|
Quốc Nam
Vũ Kư
QUỐC NAM
Nhà văn hóa Việt Nam
trong thời đại ly hương
.
LTS.
Giáo
Sư/ Tác Giả/ Nhà văn Vũ Kư (1922-2008) là một Học Giả danh tiếng của
Việt Nam. Tại hải ngoại, ông là GS Giám Khảo Viện Tú Tài Quốc Tế ở
Londres và Genève, Hội Viên Hiệp Hội Các Nhà Văn Vương Quốc Bỉ
(SABAM) ở Bruxelles, Hội Viên Học Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á (Yale
University, USA).
Học giả Vũ Kư sinh năm
1922 tại xă Dương Đàn, quận Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Tạ thế ngày
14/11/2008 tại vương quốc Bỉ. Xuất thân từ một gia đ́nh Nho phong,
Ông và người em út là danh họa Vũ Hối đều là chiến sĩ cách mạng và
đều là nạn nhân của CSVN. Ông tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng từ năm
1946, bị Việt Minh kết án 20 năm tù khổ sai ở trại giam Liên khu V
Tiên Lập. Sau năm 1975, VC bắt giam ở Saigon và trại Tiên Lănh,
Quảng Nam (1976-1980).
Trước năm 1975, học giả Vũ Kư đă hoạt động:
- Dạy học ở Lyceum Pasteur, Hà Nội (1946); Trường Quốc Học (Huế),
trường Pétrus Kư (Saigon), và một số trường trung học khác. Viết
văn, viết báo, viết sách (với trên 26 tác phẩm sáng tác, biên khảo,
dịch thuật...).
- Biên tập viên Đài Phát Thanh Saigon (Diễn Đàn Thi Văn).
- Hội Viên Hội Điền Chế Tự Điển Việt Nam.
- Hội Viên Hội Nhà Văn VN.
Từ năm 1980, học giả Vũ Kư cũng hoạt động văn hóa rất tích cực. Ông
liên tục viết văn, viết báo và phê b́nh văn học. Ông cũng cho tái
bản một số sách đă soạn, và ấn hành sách mới (bằng Việt hoặc Pháp
ngữ). Hiện có một số sách của ông được dùng giảng dậy tại nhiều viện
Đại Học ở Pháp, Anh, Hoa Kỳ... Đặc biệt 3 tác phẩm sau đây của học
giả Vũ Kư đang được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt: Luận Cương
Về Văn Hóa VN (in lần thứ 3), Nghệ Thuật Viết Văn (in lần thứ 5), và
tác phẩm ‘Về Nguồn’.
Trong năm 2003, học giả
Vũ Kư là một văn nghệ sĩ lăo thành đầu tiên của Việt Nam được đề cử
dự tranh Giải Nobel Văn Chương.
Sau đây là bài tiểu luận của ông về thi sĩ Quốc Nam (Tác Giả 2 thi
tập ‘Quê Hương Nước Mắt & Người T́nh Quê Hương’):
***
Thực là một niềm vui sướng
bất ngờ cho chúng tôi và nhà thư họa Vũ Hối, may mắn được gặp thi sĩ
Quốc Nam vào một buổi chiều cuối Hạ năm 2002, sau một chuyến du hành
khá lâu ở Huê Kỳ, từ Washington D.C. đến New York qua Oregon, rồi
Washington State, đến Seattle, nơi Cao Nguyên T́nh Xanh - danh từ mỹ
miều mà Nhà Văn Hóa Quốc Nam đă đặt cho vùng đất thương yêu mà anh
định cư.
Kể dông dài như thế, để muốn nói các tri giác, các cảm quan, cùng vô
số ấn tượng ḿnh thu nhận được vội vàng, lộn xộn trên hành tŕnh dài
mệt mỏi chưa kịp sắp xếp, hệ thống đúc kết lại trong tâm thức, để ổn
định và đánh giá hoài niệm vừa qua nơi kư ức, th́ bỗng nhiên chúng
tôi đang ngồi tiếp chuyện với nhà thơ Quốc Nam trong một cảnh quan
đặc biệt vô cùng.
Cơ sở của anh là một ngôi nhà xinh xắn để làm trụ sở cho Đài Phát
Thanh Sài-G̣n SRBS và tạp chí Đông Phương! Đó cũng là cái nôi của Cơ
Sở Văn Hóa Đông Phương, để từ đó xuất hiện liên tiếp các sinh hoạt
văn học nghệ thuật và cộng đồng (đặc biệt là Giải Quốc Tế Tượng Vàng
Việt Nam do anh sáng lập từ năm 1987).
Rồi tôi và họa sĩ Vũ Hối cùng nhà thơ đi thăm cảnh khu vườn Văn Hóa
được gọi là “Công Viên Tượng Vàng Việt Nam” với tượng đài cao 12
feet, giữa vùng cây cối mát mẻ đầy lá cây rậm rạp phất phơ trong
ngọn gió chiều, bên cạnh ṭa báo và Đài Phát Thanh của anh.
Tôi t́m lại được trong phút chốc sự quân b́nh tâm trí, sự lắng đọng
của tư tưởng êm dịu trong cảm quan của ḿnh sau bao nhiêu xáo trộn
về tâm thức, để bây giờ đổ dồn về câu chuyện đang trao đổi với nhân
vật ngồi đối diện mà lần đầu ḿnh được gặp. Thực chứng nghiệm lời
nhận xét của một văn hào Tây phương về phép xă giao, xử thế nào:
Cảm tưởng đầu tiên của ta theo trực giác khi đối diện với một con
người nào đó, thường bao giờ cũng đúng cả, nhất là khi cảm tưởng ấy
là một ấn tượng đẹp về con người ấy.
Giọng nói anh đầm ấm, hoạt bát, phong thái thanh nhă, mau mắn, nét
mặt mời gọi cảm mến; thỉnh thoảng h́nh như anh có cái nh́n say đắm
xa xăm vào một vùng trời lư tưởng, một mục tiêu cao cả thầm kín nào
anh đang đeo đuổi trong tâm trí. Quả là cử chỉ anh rất hồn nhiên của
một con người năng động, vừa hướng ngoại vội vàng mà cũng vừa hướng
nội sâu thẳm.
Rồi tôi cũng trầm ngâm hồi tưởng. Cái vĩ đại và hiện đại vô cùng của
Huê Kỳ mà tôi đă chứng kiến suốt mấy tuần qua, gây choáng ngợp và
che lấp phần nào cái sơ sài của nền cổ sử địa phương của họ, làm cho
thắng cảnh Khu vườn Văn Hóa của Quốc Nam trở nên mâu thuẫn thay! Lại
đồ sộ trong tâm tưởng hoài quốc của người con dân nước Việt ly hương
là tôi đây trên đất Mỹ. Và tôi cảm thấy pho Tượng Vàng Văn Hóa của
Quốc Nam bỗng nhiên hùng vĩ lạ thường, trong niềm hănh diện về dự
phóng của dân tộc Việt sẽ bất diệt với thời gian, và đang hy vọng
trở thành hiện thực trong măi măi.
Rồi một thời gian sau đó, tôi cũng có trước mặt 2 tác phẩm Quê
Hương Nước Mắt (thơ tập ba - in lần thứ 5 / 2003) và Người
T́nh Quê Hương (thơ tập bốn - in lần thứ 3 / 2004) của Quốc Nam.
Qua mấy lần tái bản ở hải ngoại, các danh từ mỹ lệ nhất của văn học
nghệ thuật Việt Nam, bao nhiêu nhân tài khắp nơi trên thế giới đă đổ
dồn tới, để tôn vinh Tác Giả, những lời phê b́nh thực xứng đáng và
vô cùng đúng đắn! Nào là người chiến sĩ văn hóa với hào khí ngất
trời; nào là thi sĩ của quê hương Việt Nam; thơ của anh là tiếng
thét căm hờn của kẻ sĩ diệt Cộng phục hưng xứ sở; nào là chính khí
hào kiệt của trang thanh niên thời vong quốc; nào là cái tính bất
biến “tâm thực bất vong” như người xưa thường nói (khi ăn khi ngủ
không quên chí trả thù), ray rứt thăng hoa ở thi nhân thành tâm đồng
dạ sắt, tôn thờ lư tưởng giải cứu quê hương... c̣n nữa và c̣n nữa...
Quốc Nam đă nói trong một cuộc phỏng vấn: “Thơ tôi và cuộc đời đă
gắn bó với nhau gần 5 thập niên qua. Nhưng có điều, những mảnh đời
trong thơ tôi không hẳn là của riêng tôi, mà phần lớn là của nhiều
người sống quanh tôi. Nhờ thế, trong thế giới thi ca, tôi đă yêu
người và yêu đời, kể cả những bi kịch của cuộc sống. Có lẽ nhờ tâm
hồn nhạy cảm với thi ca, tôi đă sống cho tha nhân nhiều hơn tôi sống
cho chính ḿnh và gia đ́nh, ít nữa cũng kể từ ngày 30 tháng Tư đen
năm 1975 đến nay. Một số người làm thơ tự măn với lối làm dáng ngôn
ngữ, hoặc gieo vần ghép chữ sao cho lạ lẫm! Nhưng theo tôi, thơ hay
là ở hồn thơ. Bởi v́ thơ cốt nhất là có hồn, để có thể truyền cảm
được ư thơ đến tận đáy sâu tâm hồn người yêu thơ. Ngoài ra, thơ theo
tôi, phải nói lên được điều ǵ đó cho quê hương dân tộc, cũng như
cần đóng góp vào sự phúc lợi, an nguy của đồng bào trong và ngoài
nước”.
Quả đúng vậy! Toàn bộ thơ văn của Quốc Nam trong các thi tập nói
trên đẹp quá, hào hùng quá, trượng phu quá, và cũng bi thiết quá.
Tôi phân vân không biết nên chọn câu nào, lời nào để biểu dương và
minh chứng xác đáng cho luận cứ của ḿnh về tác phẩm và tác giả Quốc
Nam. Tất cả đều toàn bích, đầy cảm xúc thương đau mà hướng thượng:
Viết cho con lời trần t́nh thống khổ,
Tháng tư chào đời con biết ǵ không?
Bố xuôi tay buông súng bỏ quê hương,
Ngàn nỗi hận dồn trái tim rướm máu.
Đă bao năm bố quên đời hưởng thụ,
Bốn chục tuổi đầu tóc bỗng điểm sương.
Nh́n con trai trong êm ấm nôi hồng,
Bố muốn thét cho niềm vui ̣a vỡ.
Con lớn lên chia ước mơ cùng bố.
Một ngày nào quét sạch lũ Cộng Nô.
Việt Nam ơi! Thương biết đến bao giờ,
Bố con ta về dựng người cứu nước...
Con ra đời giữa tháng tư tưởng niệm,
Nước mắt đong đầy ghi dấu trăm năm.
Linh hồn bố lang thang loài chim biển,
Triệu người lưu vong gọi măi Việt Nam.
Nhưng quê ta ngày mai rồi lớn dậy,
Khúc hát thanh b́nh rộn ră không gian.
(Cho Con Quê Hương Sẽ Lớn, tháng Tư 1984)
Văn thơ có giá trị trường tồn hay không là nhờ thần bút hồn nhiên,
và quư giá ở tấm ḷng của thi nhân làm nền cho cảm hứng sáng tạo của
ḿnh. Hào nhoáng, đẽo gọt, mặc sắc phục kiêu sa, vương giả gian dối,
không che đậy nổi cái nghèo nàn, hời hợt giả tạo trong cảm xúc của
nhà nghệ sĩ: “Nghệ thuật chỉ làm nên những vần điệu, c̣n quả tim
mới đích thực làm nên thi sĩ” (Apollinaire).
Thơ của Quốc Nam chất ngất cái hồn nước đau thương, thân phận hấp
hối của người dân Việt mất nước, bị lưu đày bất đắc dĩ, các thống
khổ ngh́n trùng ấy là chất men âm ỉ cho một quyết tâm hào hùng
truyền thống từ bậc tiền nhân, mà biểu tượng ấp ủ trong nỗi nhớ
thương về Người Mẹ muôn đời. Mẹ Việt Nam hay người Mẹ sinh thành của
chính Tác giả? Một biến thành Hai, Hai mà là Một đó vậy:
... Ta đứng bên Trời thương Mẹ vô biên.
Ḷng Mẹ héo hon, thở nhọc từng đêm,
Rồi nằm xuống cho thiên thu uất nghẹn.
Mộ của Mẹ giờ xanh màu thánh thiện,
Nắm xương tàn đă gởi gấm trời Tây.
Ta xin thề trên mộ Mẹ hôm nay,
Quyết đưa Mẹ về bên mồ Tiên Tổ.
Ta gọi tên Mẹ nhiều đêm tuyết đổ,
Nước mắt lưu vong ray rứt ḷng nhau.
Đời thi nhân vấn tang trắng cúi đầu
Vắt máu tim thành thơ dâng Tổ Quốc...
Cả người t́nh quê hương (1) dưới muôn ngh́n dáng điệu mà nhà
thơ đă đứt ruột thương chờ, dưới ánh trăng tháng tám (2)
trên đỉnh gió Lâm Viên (3) thủ thỉ với ái nữ như một nàng
tiên nhỏ (4). Đó là nàng dâu quê hương (5) mà nhà thơ đắm
đuối thiết tha yêu như người t́nh Hậu Giang thuở nào (6)...
... Nỗi khắc khoải trong tôi chừ lớn rộng,
mở mắt chào đời khói lửa tràn lan.
hơn hai mươi năm lầm lũi đêm trường,
súng đă nổ vào trái tim vào óc.
Tôi yêu em bằng tâm t́nh ră mục,
chợt thấy tương lai bay bổng miệt mài.
bàn tay t́m nhau ngượng ngập h́nh hài,
máu đọng lại trên vành mi thù hận.
Em sẽ yêu tôi trong ḷng chiến trận,
một lần bên nhau rồi măi xa nhau.
phút ái ân như gặp gỡ ban đầu,
và cũng kể là chia tay vĩnh viễn...
(Vết Thương Trên Đá, 1969)
Ghi chú: (1) (2)
(3) (4) (5) (6) = nhan đề những bài thơ của thi sĩ Quốc Nam.
Đây nhớ em, giữa cảnh sắc mùa Xuân trên Thung Lũng Hoa Vàng:
Em mang dáng dấp xưa thần thoại,
Ch́m đắm trong hương sắc tuyệt vời.
Sóng tóc, tôi mơ miền luyến ái,
Xuân sang len lén giấc yêu người.
Giao thừa tôi có em yêu dấu,
Trong phút linh thiêng của đất trời.
Kỷ niệm đầu năm thành bất tử,
Mong em khỏa lấp một trùng khơi.
Xin tạ ơn em, xơa tóc huyền,
Cho tôi sống lại tuổi xuân êm.
Chợt ḷng hoa nở vàng như nắng,
Thung lũng cũng hồng nhân dáng em.
(1991)
Tất cả đều đắm say, tha thiết, nhớ thương, rồi kỳ vọng đợi chờ... ấp
ủ trong nỗi ḷng khôn nguôi của người t́nh quân là ḿnh trong cơn
vong quốc.
Phải chăng, nhà thơ Quốc Nam không chỉ có rên rỉ khúc trường thiên
vong quốc như một lời kinh nhật tụng, mà c̣n luôn luôn lo lắng cho
tương lai đất nước, quyết tâm lập lại hoài một thông điệp lịch sử
trao về ngh́n thu con cháu, mong chờ ngày huy hoàng tất nhiên của
dân tộc khi quân thù ngă gục. Có thể nào Quốc Nam cũng cùng tâm
trạng khắc khoải của một Nguyễn Du thuở nào. Thi hào tâm sự với hậu
sinh: Thiên tuế trường ưu vi tử tiền (câu thơ của Nguyễn Du:
Trước khi chết vẫn lo nghĩ đến chuyện ngh́n sau):
“Năm mươi năm, một vài điều có thực,
Tôi gởi em, tuổi trẻ Việt kiên cường,
Lời tâm huyết của nửa đời bất lực,
Giữa cuồng lưu khiến dân tộc khốn cùng.
Hăy tiến lên, tuổi thanh niên tam thập,
Quay bánh xe lịch sử đến vinh quang.
Có chúng tôi, thế hệ trắng kinh hoàng,
Đứng sát cạnh em trên đường cứu nước...
(50 năm, nói với em dăm điều có thực, 1994)
... Thức dậy đi, hỡi óc tim biển cả,
Tuổi trẻ ơi, những biểu tượng cuối cùng,
Là niềm tin của gịng giống Tiên Rồng,
Hăy trở lại quê hương làm lịch sử.
Ta hôn mê những chiều xa cố xứ,
Ly rượu nồng sao phá nổi cơn đau.
Nhớ Việt Nam từng dốc đá nhịp cầu,
Quê nghèo đă nuôi ta thành bất khuất...
Nhiều, nhiều lắm, lời vang vọng không quên da diết của thi nhân, với
lời nhắn gởi trầm hùng, gần như các bậc tiên liệt Phan Bội Châu,
Phan Chu Trinh, thuở trước:
... Em và tôi hăy đốt bừng ngọn lửa.
Hăy thoát khỏi những tiện nghi nhung lụa.
Để dấn thân cuộc tranh đấu lâu dài.
Em biết không, tôi chuộc tội từng ngày.
Xin sống chết cho Việt Nam sáng rực.
“... Hăy dành tất cả chỗ ngồi xứng đáng cho những người chiến sĩ
đang nằm gai nếm mật trong nước... Tôi muốn gởi gấm tới thế hệ tam
thập và tuổi trẻ Việt Nam đầy năng lực: Hăy dấn thân nhận lănh vai
tṛ trở lại quê hương làm lịch sử...” (Quốc Nam, Quê Hương Nước
Mắt).
Không có cái ǵ cũ mà nhà văn không thấy mới, không có cái ǵ giống
nhau mà nhà thơ không thấy khác, không có ǵ tương đồng mà nhà thơ
không thấy dị biệt. Đó chính là niềm huyền diệu tạo hóa ưu đăi người
nghệ sĩ để đi đến một sự biến thiên tinh thần, t́nh cảm của họ nhờ
vào phép hóa tính mầu nhiệm đặc cách ban cho họ. Nhà văn Tây Phương
nào đó rất có lư để nói rằng: “Nhà nghệ sĩ luôn luôn sáng tạo
những chuỗi dài không dứt những xúc cảm, ấn tượng, mới lạ đánh động
vào cảm quan và tâm tư của kẻ khác, làm cho ai đọc họ cũng luôn đổi
mới sự kinh ngạc và niềm thán phục của ḿnh... Đối với nhà thơ,
không có đề tài nào cổ lỗ mà không trở thành hiện đại, man rợ, thô
sơ mà không biến thành tuyệt diệu, tinh khôi”. Chính đó là tính
đa diện, đa dạng, biến hóa ở một nhà thơ có chân tài. Và đó cũng là
điểm độc đáo biệt lệ trong cảm hứng của nhà thơ Quốc Nam trong các
thi phẩm của anh vậy.
Một văn thi hữu của tôi khi đọc xong 2 tập thơ của Quốc Nam, bỗng
trầm ngâm nghĩ ngợi và thốt ra một lời nhẹ nhàng mà thấm thiá, tưởng
chừng tim anh cũng rưng rưng đau buốt trong niềm thông cảm vô cùng!
Anh nói:
“Nhà thơ Quốc Nam vừa làm thơ vừa khóc. Cảm hứng của Quốc Nam
nhạt nḥa trong nguồn lệ của một con người vong quốc ly hương bi
thiết! Nước mắt và nước mắt. Nếu gọi bằng một ẩn dụ cổ điển, th́
phải nói: chính đó là tiếng cuốc khắc khoải hay giọng đỗ quyên thảm
sầu trong văn thơ của các bậc tiền bối nước ta thuở nào”.
Tôi liên tưởng đến nỗi ưu sầu gặm nhấm năo cân, hằn sâu vào da thịt
của nhà văn Ba Tư Gaim Magam qua “những vần thơ lưu vong” nổi
danh trên văn đàn quốc tế: “Mực của ng̣i bút tôi là máu hồng rỉ ra
từ tim tôi đau điếng, là ḍng sữa đắng của hồn tôi bắn ra từ đôi mắt
lệ nḥa, mỏi ṃn về quê hương biền biệt”. Nhưng văn hào Gaim
Magam lưu vong rồi có ngày hồi quốc; c̣n Quốc Nam, nhà thơ Việt Nam
âu sầu rũ rượi trong cảnh ly hương, không biết đến khi nào trở lại
quê ḿnh, nhưng vẫn mơ hoài cái hào quang tất thắng khi quân thù gục
ngă.
Đă tám mùa xuân trên lũng thấp,
Âm thầm theo những bước chân qua.
Hồn tôi chừng mỏi trăm vùi lấp,
Có thấy bao giờ một dáng xưa (?)
... Tôi đi giữa phố phường lưu lạc,
Thung Lũng Hoa Vàng xanh bóng mây.
... Đă mấy năm qua tôi bỏ quên
Trái tim bên dốc đá ưu phiền.
Nắng lên cho đẹp lời âu yếm,
Mỏi mắt ươm t́nh, say đắm thêm.
Bóng bẩy, kiêu sa mà thấm thía vô cùng. Ngậm ngùi v́ vận nước điêu
linh, mối t́nh quê quặn thắt, một thi văn hữu khác của tôi cũng có
lần xướng họa tùy hứng đôi vần, nhưng khi đọc xong các thi phẩm của
Quốc Nam, th́ anh buồn buồn thú nhận, bao hàm một lời khen tặng đối
với Quốc Nam. Anh nói: “Ai không biết cảm hứng của thi nhân là
điếu cổ hoài kim, nhưng riêng ở Quốc Nam, tôi thấy sự diễn tả cảm
xúc của anh thành vần điệu, có nhiều biệt lệ, làm cho thơ anh đạt
đến độ cao của thi hứng chân tài... Rơ ràng Quốc Nam làm thơ có hồn,
có thần, nhiều h́nh tượng nghệ thuật. Và riêng tôi, đọc thơ Quốc Nam
rồi, tôi hết muốn làm thơ... Tôi đang sống cái tâm trạng của tiền
nhân thuở trước. Tôi xin nói lên đây với chút lộng ngôn, đầy phạm
thượng, nhưng không cường điệu chút nào, và đành chịu thất lễ với
các thi hào tiền bối:
“Tương truyền Lư Bạch đến chơi Vơ Xương, lên xem lầu Hoàng Hạc rồi
nôỉ hứng muốn đề thơ vịnh cảnh, bỗng thấy đă có thơ Thôi Hiệu với
bài Hoàng Hạc Lâu ở đó, bèn nói: “Thôi, ta không làm thơ nữa. Cảnh
trước mắt đẹp quá, chưa t́m ra lời th́ đă thấy thơ của họ Thôi ở đây
rồi”. Lư Bạch hết sức khâm phục, mất hứng, hết muốn đề thơ”.
Riêng người viết bài tiểu luận này, cũng thú nhận cái mặc cảm đầy
lương thiện nói trên của người thi văn hữu của ḿnh, khi ngâm nga
các vần thơ huyết lệ của Quốc Nam.
Không những dành một mối t́nh vĩ đại thường trực tê buốt đối với đất
nước, Quốc Nam c̣n dành những ḍng lệ chí hiếu đối với các bậc sinh
thành, những năo nuột của con tim hay những lời chúc thư hùng khí
trao về em, về các con anh, gởi đến các thế hệ mai sau để họ quyết
chí phục thù, cứu nước. Những vần thơ đứt ruột -tôi không nói quá
đáng chút nào- khó t́m thấy trong nền văn học Việt Nam hải ngoại từ
lâu nay.
Và đây, hai bản t́nh ca đẹp nhất trong các thi phẩm của nhà thơ Quốc
Nam gởi người t́nh Hậu Giang - nàng dâu quê hương, viết với tâm tư
năo nùng của một Lamartine trên sóng nước hồ xưa, của một Victor
Hugo nhớ thương quằn quại nàng Juliette trong một thu cảnh nào bên
phương trời Tây thuở trước. Có khác chăng là ở nhà thơ Quốc Nam,
thiên t́nh sử ấy, bản t́nh ca diệu vợi ấy, gói trong cái nền vong
quốc sử Đông Phương, mà cụ thể là Việt Nam ta của Quốc Nam đó vậy.
“Anh đă nỗi buồn, một kiếp mang.
Chiều mây xám ngắt, lạc cung đàn.
Em, cô phụ vẫn hồn phong kín.
Trên dốc cao nguyên, bỗng địa đàng.
Nụ hôn rất nhẹ, thoảng vô h́nh.
Quấn quít ṿng tay. Vỡ thủy tinh.
Cô phụ, tiếng cười pha nước mắt.
Anh t́m hạnh ngộ giữa môi xinh.
Và đó t́nh ta thành biển lớn.
Em là bóng dáng một quê hương.
Anh yêu Sông Hậu vang trùng sóng.
Vút giải ngân hà phủ xóm thôn.
Anh đă niềm vui, con nước lên.
Đưa em về bến cũ b́nh yên.
Mốt mai, ta dựng xây tiên giới.
Trong trái tim nhau, vẹn ước nguyền.
(Người T́nh Hậu Giang)
Mùa xuân đă mở cao nguyên biếc,
Em có xanh màu thơm núi sông?
Anh nhớ ngày xuân trên giá tuyết,
Quen nhau từ buôỉ mắt như ḷng.
Nhiều năm sau đó ta không gặp,
Em vẫn cô đơn mảnh áo hồng.
Son phấn có thêm màu khuất lấp?
Anh c̣n lận đận cuộc t́nh không.
Kỷ niệm đầu tiên ghi dấu xanh,
Anh theo tiếng gió gọi nhân t́nh.
Mắt em thăm thẳm mùa xuân thánh,
Anh dấu yêu em đến thoát trần.
Anh viết bài thơ t́nh đẹp nhất,
Gởi người tri kỷ, vọng quê hương.
Anh mơ mai mốt thành xuân thật,
Em sẽ “nàng dâu” đẹp giáo đường.
(Nàng Dâu Quê Hương)
Cái mặc cảm mất quê hương, tủi thân vong quốc là một hội chứng dai
dẳng không rời tâm thức của Quốc Nam, và một điệp khúc trong cảm
hứng của thi sĩ:
Tôi nhục nhă trong tôi
Kẻ bỏ nước ra đi
Bỏ anh em ở lại
Bỏ đồng đội gian nguy.
Hay:
Xin cho tôi được chết
Nơi quê hương Việt Nam
Máu chúng tôi sẽ kết
Trang sử mới huy hoàng
Trong ḷng dân tộc Việt.
(Kẻ Đào Ngũ của quê hương khổ đau)
Ta lưu đày ta một đời giẫy chết
Nắng buồn phiền theo nước mắt tuôn rơi.
Đêm quê hương lời kinh đă ră rời,
Ta trở giấc giữa Hoa Kỳ chói sáng...
(Hăy Trở Lại Quê Hương Làm Lịch Sử)
Rồi trên mặt địa cầu này quá rộng mà lại quá hẹp đối với thi nhân,
người không t́m ra một nơi nào trú ngụ để gởi ở đó một địa chỉ cho
riêng ḿnh:
Nếu ai hỏi tôi, nơi nào địa chỉ?
Đă qua nửa ṿng trái đất đau thương.
Tôi c̣n chi trong mắt đời băo nổi.
Suốt kiếp lưu vong không chốn về nguồn.
(Địa Chỉ Tôi)
Tôi rưng rưng nước mắt, nḥa lệ trong tim đến vô cùng, khi đọc hết
bài “Địa Chỉ Tôi”. Tâm t́nh vút lên đỉnh cao của bất hạnh,
đau buồn khi nhà thơ lạc loài, vô định, không biết đâu là nhà, là
nước, khi t́m về cội nguồn “có nắng cổ tích, có dậu tre, có mái
tranh nghèo, có ruộng lúa vàng làm nên lịch sử”.
Không, người thơ “măi lang thang, hồn khắc khoải, t́m chưa ra một
cơi về”, thân lưu đày, không biết về đâu ở một điạ chỉ nào có
thực... trong cảnh “măi lênh đênh nơi phồn vinh phố thị”, nên
người “đi giữa phố phường lưu lạc...”
Tôi bỗng nhớ đến những vần thơ tê tái biệt ly của một Lamennais, nhà
thơ Pháp vào thế kỷ 19 nhan đề “Kiếp Lưu Đày” (L’exilé):
“Lang thang vơ vẩn trên đường
Lưu ly bao quản tuyết sương lạnh lùng
Trêu người chi mấy Hóa công
Thân này sao hăm vào trong cuộc này”...
(Lamenmais)
Hoặc những vần thơ “cà rởn”, say say, tỉnh tỉnh, hồn nhiên của nhà
thơ điên Bùi Giáng “t́m về nguồn”:
“Đi về làng xóm năm xưa,
Viếng thăm quê cũ người chưa quên người.
... Người hỏi tôi: “Từ đâu ông đến nơi đây?”
- Thưa cô thôn nữ, từ đây tôi về,
- Ủa phải anh Sáu Giáng đó không?”
- Và cô có phải cô Bông năm nào?
- Anh c̣n nhớ rơ ôi chao?
Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh.
Anh điên mà dzui dzẻ thập thành,
Chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu?”
Rồi những vần thơ đẫm nước mắt của Cao Bá Nhạ trong Khúc Tự T́nh.
Trên bước đường phát văng, người cháu của Cao Bá Quát khóc cho nỗi
oan khiên của ḿnh, v́ tội chú mà ḿnh bị vạ lây phải bị lưu đày đau
khổ và đau khổ. Nhưng không, không đâu bằng khúc ca quốc hận, nỗi
mất nước mất nhà của kẻ lưu vong Quốc Nam.
Quả thực, tôi cho rằng không có cái đau xót thiếu quê hương nào năo
nuột bằng của Quốc Nam, nhà văn hóa Việt Nam của thời đại ly hương!
Tôi lặp lại và chép tiếp đủ bài thơ “Địa Chỉ Tôi” để quư độc
giả nhàn lăm một hiện thực niềm đau lịch sử của thi nhân, mà có lẽ
cũng là của tất cả chúng ta:
Địa Chỉ Tôi (tiếp)
... Tôi nước mắt, giữa khung trời hải ngoại.
Đă bao năm không mái ấm gia đ́nh.
Không cửa nhà, mưa nắng, măi lênh đênh.
Tôi t́m tôi trong nỗi sầu viễn xứ.
Nếu hỏi tôi một chốn nào trú ngụ?
Tôi nào đâu có địa chỉ bao giờ.
Kể từ khi bỏ quê cũ xa mờ,
Vẫn sống bên lề phồn vinh phố thị.
Địa chỉ tôi là góc đời ảo mị,
Măi lang thang, t́m một chốn ủi an.
Óc tim tôi in h́nh bóng xóm làng,
Nắng cổ tích trên dậu tre, hoa, bướm.
Xin hăy cho tôi t́nh quê thắm đượm.
Địa chỉ tôi là một mái tranh nghèo.
Ruộng lúa vàng làm lịch sử cuốn theo,
Trong t́nh tự dân tôi vươn sóng lớn.
Em hăy hiểu đời lưu vong tôi, vốn
Chưa bao giờ t́m được một cơi về.
Bởi hồn tôi khắc khoải từng đêm mê.
Bến hạnh phúc là quê hương bất hạnh.
***
Em yêu dấu, khi nào em nữ thánh,
Sẽ biết tôi c̣n thiếu chốn bằng an.
Từ lưu đày, đă quá hai chục năm,
Tôi ao ước địa chỉ nào có thực.
Nay quê nhà c̣n dẫy đầy áp bức.
Đồng bào tôi thiếu dân chủ tự do.
Tôi lật trang lịch sử biến thành thơ.
Xin đốt đuốc xác thân này tranh đấu.
Rồi có ngày tôi, em, về bến đậu,
Trên luống rau gốc lúa của quê hương.
Địa chỉ tôi là mái lá b́nh thường.
Em thấy đó, giấc mơ tôi nhỏ, bé...
(Tháng Tư 1997)
Mượt mà quá, người đọc nghe đâu đây âm thanh vi vu của tiếng sáo
chiều văng vẳng, ḥa lẫn với điệu nhạc thiên nhiên, thân tre xào
xạc, có con c̣ trắng đậu nhịp nhàng gió ru, thoang thoảng mùi lúa
chín ngát hương, trên cánh đồng quê vàng rực của đất nước ḿnh.
Cuộc gặp gỡ của tôi và Vũ Hối với nhà thơ Quốc Nam thực bất ngờ và
ngắn ngủi, nhưng đầy thú vị và bổ ích. Rồi tôi lại được mời nói
chuyện tâm t́nh với các bạn đồng hương ở Seattle nơi Cao Nguyên T́nh
Xanh, trên làn sóng điện của Đài Phát Thanh Sài-G̣n SRBS của Quốc
Nam, và rồi cùng dạo chơi với anh trong Công Viên Tượng Vàng Việt
Nam, với Tượng Đài, với kim bảng ghi khắc những chứng tích về các
Đại Hội Quốc Tế Tượng Vàng mà anh đă tổ chức, cũng như chứng kiến
một số công tŕnh văn học và cơ đồ văn hóa lừng lững của anh. Tôi có
ư định chỉ gởi gấm những ái mộ và ca ngợi của ḿnh qua một bài cảm
nhận chung chung rất khiêm nhường, nhưng cảm thấy như thế chưa nói
hết ư t́nh của ḿnh, nên tự thoả măn với bài tiểu luận này - có thể
c̣n thiếu sót - để tuyên dương sự nghiệp toàn diện và đa dạng của
anh: Thi sĩ Quốc Nam, nhà văn hóa Việt Nam nổi bật trong thời đại ly
hương của chúng ta trên đất nước Huê Kỳ.
Nh́n vào sự nghiệp đồ sộ mà Quốc Nam đă và đang đóng góp cho nền văn
hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam, cảm nhận thái độ hăng say anh hằng
có... cùng nỗi ḷng của nhà thơ đối với đất nước giữa cảnh t́nh vong
quốc bi đát hiện nay, nhất là tác phong năng động không hề mệt mỏi
và hoài băo anh hằng ấp ủ, tôi bỗng nghĩ đến câu tư tưởng vô cùng
xác đáng của triết gia thời đại Martin Heidegger: “Mọi sự hoàn thành
chỉ mới là sự bắt đầu” với nhà văn hóa Quốc Nam.
Bruxelles, thủ đô của Liên Hiệp Âu Châu 2002.
VŨ KƯ
________
1) Cố Học giả/ Nhà văn Vũ Kư (1922-2008).

2) Hoà Thượng/Tác Giả/Thi Sĩ TUỆ ĐÀM TỬ trao bảng vinh danh Thi văn
sĩ Quốc Nam là "Nhà Văn Hóa Việt Nam" ngày 18/8/2013 tại Thung Lũng
Hoa Vàng San Jose, California. Photo by TRIPHOTO.

3) Cố Học Giả Vũ Kư & Phu nhân trong Lễ vinh danh sự nghiệp văn hoá
của Cụ Vũ Kư tại Bruxelles bởi Hoàng Gia Bỉ Quốc.

_____________
Chú thích của a2a : LTS ở đây là Cơ
Sở Văn Hóa Đông Phương
art2all.net
|