1.
RỪNG CỌP FINOM
Một hôm,
tôi tạt qua bìa rừng Finom Đà Lạt, bỗng thấy một đám
trai trẻ gần chục đứa đang vây đánh một ông lão say rượu
để cướp bộ da cọp mà ông mang bên mình. Ông lão khoảng
bảy mưoi tuổi, người quắc thước, râu tóc bạc phơ, tay
chân quờ quạng. Có điều lạ, cả đám trai trẻ hung hãn
không hạ được ông, trái lại còn bị té ngã khi chạm vào
tay chân ông. Dưới mắt nhà võ, tôi chợt nhận ra ông lão
là một bậc cao thủ. Mỗi bước chân, mỗi đường tay đều là
những chiêu thức kỳ ảo tạo thành một màn thép vừa che
kín thân vừa làm đối thủ bị quật té khi chạm vào.
Tôi hiểu, ông lão đang đùa giỡn với đám trẻ và nhủ thầm:
“Thật là dịp may cho mình được diện kiến một bậc cao
minh.” Tôi liền nhảy vào, đánh giạt cả đám trẻ làm chúng
hoảng sợ bỏ chạy. Ông lão vắt bộ da cọp trên vai, khập
khiễng đi sâu vào rừng Finom, không nhìn cũng không một
lời với tôi.
Đứng ngẩn ngơ một hồi, tôi vụt chạy theo ông lão. Hơn
mười cây số đường rừng quanh co, heo hút, khó đi. Bóng
tối đang đổ dần xuống, khu rừng càng trở lên hoang vu,
rợn người. Cơ ngơi của ông lão là căn chòi trống trơ,
hiu quạnh nằm cạnh một cái rẫy bắp còm cõi gần như phó
thác cho trời đất trông coi. Tôi nhặt chiếc đèn dầu nằm
chỏng chơ trên nền đất. Đèn đã cạn sạch dầu từ bao giờ.
Tôi chạy ra ngoài nhặt một mớ củi khô nhúm lửa. Ánh sáng
lập lòe, xua tan phần nào sự âm u đang đè nặng cảnh đời
ông lão lẫn tâm hồn tôi. Tôi ngồi xuống “chiếc giường”
bằng mấy khúc cây rừng xù xì ghép lại. Ông lão lấy chai
rượu trắng ở góc chòi ngửa cổ uống một hơi rồi ném về
phía tôi:
- Uống đi!
Tôi đưa tay bắt lấy, lòng chạnh đau:
- Thưa cụ, cháu không biết uống.
Ông lão gật gù, một lát lại hỏi:
- Có hạ được cọp không?
- Dạ không ạ.
- Nếu không thì về ngay đi. Cọp sắp
đến rồi đấy.
Tôi nhìn ra khu rừng. Ngoài chút ánh sáng nhòe nhoẹt nhờ
mấy cành củi khô cháy dở, biến mọi vật quanh tôi kể cả
ông lão chập chờn như những bóng ma, còn lại chỉ là một
bóng đen dày đặc cùng với những âm thanh ghê rợn của khu
rừng nổi tiếng nhiều thú dữ. Bất chợt tôi lạnh người và
trái tim thắt lại khi nghĩ mình phải trở ra khu rừng giờ
này, còn ông lão thì chống chọi với thú dữ trong cảnh cô
đơn tuyệt cùng của trời đất và con người.
Đột nhiên những tiếng gầm gừ đâu đây mỗi lúc một rõ. Và
bất chợt một con cọp từ bên ngoài nhảy chồm vào căn
chòi, nhanh như chớp ông lão ngồi sụp xuống thủ thế. Con
cọp vừa từ trên cao hạ mình, ông lẹ làng tung một đấm
tay mặt, bồi tiếp cú đấm tay trái vào thân cọp và quất
thêm một đòn chân vào ngay hạ bộ của nó. Con vật chỉ còn
là một đống thịt mềm nhũn trước mặt tôi. Ông lão rút cặp
song phủ nơi liếp chòi, lấp loáng qua ánh lửa, đập lên
mình cọp cho tỉnh dậy và nói như người cha dạy con:
- Tại sao con không thương già? Đây là lần thứ ba, già
tha mạng. Một lần nữa, con chỉ còn là một bộ da khô.
Ông lão vừa nói vừa chỉ bộ da cọp đang nằm chơ vơ dưới
đất mà sáng nay ông đã mang theo bên mình. Con cọp nằm
rạp đầu như lạy tạ rồi nặng nề vươn mình kéo lê bốn chân
rời khỏi căn chòi và mất hút trong đêm. Đêm đó, tôi ngủ
cùng ông lão. Ông không hề nhắc lại chuyện hạ cọp.
2.
MỘT NHÀ HÀNH ĐẠO
ĐÃ CHỨNG NGỘ VỀ CUỘC ĐỜI
Từ đấy, tôi
xin phép cha tôi được vào rừng Finom sống và học võ bên
ông. Ông tên Lê Sáng, quê Lái Thiêu, lên rừng Finom cất
chòi, làm rẫy ẩn cư. Ông ít nói, không hề nhắc về đời
riêng và chỉ truyền dạy cho tôi khi đã mềm người vì
rượu. Những lúc đó dưới mắt thường, ông là người “nát
rượu” nhưng với tôi mỗi lời nói, mỗi hành động của ông
đều mang tính ẩn dụ, hàm chứa ý nghĩa của một con người
tự do, khinh thường số phận. Sống mỗi mình giữa khu rừng
Finom như ông, phải chăng là cách sống của một nhà hành
đạo đã chứng ngộ về cuộc đời?
Sau gần 4 năm bên ông, tôi đã học được biết bao điều vô
giá, từ những nguyên lý của võ đạo, cho đến những công
phu đặc dị của võ học như Liên hoàn tam cước pháp, Nhất
bộ tam mã phi tiễn cước, Liên hoàn nhất thủ giải pháp
công, Liên hoàn thối thủ giải pháp mã công, Di ảnh kỳ
hình liên bộ pháp thân.… Đặc biệt, tôi còn học được phần
nào cách khuất phục cọp bằng tay không, và biết chút ít
khôi hài hóa võ công bằng những chiêu thức hoạt kê, ngay
ở những tình huống chết người - vừa như để đùa giỡn với
cuộc đời vừa như thể hiện cái phong thái ung dung, điềm
thị của bậc võ công thượng thừa, không hề chấp chi đến
trạng tướng bên ngoài.
3.
ĐÔI MẮT DÕI VÀO BÓNG TỐI
Một hôm,
tôi từ nhà vào lại rừng Finom, đem thật nhiều rượu cho
ông. Căn nhà và cái rẫy còm cõi vẫn nằm đó trơ trọi cùng
những con cọp đêm đêm vẫn rạp mình khi qua lại nơi đây,
nhưng ông thì không còn. Rừng Finom chắc hẳn không lạnh
lẽo và hoang vu bằng tâm hồn tôi lúc này. Tôi đã nằm một
mình trên “chiếc giường” ghép bằng mấy khúc cây rừng xù
xì của ông, suốt nhiều đêm dõi mắt vào bóng tối cầu mong
ông trở về. Tôi khao khát được nhìn đôi mắt rực sáng đôn
hậu, giọng nói trầm trầm u uẩn cho đến tiếng rượu chảy
buồn buồn mỗi lần ông nâng chai mà uống. Tất cả đã cho
tôi sự sống, và hình như đã làm cho cây rừng xanh hơn,
suối rừng trong hơn và thú rừng hiền hơn,…
4.
VUNG CHÉN TIÊU SẦU
CÀNG SẦU THÊM
Mười
bốn năm sau, tôi về Lái Thiêu dò tìm tông tích người
thầy năm xưa. Mừng thay, ông vẫn còn sống, nhưng đau
lòng thay, ông không còn nhận ra tôi, vì nay ông đã là
một người… điên. Ông không còn thích uống rượu, chỉ
thích nhịn đói và chạy bằng chân không suốt ngày đêm
ngoài đường như cố đuổi theo ai đó và giỡn chơi với
chính mình. Nhiều ngày tôi phải chạy theo “dỗ dành” để
đút được miếng cơm cho ông.
Và, một ngày kia ông cũng chạy nhưng mãi mãi không còn
ai nhìn thấy ông trở về. Nghe đâu, ông điên đến chết vì
quá nhớ thương người con gái duy nhất của ông đã bị bắn
chết trong chiến tranh:
“Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi. Trời đất mang
mang, ai là tri kỷ. Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, Hồ trường, ta biết rót về đâu? Rót về Đông
phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn. Rót về
Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan. Rót về
Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt. Có người quá chén
như điên như cuồng. Nào ai tỉnh, nào ai say. Chí ta, ta
biết. Lòng ta, ta hay. Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ. Hà
tất cùng sầu đối cỏ cây”…
Bất chợt tôi nhớ đến bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá
Trác mà ông đã đọc sang sảng trong một đêm giữa rừng cọp
Finom khi ông đã thấm đậm những rượu và trăng. Bài thơ
hay một dòng đời điên đảo của một người mang chí lớn
ngàn năm chưa trọn? Và, tôi đã khóc hồn nhiên như trẻ
thơ trong đêm trăng ấy…
_____
Trích:“Người Đi Tìm Chân Như Trong Võ Đạo” của Phương
Tấn.