|
Lê Ngọc Hồ
Quốc-Nam,
Người Việt đồng cảm với
ḍng thi ca thế giới
|
 |
 |
Rất vui khi được thi sĩ
Quốc Nam cho biết sẽ ra cuốn sách nhan đề
“Quốc Nam qua nét nh́n của 200 nhân vật và độc giả”.
Vui mừng v́ từ trước đến nay tôi rất trân quư thơ văn, như Henri
Michaux đă viết: “Thơ là một quà tặng của Trời Đất, một hồng ân
không phải bỏ công sức ra làm là được. Chỉ tham vọng làm một bài
thơ, đủ giết chết thơ” (La poésie est un cadeau de la nature,
une grâce, pas un travail. La seule ambition de faire un poème
suffit à le tuer.)
Từ ngày ra hải ngoại, tôi rất vui khi thấy bất cứ 1 đặc san, 1 cuốn
sách thơ văn hay biên khảo nào, tôi tự nhủ thầm: Quư hóa quá, vườn
văn hóa của mẹ Việt Nam sẽ có thêm 1 bông hoa nữa, cho dù nhỏ bé
cũng đủ tô thêm, làm triển nở và phong phú thêm. Huống chi ở đây
cuốn sách dầy khoảng 900 trang, b́a cứng, in mỹ thuật. Làm công tác
văn học Việt Nam ở hải ngoại, thật là một hy sinh, nhiều phần là làm
cho không, biếu không, trừ vài trường hợp đặc biệt. Tiền cũng không,
mà danh cũng không. Bởi thời gian eo hẹp, không gian rộng lớn, độc
giả giới hạn (hầu như ở tuổi trung niên) mà độc giả c̣n phải “kéo
cày” cho căn nhà, cái xe. Chiến sĩ văn hóa đôi khi chỉ là chiến sĩ
vô danh. Tiếng thơ, lời văn bị ném vào không gian đen vô tận (black
hole). Thế nên có người đă nói theo cụ Nguyễn Khuyến:
“Viết đưa ai, ai “thích” mà đưa”
Thế nhưng thi sĩ Quốc Nam đă say mê làm công tác văn học không ngừng
nghỉ từ tháng 5 năm 1975 đến nay: Chủ bút bán tuần san Tre Xanh
(Hong Kong) từ tháng 5/75; tiếp tục thực hiện bản tin T.M.N. News
(từ 9/1975); Từ 8/1976 – Chủ bút báo Hoài Hương và Đông Phương, Cơ
Sở Văn Hóa Đông Phương, Giám đốc Saigon Radio, Sáng lập Giải Quốc Tế
Tượng VàngVN, Khu vườn văn hóa Việt Nam, Quốc Tế Đại Hội Văn Hóa VN
mừng Thế Kỷ XXI, Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ VN, Đại Hội Áo Dài Quê
Hương, vân vân và v.v… (Quốc Nam, Người T́nh Quê Hương, “NTQH”
trang 108-109).
Tác giả Quốc Nam làm thơ từ năm 12 tuổi (QN, Quê Hương Nước Mắt
trang 105). Ngay cả thời vàng son nổi tiếng nhất văn học Trung Hoa
đời Đường, với 2200 thi sĩ, chỉ có một số rất ít làm thơ khi tuổi
c̣n non như Quyền Đức Dư 4 tuổi, Lạc Tân Vương 7 tuổi, Lư Bạch 7
tuổi mới biết nói và cũng biết làm thơ ngay, Hoàng Phủ Nhiễm 10
tuổi… C̣n những vị khác th́ lớn hơn hay trưởng thành mới làm thơ, có
khi trọng tuổi mới làm thơ, như Cao Thích 50 tuổi mới làm thơ. Tác
giả Quốc Nam in thơ rất sớm, tuổi mới chưa đầy 24 đă in tập thơ đầu
tay. Ông viết rất nhanh và rất mạnh, liên tiếp 4 năm in 4 tập thơ và
2 tập truyện (QN-NTQH trang 109). Ngay đến văn hào William
Shakespeare chỉ trong thời kỳ từ 1601-1608, thời kỳ sáng tác mạnh
nhất và nhanh nhất là mỗi năm viết một vở kịch.
Ngoài ra, thơ của thi sĩ Quốc Nam có nhiều đặc nết:
Thi vị hóa địa danh:
Như Louis Aragon đă nói:
“Nghệ thuật làm thơ là phép luyện kim hóa ra vàng, biến đổi những
thứ tầm thường thành tốt đẹp.” (L’art des vers est l’alchimie
qui transforme en beauté les faiblesses).
Ai từng qua San Jose, thấy những đồi trọc đôi khi có những khóm hoa
popy vàng, một cảnh cũng có thể thấy ở nơi khác. Từ khi tác giả đặt
cho mỹ-danh là “Thung Lũng Hoa Vàng” th́ thi vị làm sao và
lăng mạn làm sao. Washington State một tiểu bang mưa nhiều nắng ít,
thông xanh um tùm được mệnh danh là Xanh Hoài Ngàn Năm, tác giả gọi
là “Cao Nguyên T́nh Xanh” vừa thi vị vừa lăng mạn, vừa có ư
nghĩa. V́ thành phố Ngọc Bích được mang danh tên của Chief Seattle,
có thể là một nhà môi sinh đầu tiên của Mỹ Châu nói riêng và thế
giới nói chung, và là một triết gia đă từng viết thư cho Tổng Thống
Mỹ kết án người da trắng phá hoại môi sinh. Chief Seattle nói những
bông hoa rừng là anh em của dân tộc chúng tôi… Cao Nguyên T́nh
Xanh là xanh t́nh người, t́nh thiên nhiên, một t́nh yêu màu
xanh, một ḥa b́nh màu xanh. Nếu tác giả Quốc Nam không gọi Portland
là Hồng Hoa Phố th́ đến 90% đă quên đi thành phố nầy có vườn
hoa hồng nổi tiếng trên thế giới.
Lời kêu gọi Trở lại quê hương làm lịch sử
Thức dậy đi hỡi óc tim biển cả,
Tuổi trẻ ơi những biểu tượng cuối cùng
Là niềm tin của gịng giống Tiên Rồng
Hăy trở lại quê hương làm lịch sử.
(QN, QHNM tr. 16)
Cũng giống như thi hào Victor Hugo trong bài Nhiệm vụ của nhà thơ
(Fonction du poète) trong đó có câu:
Dân ta ơi! Hăy nghe lời thi nhân,
Hăy nghe lời người ước mơ thánh thiện.
(Peuples! Écoutez le poète
Écoutez le rêveur sacré!)
Đúng như câu của Blaise Cendrars:
Nhà thơ là lương tâm của thời đại ḿnh
(Le poète est la conscience de son époque)
T́nh hoài hương
Khoảng hơn 800 năm trước công nguyên, thi hào Homer với hai thiên
anh hùng ca Iliad và Odyssey, qua nhân vật Odysseus
nói:
“Không có ǵ thuyết phục được tim tôi, không có chi ngọt ngào êm
dịu bằng quê cha đất tổ với những người thân yêu. Dù nơi đất khách,
người ta có được sống trong nhà vàng, điện ngọc chăng nữa.”
(But in my heart I never gave consent. Where shall a man find
sweetness to surpass his own home and his parents? In far lands he
shall not, though he find a house of gold)
Muôn vàn thi nhân và thi ca từng nói về t́nh hoài hương. Như
Lamartine trong Nostalgie và biết bao thơ Việt, thơ Đường… Gần đây
nhà thơ Quang Dũng:
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt,
Chiều xanh không thấy bóng Ba V́.
Nên chi Quốc Nam đă từng viết:
“Tâm tư chùng lắng mỗi hoàng hôn,
Ta mơ một sớm về quê mẹ.
Quên những đêm dài lệ héo hon”
(QN, QHNM tr. 51)
Cũng cùng ư với nhà thơ Quốc Nam, thi sĩ Jorge Luis Borges nổi tiếng
của văn chương Mỹ Châu Latin trong Nghệ Thuật Thi Ca (Art of Poetry)
có viết:
“Để nói lên rằng dù Ulysse (Odyssues) có ṃn mỏi trông đợi, nhưng
thấy được quê hương sau bao thập niên xa cách, vẫn trào dâng lệ cảm
khi thấy Đất Mẹ Ithaca.” (They say Ulysse, wearied of wonders,
wept with love on seeing Ithaca.)
T́nh hoài hương dâng cao độ của thi sĩ Quốc Nam, nên mặc dù sống ở
Mỹ (trong khi người dân Á Phi đă coi là Thiên đàng, là vùng trời mơ
ước) cũng chỉ là cuộc sống lưu đày đối với anh:
Ta lưu đày một trời giẫy chết
(QN, QHNM tr. 16)
Cũng giống như Bạch Cư Dị viết Tầm Dương là đất trích… Th́
Quốc Nam cũng cho rằng:
Hoa Kỳ đất trích, gối sầu hôm mai.
T́nh gia đ́nh
Rất nhiều Thi văn sĩ toàn cầu đă viết về t́nh gia
đ́nh. Thi hào Tagore người được giải văn chương Nobel, có một truyện
ngắn rất cảm động về t́nh cha con: Kabuliwallah. Văn hào
Anton Chekhov với truyện Oyters, văn hào Hemingway với truyện
A Day’s Wait, thi sĩ Sultan Walad (con của thi hào Rumi thế
kỷ 13) của vùng Cận Đông… một bài thơ về cha ḿnh. Thời đại chúng ta
ở Việt Nam có nhà thơ Quang Dũng:
Mẹ tôi, em có gặp đâu không?
Bao xác già nua ngập cánh đồng.
Tôi cũng có thằng con bé dại,
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông.
Nữ sĩ Sappho có những câu thơ tuyệt vời về con gái của nàng:
“Tôi có người con gái đẹp tuyệt vời, con yêu Cleis của tôi, toàn
vàng như bông hoa…”
(I have a beautiful daughter, golden like a flower, my beloved
Cleis…)
Cũng như thi sĩ Quốc Nam có người con gái yêu thương ra đi khi mới
nửa chừng xuân, thi sĩ Anh Ben Johnson (1573-1637) có người con trai
yêu dấu ra đi khi tṛn 7 tuổi:
“Cho con trai đầu của tôi
Giă từ con yêu của tôi
Lỗi tôi quá hy vọng vào con, hỡi con yêu
Bảy năm trời con sống cùng cha
Và cha đă trả con cho số mạng
Con ra đi chính ngày sinh nhật thứ bảy của con”
(On my first son
Farewell, thou child of may right hand; and joy;
My son was too much hope of thee, loved boy.
Seven years thou were lent to me, and I thee pay,
Exacted by thy fate, on the just day).
*Child of my right hand Benjamin, the child’s name, means this in
Hebrew
Cũng vậy, thi sĩ Quốc Nam từng viết về gia đ́nh, về cha, mẹ, chị và
nhất là ba người con của ông.
“Con ra đời giữa tháng tư tưởng niệm.”
(QN, QHNM tr. 64)
Hay
“Sao Bố không bỏ làm báo đi? Làm báo như Bố đâu có tiền…”
(QN, QHNM tr. 42)
Và cho người con gái yêu dấu:
“Ly Ly, rồi con sẽ lớn khôn. Con là nguồn hy vọng rất xanh của Bố
và Mẹ.”
(QN, QHNM tr. 28)
Và những vần thơ cho người con gái thân thương của ông:
“Bố thương yêu con gái,
Đặt tên một loài hoa:
Thủy Tiên, bố gọi măi,
Huyền sử quê hương ta”
(QN, NTQH tr. 64)
T́nh Yêu
Trong khía cạnh t́nh yêu, thi sĩ Quốc Nam đă coi Người-T́nh-trăm-năm
như Quê Hương ngh́n trùng xa cách. Những vần thơ t́nh của Quốc Nam
có lẽ cũng đồng cảm với ḍng thi ca thế giới…
Từ khi có loài người là có T́nh Yêu, nên chi thi sĩ Martin Buxbaum
có câu:
“When Adam found himself
In the Garden of Eden
He asked
<Why, oh, Lord, am I here?>
And when he saw a woman
He knew"
(Khi Adam thấy ḿnh trong vườn Địa Đàng
Adam hỏi:
<Sao con ở đây, thưa Chúa>
Và khi Adam thấy người đàn bà (Eve)
Adam hiểu liền.)
* Ngay trong Cựu Ước, thiên Diễm T́nh Ca có những lời t́nh tứ tuyệt
diệu:
Nàng:
Hôn em đi, hôn nữa đi anh
T́nh anh ngọt nhiều hơn rượu vang
Tên anh đậm ướt hương nồng ngát
Gái đào tơ khao khát yêu chàng.
(Sách Salomon)
1.1 The superlative song, which is Solomon
1.2 May he kiss me with the kisses of his mouth for your expressions
of endearment are better than wine.
1.3 For fragrance your oils are good.
-. Like an oil that is poured out is your name
-. That is why maidens themselves have loved you.)
(Holy Scriptures, The song of Solomon, 1, 1-3 p.769).
* Ca dao Việt Nam
Có những câu đơn sơ, chân thành, không thiếu sâu sắc mặn mà duyên
dáng:
Sao mai ba cái nằm ngang,
Thương em từ thuở mẹ mang trong ḷng.
Hay
Thương em từ từ thuở mẹ về cùng cha.
Hoặc
Nước chảy re re, con cá he nó x̣e đuôi phụng,
Anh xa em rồi trong bụng c̣n thương.
* Kinh thi Trung Hoa
Một thứ ca dao của Trung Hoa có câu:
Líu lo đôi chim oanh
Bên cồn cát ven sông
Nàng, ngoan hiền duyên dáng
Chàng, anh tài ước mong.
(Oan oan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu)
* Sappho
Nữ thi sĩ Sappho của thế kỷ 6 trước công nguyên có những vần thơ yêu
say đắm hay gợi cảm về dấu ấn sau cuộc truy hoan lần đầu của cô dâu:
“Như trái táo chín mọng đỏ trên cành cao, trên cành cao nhất mà
kẻ hái không nhận thấy, hơn nữa khi nhận thấy cũng không với tới để
ngắt trái
Như dạ hương lan (hyacinth) triền đồi, người chăn cừu bước qua, dẫm
chân lên hoa tím nhạt.”
(Like the sweet apple turning red on the branch top, on the top of
the topmost branch , and the gatherers did not notice it, rather,
they did notice, but could not reach up to take it.
Like the hyacinth in the hills which the shepherd people step on,
trampling into the ground the flower in its purple). Translated by
Richmond Lattimore.
(Bernard Knox, Classical Literature, p. 230)
* Chang Chi Kin
Nhà thơ Trung Hoa với bài
“Canh thức chờ trăng
Người yêu tôi, biết tôi chờ.
Trăng khuya hẹn đến, trăng mơ ánh vàng
Ánh trăng mơn trớn thân nàng
Cách xa dịu bớt, mơ màng gần nhau.”
(Watching the moon
My beloved knows
That I watch thee, O moon
And when thy beams caress her,
Our separation is less cruel)
Translated by Gertrude L. Joerissen
* Ronsard
Nhà thơ Pháp Ronsard đă kêu mời người yêu
“Em yêu dấu! Hăy nh́n bông hồng đỏ thắm!”
(Mignonne! Allons voir si la rose!)
* Thi hào Shakespeare
– Roméo and Juliet
“Roméo – Tạm biệt! Tạm biệt em! Hôn em rồi anh xuống (chàng
leo xuống)
Juliet – Anh đi thiệt sao, người chủ yêu của em, người chồng yêu
của em?”
(Roméo – Farewell, farewell! One kiss, and I’ll descend (he goes
down)
Juliet – Art thou gone so, love – lord, husband friend?).
– As you like it
Shakespear viết trong vai Rasalind
(Nói với Oliver và Celia)
“Chàng và nàng t́nh tim trong tim"
(To Oliver and Celia)
"You and you are heart in heart"
– A Midsummer Night’s Dream
Trong vở kịch này thi hào Shakespeare đă dùng nhân cách
Em và anh
(chàng th́ thầm)
Em và anh
Và nếu không nhiều hơn
chỉ có em và anh
Cái chi săn sóc em hay anh
(You, love, and I,
[He whispers]
You and I,
And if no more than only you and I
What care you or I?) (1)
* Robert Frost (1874-1963)
“Chàng ước mong, tim nàng trong hộp vàng,
Được gài lại bằng một hàng kim bạc”
(And whished her heart in a case of
gold (2)
And pinned with a silver pin)
* Những câu thơ t́nh trong sáng
Có những câu thơ t́nh Anh Ngữ trong sáng, đơn sơ nhưng sâu sắc như
ca dao VN. Đây là vài câu:
The moon is light
The sky is blue
Here I am
Where are you?”
(Trăng sáng
Trời xanh
Em đây
Anh ở đâu?)
Cũng như câu:
“Come live with me, and be my lover”
(Đến sống với anh, và là người yêu của anh)
Mấy câu thơ này dùng yêu vận (vần lưng) giống như lục bát VN.
Light-sky
Live-me-be
* Boris Pasternak
Văn, thi sĩ người Nga trong tác phẩm Bác sĩ Zhivago có những bài thơ
t́nh cho người yêu Lara. Trong bài thơ Hẹn em có những
câu:
“Anh mang trong ngực muôn đời.
Dáng em yêu dấu tuyệt vời dấu in.
Cho dù thế giới không tim,
Yêu nhau luôn măi chúng ḿnh, niềm tin”
* Catullus (-84 trước Công nguyên – 54 B.C.)
Thi sĩ sống ở La Mă (Rome) có những vần thơ yêu cháy bỏng:
“Hăy cho anh một ngàn nụ hôn, rồi một trăm lại một ngàn nụ hôn
nữa, thêm một trăm thêm nữa một ngàn không ngưng nghỉ…"
(Give me a thousand kisses, then a hundred, another thousand next,
another hundred, a thousand without pause…).
Thi sĩ khát t́nh như cát sa mạc gần Cyrena khát nước mưa trời.
* Thi sĩ Virgil (70-19 B.C. trước Công nguyên)
Thi sĩ La Mă Virgil trong trường thi Aeneid tả nữ hoàng Dido
say mê, si t́nh. Thi sĩ cực tả sự đau khổ của nàng giống như băo tố
làm găy đổ cây sồi già.
“Giông gió đă cắt đổ gốc sồi già mạnh mẽ và thân cây bị găy đổ…”
(To tear away an oak tree hale with age. The wind and tree cry, and
the buffeted trunk…)
“Tâm trí nàng bị xé rách v́ đau khổ tột cùng,
Dido mắc điên cuồng dữ dội muốn chết”
(So broken in mind by suffering,
Dido caught her fatal madness and resolved to
die)
* Thi sĩ La Mă Propertius (50 B.C.-16B.C.)
Trong bài thơ thứ 16 của cuốn thơ thứ 3 (Books III) thi sĩ có câu
thơ:
“Midnight, and a letter comes to me from our mistress
Telling me to come to Tibur, at once!”
(Nửa đêm nhận được thư nàng,
Hẹn nhau gặp mặt bên sông Tibur)
Rồi thi sĩ kể ra những lư do chính đáng chàng không thể không theo
lời nàng: như sợ nàng khóc, nàng giận dỗi cả năm trường, không ai có
thể cho người t́nh lư tưởng buồn, thật t́nh tứ cùng nàng dưới ánh
trăng ngà với con chó xinh của nàng. Ai mà có thể từ chối một biến
cố t́nh cảm lăng mạn, tay trong tay với người yêu đẹp như nàng Vệ
nữ. Hơn nữa dù thi sĩ có bị kẻ côn đồ hay kẻ t́nh địch đập chết.
Nàng sẽ mang hương hoa ra mộ phần chàng………
* Thơ t́nh đau khổ v́ quá yêu, quá ghen
- Nữ sĩ Sappho đă viết:
“Trái tim trong lồng ngực tôi chấn động
Tiếng nói tắt lịm
Tôi không thể thốt một lời”
(My breast all the heart is shaken…
The voice die
I can say nothing)
- Nữ sĩ nhớ người yêu Anaktoria, mà nữ sĩ yêu biết bao nhiêu đă ra
đi.
“Nhớ Anaktoria, người yêu đă xa ta rồi”
(Remembering Anaktoria who has gone from me)
– Hay nữ sĩ quá đau khổ v́ yêu, v́ ghen
“…sét đánh bên tai tôi”
(…my ears are muted in thunder)
- Hoặc tả những cảm xúc quá mạnh đến thi nhân:
“Tôi cảm thấy tôi đổi khác, tôi cảm thấy sự chết đến gần ḿnh”
(I can feel that I have changed, I fell that death has come near me)
* Thơ t́nh thần tượng hóa người yêu đẹp nhất trên
đời
Thi hào Shakespeare có viết nhiều bài thơ thể Sonnet hàng trăm, hàng
ngàn, trong đó có những bài cực tả người yêu.
“Đôi mắt nàng sáng rực như mặt trời,
Môi nàng thắm hơn màu sơn đỏ thắm”
(My mistress’eyes are nothing like the sun.
Coral is far more red than her lips’red)
…
“Tôi mê tiếng nói của nàng
Nhạc âm nào giống giọng vàng lời hoa”
(I love to hear her speak, yet will I know
That music hath a far more pleasant sound)
* T́nh thơ trong văn chương VN
Xưa:
– Chinh phụ ngâm Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích
(?).
Nỗi nhớ thương cao chất ngất của chinh phụ tiễn chồng ra trận:
“Đưa chàng ḷng rười rượi buồn.
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Nước có chảy mà phiền khôn rửa,
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây,
Nhủ rời tay lại cầm tay.
Bước đi một bước giây giây lại dừng”
– Truyện Kiều của Nguyễn Du
Đại thi hào Nguyễn Du tả nỗi nhớ nhung của chàng Kim bằng những lời
thơ tuyệt đẹp, trau chuốt đầy mỹ cảm:
“… Nỗi nàng canh cánh bên ḷng biếng khuây.
Sầu đong càng lắc (hay khắc) càng đầy,
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.
… Mặt mơ tưởng mặt, ḷng ngao ngán ḷng.
… Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
… Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng t́nh”
– Lục Vân Tiên của Nguyễn Đ́nh Chiểu
Qua nét bút chân thành, đơn sơ và hấp dẫn, cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu tả
cảnh Nguyệt Nga vấn vương Vân Tiên:
“Nguyệt Nga than thở “t́nh ôi là t́nh”
… Chữ ân chưa trả, chữ t́nh lại vương.
Nặng nề hai chữ uyên ương,
Dây sầu ai khéo vấn vương vào ḷng”
Nay.
Thơ t́nh hiện đại rất phong phú không sao đếm được như sao trên
trời. Dù sao cũng xin trưng một vài bài thơ t́nh điển h́nh của thời
đại:
- Hữu Loan với Màu tím hoa sim
“Yêu nàng như t́nh yêu em gái
… Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được nh́n nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một ḿnh đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
Ngày xưa…
Hữu Loan khóc Lê Đỗ Thị Ninh như Lamartine khóc Elvire. Elvire chỉ
là người t́nh của Lamartine mà thi sĩ khóc thương đau đến thế, c̣n
Elvire VN Lê Đỗ Thị Ninh vừa là em gái, vừa là người t́nh, người vợ
trẻ mới cưới của nhà thơ Hữu Loan. Lời thơ khóc thương đau chất
ngất, thấm thía biển sầu, nỗi nhớ băng sơn trùng trùng điệp điệp.
- Quang Dũng
Nhà thơ Quang Dũng có những câu thơ t́nh với nỗi nhớ mênh mang, nỗi
buồn vời vợi, nhẹ như sương và dễ thương như tơ:
“Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai.
… Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ”
- Quốc Nam:
Thi sĩ cũng bị cuốn hút trong ḍng thơ t́nh bất tận của muôn xưa và
muôn sau đă sáng tác rất nhiều thơ t́nh:
“Với nhau, yêu dấu ạ,
T́nh yêu ta thăng hoa.
Bờ môi nào buông thả,
Bàn tay nào giao thoa”
Hoặc
“Nhớ em ngàn năm réo gọi,
T́nh yêu như thuở đầu đời.
Gối chăn đếm sầu vời vợi,
Quanh ḿnh chỉ bóng đêm rơi”
(QN, NTQH, tr. 61 & 62)
Khi con người c̣n trái tim th́ c̣n thơ t́nh. Có người thắc mắc thời
đại nguyên tử, tin học, toàn khoa học th́ sao? Thưa ngôn từ có thể
khác, nhưng t́nh-tim vẫn vậy. Nên chi có những thơ t́nh toán học,
tin học … Như:
Email một lá t́nh thư,
@ địa chỉ đợi chờ reply.
… Computer good, sao hoài bặt tin.
Hay T́nh Thơ chàng nàng trong giờ khoa Vật lư:
“Em liếc anh tốc độ tối đa,
Đôi luồng nhỡn tuyến chợt giao thoa.
Bàng hoàng sóng điện vào vô cực,
Quĩ đạo tinh cầu lại lướt qua”.
v.v. và v.v…
Khoảng 2000 năm trước, thi sĩ Ovid của La Mă đă viết Nghệ Thuật
T́nh Yêu (The Art of Love Book I, Book II, Book III) th́ 2000
năm sau cũng có những văn thi sĩ hay nhà khảo cứu cũng sẽ viết
Art of Love… T́nh yêu sẽ bất diệt và sẽ c̣n măi măi khi c̣n loài
người có trái tim.
Nói về đặc nết của thi sĩ Quốc Nam th́ c̣n nhiều, nhưng nhiều quư vị
đă nói hết rồi, nên tôi chỉ xin lướt qua.
Ngoài ra, thi sĩ Quốc Nam cũng có những nét tương
đồng với các thi sĩ khác. Thi sĩ Alfred de Vigny là sĩ quan của đội
pháo thủ nhung phục đỏ, trong khi đó thi sĩ Quốc Nam sinh viên sĩ
quan vơ bị với alfa đỏ. Thi sĩ nổi danh Robert Frost, người đọc thơ
ḿnh trong ngày Tổng Thống Kennedy tuyên thệ nhậm chức, là một nhà
báo thanh niên rất đẹp trai; thi sĩ Quốc Nam cũng vậy, một chủ báo,
chủ bút đẹp trai và hăng say…
Từ ngày ra hải ngoại, thi sĩ Quốc Nam xuất bản đầu tiên “Quê
Hương Nước Mắt” (1987). Thật là Quê Hương của chúng ta đă tràn
ngập máu, mồ hôi và nước mắt lên từng tấc đất từ Bắc chí Nam. Không
tràn ngập nước mắt sao được khi triệu nhà cửa bị tan hoang, mấy
triệu dân và quân hai miền tưới máu, hàng triệu dân quân thương tích
hay phế tật, và số bom đạn vùi dập mảnh đất bé nhỏ của quê ta nhiều
hơn bom đạn thời Đệ Nhị Thế Chiến. Cha phải xa con, vợ phải ĺa
chồng, mẹ già ṃn mỏi chờ những đứa con đă phơi thây chiến địa. Bao
mái tóc xanh quấn vành khăn trắng, bao lệ đổ trên má chinh phụ vừa
cưới nhau đă xa chồng, bao lệ khô trên má nhăn nheo của mẹ già chiếc
bóng, bao ngơ ngác trẻ thơ mồ côi… bao con mắt lạc thần của người
quả phụ v.v…và v.v… Rồi th́ hàng nửa triệu người vượt biên chết trên
biển cả, trong rừng rú biên cương. Biết bao nạn nhân của hải tặc bị
cướp bóc, bị giết, bị hăm hiếp, bị lính Thái Lan bắn khi đă tới bờ…
Bao phụ nữ bị mua làm nô lệ t́nh dục… làm đầy tớ không công… Có c̣n
nước mắt nào cho quê hương quằn quại khổ đau của chúng ta, nên chi
thi sĩ Quốc Nam đă viết:
“Quê hương gấm vóc đă ngập đầy nước mắt và đau thương chất ngất”.
(QN, QHNM tr. 12)
Và những bài thơ đầy thương cảm như
“Vành khăn tang cho Quê Hương, Bảy năm tang
quê…”.
Tư tưởng của ông trùng hợp với tư tưởng của các
thi văn sĩ toàn cầu.
Alfred de Vigny đă viết:
“Tôi yêu mến sự cao cả của nỗi đau của nhân loại.”
(J’aime la majesté des souffrances)
Voltaire cũng cùng ư ấy:
“Loaị thơ vĩ đại luôn chú tâm sự bất hủ hóa những thống khổ của
nhân sinh.”
(La grand poésie s’occupera toujours d’éternisser
les malheurs des homes.)
Rồi tiếp đến, thi sĩ xuất bản tập Người T́nh Quê Hương lần
đầu vào năm 1999, rồi tái bản những lần kế tiếp. Cũng có thể là ông
đă nhân cách hóa Quê Hương thành Người T́nh.
“Em, t́nh yêu nào lớn
Bằng Quê Hương Tự Dân”
(QN, NTQH tr. 76)
Cũng có thể là Quê Hương là nơi sinh ra những người t́nh của ông:
“Kỷ niệm đầu trên ghi dấu xanh,
Anh theo tiếng gọi nhân t́nh.
Mắt em thăm thẳm mùa xuân thánh”
(QN, NTQH tr. 72)
Hay
“…anh đă gặp em, một người thiếu phụ duyên dáng và tâm hồn ngát
một màu thơ…”.
(QN, NTQH tr. 14)
Cũng như ông, Lamartine với nàng Elvire tạo nên bài thơ Le
Lac.
Nhà thơ nổi tiếng của Mỹ Châu La Tinh Pablo
Neruda với những bài Body of a woman, So that you will hear
me, … hay Here I love you.
Hay nữ sĩ Yosna Akiko của Nhật Bản thế kỷ
20, có những bài thơ t́nh yêu tuyệt vời như Black Hair, Amidst
the note…
Tựa đề của hai tập thơ ông đă dùng những từ rất thân thương, rất gợi
cảm, rất hấp dẫn, rất t́nh cảm: Quê Hương – Nước mắt , Người t́nh
– Quê Hương, đă tạo một văn ảnh đầy xúc động: Người Yêu tôi khóc
th́ trời long, đất lở, tinh tú quay cuồng, nhịp tim nổi loạn…
***
“Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (Lư Bạch)
(Trước mắt phong cảnh tuyệt đẹp mà không tả được,
V́ thơ của Thôi Hiệu đă đề trên đầu rồi)
Lư Bạch là nhà thơ vĩ đại của thời Thịnh Đường ngang tài với nhà thơ
Thôi Hiệu, mà c̣n không dám đề thơ ở Lầu Hoàng Hạc. Huống chi trước
tôi đă có 100 vị trưởng thượng uyên bác viết về nhà thơ Quốc Nam và
tác phẩm của ông. Bao nhiêu lời hay, ư đẹp đă viết cả rồi, tôi đâu
c̣n chi để viết. Nhưng với t́nh thi văn hữu cả 1/3 thế kỷ chẳng thể
nói không, nên cũng phải nói theo Nguyễn Du:
“Cũng liều nhắm mắt, đưa “tay”.
Tất cả như 1 bức tường cẩm thạch đă xây xong, thôi th́ chỉ c̣n cách
t́m một kẽ hở nào (cho dù nhỏ bé) để chen chân. Chẳng dám theo xa lộ
văn chương mà các bậc đi trước, đành t́m lối khác nhưng gập ghềnh
khúc khuỷu. Xin độc giả thông cảm cho, nói theo kiểu Ngô Thời Nhậm:
“Gặp” hoàn cảnh ” thế thời phải thế”.
Hơn nữa vốn trân quư thơ, như nhà đại bút thời Đường Trần Tử Ngang
đă nói: “Văn chương là tấc ḷng gửi vào thiên cổ, đâu phải chuyện
tài hoa phấn sức một thời”. Trong thời Đường, v́ trang trọng bảo
vệ thơ của ḿnh, có người đă mất mạng v́ không chịu nhường thơ của
ḿnh cho kẻ quyền thế, hay không lập được sự nghiệp công danh như Ôn
Đ́nh Quân không chịu để Tể tướng Lệnh Hồ Miến đứng tên tác phẩm từ
Bồ Tát Man của ḿnh, nên bị d́m không được tiến thân và c̣n bị đánh
gẫy răng nữa. Như vậy thơ quan trọng hơn mạng sống, hơn công danh sự
nghiệp.
Tư tưởng Đông và Tây đă gặp nhau khi Voltaire
nói:
“Thơ là hùng biện du dương”.
(La poésie est l’eloquence harmonieuse).
Và thi sĩ Alfred de Vigny cũng viết:
“Thơ là sự Đẹp tuyệt vời của sự vật, và sự chiêm ngưỡng cái Đẹp
ấy trong lư tưởng”.
(La poésie est Beauté suprême des choses et contemplation idéale de
cette Beauté).
Thơ đẹp lắm, Thơ quư lắm, Thơ là một cơi riêng có khi tách rời khỏi
tác giả. Như nữ thi sĩ Sappho của thế kỷ 8 trước Công nguyên, mặc dù
nữ sĩ mắc “đồng tính luyến ái” nhưng thơ nữ sĩ hay tuyệt vời cho dù
đă trải hơn hai ngàn năm qua, vật liệu ghi thơ đă mục nát, có những
câu thơ thiếu trước hụt sau, mà người ta vẫn ghi và in lại như câu:
…
On you… dressed in her peasant garb…
Và thi sĩ Nguyên Chẩn, người cấu kết với hoạn-quan đương triều mong
được trọng dụng, để có chức tước trong triều. Thiên hạ coi thường tư
cách ông, nhưng vẫn trọng thơ ông v́ hay quá. Người ta không quên
được những lời thơ của ông khi viết về Lư Bạch bị giáng:
“…Tin ông bị giáng Cửu giang lúc này
Đang đau gần chết, ngồi ngay,
Gió ùa đêm tối mưa bay vào pḥng”
Ông cùng thời với thi hào Lư Bạch vào thế kỷ 8 sau Công nguyên.
Tóm lại, nàng “Thơ” đẹp lắm, nàng Thơ ơi! V́ thơ đáng yêu, đáng quư,
đáng trọng lắm trên cơi trần gian. V́ Charles Henri Ford có viết:
“Thơ cũng là ông Trời vậy”
(Poetry is also God)
Và Pablo Neruda trong The Nobel Addresse nói rằng:
“Chúng tôi đă t́m thấy trong cuộc hành tŕnh đường trường này
thang thuốc thần để làm thơ. Tôi tin tưởng thi ca thật vô cùng trọng
thể và là hành động bất chợt của nỗi cô đơn, t́nh hiệp nhất, gịng
cảm xúc của thế giới tư nhân và sự tiết lộ bí mật của thiên nhiên
được phân phối đồng đều”.
Xin cám ơn 2 tác phẩm “Quê Hương Nước Mắt và
Người T́nh Quê Hương” của thi sĩ Quốc Nam nói riêng, và tất
cả các tập thơ, văn, biên khảo… của tất cả các tác giả nói chung, v́
vườn hoa thi văn của Mẹ Việt Nam tại hải ngoại đầy hoa thơm, cỏ lạ,
hương sắc ngạt ngào.
LÊ NGỌC HỒ
Trang Quốc Nam
art2all.net
|