|
TRẦN ĐỚI RONG CHƠI MỘT ĐỜI THƠ
Từ thuở
nào xa mù sương khói, cuối năm 1933, thi sĩ Trần Đới sinh ra trên mặt
đất này, nơi làng chài, băi biển cát trắng Lăng Cô, rào rạt sóng vỗ ngàn
năm ấy, dường như để thi hành một sứ mệnh duy nhất, đó là chỉ làm thi sĩ
mà thôi. Với một hồn thơ bẩm sinh, hấp thụ dưỡng chất vô ngần của hồn
thiêng sông núi từ khi mới mở mắt chào đời, thi nhân đă may mắn chiêm
ngưỡng, thưởng thức trọn vẹn biển rộng sông dài, những phong cảnh ngoạn
mục suốt thời thanh xuân, nên thường xuyên xúc động kỳ cùng, rung cảm
miên man một điều chi trong từng hơi thở, để rồi bật dậy thành những
tiếng thơ : Dấu Chân Trên Biển, Tảo Mộ Lênh Đênh, Nắng Chợ Mưa Chùa,
Bụi Đời Ca, Vơng Nắng, Sầu Ca, Thân Quen, Trăm Năm Đèo Biển Lăng Cô…
bay bổng lồng lộng, dập d́u bướm hoa phất phới :
Rừng biển Lăng Cô, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, là một
băi biển thơ mộng xanh ngần, nằm sát dưới chân đèo Hải Vân, đẹp như một
kiệt tác của thiên nhiên, vừa lung linh sơn thủy hữu t́nh vừa bát ngát
mênh mang, kỳ ảo một vẻ đẹp nguyên sơ quá đỗi tuyệt vời. Chính nhờ lớn
lên, được hun đúc giữa rừng thơ biển mộng như thế mà Trần Đới đă tự bao
giờ, trở thành một nhà thơ với trọn nghĩa của danh từ. Giữa núi rừng
điệp trùng hùng vĩ, tiếp giáp với biển ngàn khơi đại hải bao la, đột
nhiên nhô lên một băi cát vàng thành làng xóm Lăng Cô với những địa danh
quanh đó như Ngạnh Rùa, Mũi Đá, Suối Ba, Suối Bạc, Ba Dốc, Hồ Tiên, Bại
Kả, Băi Chuối đă đi vào thi ca của nhà thơ một cách tự nhiên :
Một thời tuổi trẻ, dạt dào vô hạn những mộng đời bất
tuyệt, những tâm t́nh thiết tha với t́nh yêu diệu ảo vô vàn, chàng thi
sĩ tha hồ bơi lội giữa biển ngàn sớm trưa chiều tối, tắm nắng ăn sương,
dầm mưa dăi gió sông hồ. Tâm hồn luôn luôn nhạy cảm với cái đẹp hoang
dại ban sơ, run rẩy, sững sờ trước một vệt nắng chiều tà xuyên qua triền
núi, quỳ xuống rưng rưng uống ngụm nước đầu nguồn suối Khe Hàu mát rượi
hay bàng hoàng, cười vang lên trên đỉnh đèo Hải Vân chất ngất, chập
chùng trăng nước, sương khuya. Hỡi biển đồi hoang liêu, d́u dặt ru hồn
tiếng sóng ngàn đời vang vọng măi trong ḷng, nghe vi vút từng trận gió
chiêm bao lai láng thổi bồi hồi. Ôi trăng, ôi sương, ôi nàng thơ rực rỡ,
choáng ngợp cả vũ trụ càn khôn, dưới trời đêm lênh đênh gót bụi đi về
trên cung cầm huyền mộng như có, như không, như hư, như thực mà lâng
lâng lăng đăng, mơ màng trong một trạng thái xuất thần kỳ lạ :
Em có thấy ǵ không hỡi nàng thơ thiên thu diễm tuyệt
? Em có nghe ǵ chăng hỡi vầng trăng thiên cổ vô biên ? Em có biết từ
buổi em về là đă mang về biết bao nguồn cảm hứng thiêng liêng làm hồi
sinh mănh liệt trong cơn rung động choáng váng diệu huyền :
Say đời, say thơ, say mộng bồng tênh trên gót ngọc em
về. Em về đây trên tay có cầm một đóa hoa và một chiếc lá như là món quà
tặng vật cho mặt đất trần gian. Em đến như suối mát giữa ḷng sa mạc khô
khốc, làm phục sinh cho kẻ lữ hành cô độc, sống vượt qua cơn trôn xoáy
ác liệt của hư vô. Chao ơi ! Em đă đến rồi, em đến nối liền đôi bờ mộng
thực, có không, sống chết… và mở ra phương trời mới lạ yêu thương. Vâng,
em chính là cái yêu thương, hăy đến với em bằng thái độ vô cầu, không
chiếm hữu, bởi vô cầu nên không hướng đến một mục đích nào cả mà ḥa
điệu vào giữa ḷng thực tại đang là trinh tuyền, khiết tịnh, tinh anh :
Với t́nh yêu thương vô điều kiện như thế, thi nhân
quảy lên vai bầu rượu túi thơ lên đường, tạm biệt đèo truông gió hú, mưa
trào sóng nắng Lăng Cô, cất bước đăng tŕnh, phiêu linh viễn phương hành
qua vùng trung du rồi vào tận xứ miền Nam bộ, bắt đầu sống cuộc đời lăng
tử, từ trước năm 1970. Đó là thời kỳ lang bạt Bụi Đời Ca quá độ
long đong, đẫm mưa nắng phong trần, túy lúy cuồng say từng trận trận
phiêu hốt tột cùng. Không hướng tới đâu cả mà chỉ sống và sống hết ḿnh,
hết xương xảu máu me theo thể điệu phiêu bồng Bùi Giáng, hư lộng Tế Điên
ca ngất ngưởng :
Gót chân biển núi lang thang về phố thị Sài G̣n, trôi
bập bềnh giữa ḍng đời xuôi ngược, bước ngày sang đêm chập choạng bóng
sầu thiên cổ vọng âm, dầm mưa dăi nắng đầm đ́a nơi góc chợ hiên chùa.
Mùa mưa gió kéo dài như nỗi buồn lê thê trên hoang vắng, ngậm ngùi đại
lộ tàn khuya mỏi mệt, khói thuốc nào c̣n vàng vơ trên đôi bàn tay buông
thơng trong những chiều mưa tầm tă, ướt đẫm mộng u hoài :
Từng trang thơ ướt đẫm mưa chiều nắng sớm, chuyện áo
cơm lă chă mồ hôi… Rồi tiếp tục rong rêu giữa nhộn nhịp phồn hoa phố hội,
thi sĩ Trần Đới với tướng người cao lớn, bồng bềnh mái tóc dài đạo sĩ
xỏa kín bờ vai, đặc biệt nổi bật trên khuôn mặt phương phi, hảo hán là
bộ râu dài quai nón rậm rạp như thi sĩ Wart Whitman. Chàng khoác trên
vai cây đàn măngdolin cũ kỹ và một túi thơ bạc màu sương gió dăi dầu,
thường xuyên lội bộ và lội bộ suốt đêm ngày như một gă cuồng say thơ,
say nhạc, say mộng, say mơ, say rượu hồng nhan chuếnh choáng, lu bù quán
nhậu vỉa hè, khề khà đánh chén lai rai, túy lúy cùng bọn văn nghệ sĩ,
đọc thơ sang sảng vang động khắp phố đỏ phường xanh. Thỉnh thoảng ghé
Đại học Vạn Hạnh thăm viếng Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư,
Trần Xuân Kiêm, Nguyễn Hữu Hiệu… Khuya về ngủ nhờ, ở trọ nhà bạn bè, ghé
Tổng vụ Thanh Niên, thường lê la qua các chùa chiền, tịnh xá, nhất là
chùa Kỳ Viên của sư Viên Minh, nằm mắc vơng đong đưa giữa hai tàng cây
lá sa la xanh vàng mộng biếc :
Chùa phố, chùa quê, chùa biển, chùa núi, những ngôi
chùa, tịnh xá rải rác đó đây dọc khắp ven đường lang bạt kỳ hồ luôn luôn
tỏa bóng mát từ bi, che mát bóng đời thi sĩ ngao du. Thế rồi bao mùa mưa
nắng quặn hồn đau lữ thứ, bao tháng năm dài cuồn cuộn trôi qua với biết
bao băo tố cuồng phong, dâu biển đoạn trường, bước đi của thi sĩ vẫn quá
mộng lênh đênh trên ngút ngàn viễn xứ mười phương. Đường của thơ là
những nẻo đường ngược gió, là bến khói bờ mây ḍng ḍng phóng túng, Vũng
Tàu, Long Hải bỏ lại sau lưng, lên rừng cao nguyên Lâm Đồng, Đà Lạt,
xuống dọc vùng ven biển Nha Trang, Đà Nẵng, Hội An… Cuộc lữ thi ca trùng
trùng những ngă năm, ngă bảy chập chùng nơi cơi lạ :
Sinh tử đại sự, vấn đề sống chết là việc lớn nhất
trong cuộc đời cần phải giải quyết một lần cho rốt ráo th́ mới mong được
tự tại tự do. V́ thế cho nên, sau những dặm dài cô lữ, sau những chuyến
viễn hành rờn rợn máu xương da, cóng buốt miền tuyệt lộ, vào năm 1989
nhà thơ phiêu lăng dừng gót giang hồ ở thiền viện Thường Chiếu, thuộc
tỉnh Đồng Nai, phát tâm xuất gia, học thiền với thiền sư Thanh Từ, một
bậc cao tăng thời hiện đại. Từ đây, Trần Đới có pháp danh Thông Bác. Thế
là cửa không tịch mở ra, toàn nhiên hiển lộ một thứ ánh sáng huy hoàng
khác lạ phi thường, tương dung tương nhiếp, tương nhập vào cảnh giới tự
tâm, tự tánh thanh tịnh rỗng rang, mở ra những phương trời bát ngát ban
sơ :
Trở về với thực tại hiện tiền, với cái đang là luôn
luôn mới lạ nên nhà thơ reo vui trên cung bậc hân hoan sáng tạo, ngôn
ngữ thi ca bây giờ chuyển nhịp muôn chiều phiêu nhiên hào phóng, óng ánh
rực màu thanh sắc, lặng trầm mà nhẹ bổng bồng tênh :
Mắt xanh vạn thuở làm gợi nhớ bài thơ của một thiền
sư nào đó vẫn hoài đồng vọng ngân nga : “B́nh bát cơm ngàn nhà. Thân
chơi muôn dặm xa. Mắt xanh xem người thế. Mây trắng hỏi đường qua.”
Con đường mây trắng ngút ngàn khiến cho hồn thơ phấn chấn, cảm nhận bằng
trực giác bén nhạy, nhảy tung vào cảnh giới tâm nội tối thượng thừa, đến
độ vô ngôn thuyết, bất khả thuyết mà thôi. Tuy nhiên thi sĩ vẫn ghi lại
thành những tác phẩm văn nghệ, thi ca như : Đá Vọng, Tông Thừa Tụng,
Thi Hóa Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa, Ngụ Ngôn Thiền, Yên Sơn Trẩy Hội,
Nắng Nhạt Qua Bờ, Mộng Thực, Tùy Duyên, Hiền Nhân, Hành Trạng Tâm Linh,
Hạt Bụi Lang Thang… tràn đầy chất thiền vị, thấu thị chính ḿnh
trong nhịp thở sinh động khôn ḍ của bầu không khí tự do, chẳng ǵ
chướng ngại. Phải chăng nhà thơ đă thấp thoáng thấy được nẻo về cố quận,
thầm lănh hội được bản thể nguồn tâm vi diệu ? :
Một khi thấy “hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”
rồi th́ tự nhiên hiện ra cảnh giới Hoan hỷ địa, mặc sức tha hồ tùy duyên,
tùy thuận tất cả mọi sự ở đời, xem như một cuộc đại ḥa điệu chơi, một
tṛ rỡn đùa của những thằng bé, tinh thần thi sĩ liền biến thành hài nhi
ca hát hồn nhiên :
Khi thấy được tánh Không của vạn pháp là mỉm nụ cười
vô sự, tuy chưa đạt đến cảnh giới siệu việt đó, nhưng thi nhân vẫn thong
dong, thơng tay vào phố chợ tấp nập, xô bồ như dạo cảnh thanh nhàn, an
lạc trong một trạng thái viên dung. Một lần cửa nẻo tâm hồn mở toang là
thênh thang muôn chiều diệu dụng vô ngần :
Với phong thái tự tại hài ḥa, nhà thơ nghiêng vai
quảy túi càn khôn vũ trụ, đi giữa mười phương vô sở trú với một tấm ḷng
không biên giới, vượt ngoài không gian và thời gian để rong chơi giữa
phù vân nhân thế :
Ba đời là quá khứ, hiện tại, vị lai đều gặp nhau giữa
cái đang là, ngay bây giờ và ở đây, ngay trong trái tim nhịp thở với
trời mây, nhật nguyệt cùng ru điệu vô thanh bất tuyệt ngân nga. Là thơ,
là nhạc vang lên phóng khoáng từ cơi tịch mịch vô ngôn, nơi chốn miền
không có đâu nơi trong tận đáy linh hồn :
Chơn Không mà diệu hữu, nên gậy thiền gơ nhịp vang âm,
trầm lắng qua khắp mọi miền thiên địa phiêu lưu, dấu chân biển núi chẳng
lưu lại vết tích ǵ ngoài những vần thơ ẩn hiện như khói như sương. Viễn
phương ca trên lộ tŕnh hành cước, xuyên suốt miền Trung ra tận miền Bắc
xa xôi, ghé Hà Nội, Hà Tây, lên Phú Thọ, Vĩnh Phúc, rồi xuống Hải Dương,
Quảng Ninh… Bước chân chập chùng trèo lên đỉnh ngàn Yên Tử mông mênh :
Tâm linh hiển hiện ngời ngời trên ánh mắt trong từng
sát na diệu hữu. Thấy và thấy mây trời thơ lăng đăng bay về, trổ bừng
thanh thoát một nụ cười, lấp lánh vĩnh hằng cái mặt mũi xưa nay. Thấy là
thấy ngay lập tức, c̣n không thấy th́ cứ việc không thấy thế thôi. Chẳng
hề chết chóc ai cả mà vẫn sống nổi ch́m theo nghiệp mệnh mỗi người trên
trái đất muôn đời c̣n quay lông lốc giữa hư không. Bồng bềnh trên con
đường thi ca tha thẩn, tôi đă hội ngộ, tao phùng cùng Trần Đới nhiều lần,
kể từ ngày gặp gỡ đầu tiên ở Đại học Vạn Hạnh năm 1973, lúc thi sĩ vừa
xuất bản tập thơ đầu tay Tảo Mộ Lênh Đênh đến nay. Rồi sau này
lang thang ở đâu cũng thường xuyên gặp lại, tái ngộ ở Vũng Tàu, Đồng Nai,
Sài G̣n, Huế, Đà Nẵng, Lăng Cô, Hội An… Có lần gần đây nhất là dịp hè
2013, trùng phùng ở Huế cùng trọ lại chung một đêm, hát ḥ văn nghệ tàn
khuya tại nhà Hải Tuệ, bên ḍng sông Hương sáng ngời trăng chiếu, tôi có
ngâm nga riêng tặng thi sĩ một bài thơ khơi vơi :
|