiến như đã giúp cho
Đức và Ý ở Âu Châu. Việc giúp đỡ cho kẻ cựu thù giàu mạnh là điều không thể có
trong lịch sử nhân loại nhưng nó đã xảy ra với Hoa Kỳ và các nước trong phe Trục
(Đức, Ý, Nhật). Chẳng những vậy Hoa Kỳ còn viện trợ cho cả Nam Tư (theo chế độ
Cộng Sản) của thống chế Tito nữa. Trong thời kỳ cấm vận CHXHCNVN Hoa Kỳ làm ngơ
cho người tỵ nạn Cộng Sản gởi tiền về giúp cho thân nhân ở Việt Nam. Sau khi
bang giao với Việt Nam, Hoa Kỳ mua hàng xuất cảng của Việt Nam trị giá 19 tỷ Mỹ
Kim mà chỉ bán cho Việt Nam 6 tỷ Mỹ Kim. Ngoài ra hàng năm người Việt Nam ở Hoa
Kỳ gởi về nước gần 10 tỷ Mỹ Kim. Việt Nam có 10 tỷ Mỹ Kim mà không phải làm gì
đổ mồ hôi. Nhật khuyến khích trẻ em Nhật trau dồi Anh ngữ. Bộ Giáo Dục Nhật dùng
Anh ngữ trong các phiên họp của bộ. Họ không vong bản cũng không mất bản sắc
Nhật khi làm như vậy. Trái lại họ ý thức rằng Hoa Kỳ là quốc gia mà họ cần học
hỏi rất nhiều trên mọi lãnh vực. Trong tâm não họ không chối bỏ là con cháu của
Amaterasu, cũng không từ bỏ sự kính trọng và yêu kính Nhật hoàng của họ.
Ukraine có thể mất một phần lãnh thổ nào đó như Crimea và một phần lãnh thổ ở
phía đông và đông nam nơi tổ chức trưng cầu dân ý đòi tự trị ngày 11-05 vừa qua.
Việt Nam có thể mất lý lịch nếu tình trạng hiện hữu tồn tại và kéo dài trong một
thế giới phi chiến, phi hòa và phi đồng thuận nhau về mọi vấn đề từ quyền lợi
kinh tế đến không gian sinh tồn. Sự hiện hữu danh dự hay đau đớn tủi nhục của
nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam tùy vào sự định đoạt và lựa chọn của những
người lãnh đạo hiện nay và 90 triệu người dân Việt Nam. Chủ nghĩa Cộng Sản, đảng
Cộng Sản, sự tôn thờ lãnh tụ anh minh và những hào hùng giả tưởng không mang lại
Độc lập, Tự Do và Hạnh phúc thực sự cho đất nước và dân tộc.
Trang Phạm Đình Lân
art2all.net
|