|
TÂM NHIÊN
TRÚC THIÊN
THƠ VÀ THIỀN

Trúc Thiên
Trúc Thiên là một khuôn mặt
đặc biệt, nổi bật lên giữa bầu trời văn nghệ Miền Nam, trước năm 1975
tại Sài G̣n. Lấp lánh hào quang thiền học sáng ngời, long lanh ánh chớp
thi ca rực rỡ trên những trang thơ văn súc tích, hay những bản dịch
thuật, giới thiệu các tác phẩm thâm thúy, kỳ diệu của Bồ Đề Đạt Ma,
Huyền Giác, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Suzuki, Krishnamurti…
Bồng tênh, lênh láng như sóng biển Nha Trang, nơi Trúc Thiên sinh ra đời.
Rồi lớn lên, thường chạy nhảy, rong chơi ven băi cát vàng bên bờ đại
dương, thưởng ngoạn sơn thủy hữu t́nh xứ trầm hương Khánh Ḥa. Tha hồ
hít thở không khí biển trời bao la, khoáng đăng, hấp thụ dưỡng chất gia
phong thuần túy, tự nhiên hun đúc một tâm hồn độc đáo, tiêu dao lồng
lộng như trùng khơi bát ngát…
Hoàn thiện việc tự học từ thời c̣n thanh niên, nhanh chóng trở thành một
học giả nổi tiếng, uyên bác về Thiền tông, từng giảng dạy Thiền tại Đại
học Vạn Hạnh, Sài G̣n. Một nơi quy tụ toàn những kỳ nhân, văn nghệ sỹ…
Tuy là một học giả, nghiên cứu các vấn đề đạo lư Đông Tây, chuyên sâu về
Thiền, nhưng Trúc Thiên cũng là thi nhân với một hồn thơ sâu thẳm :
Nằm nghe rêu mọc trong hồn
Từng cây cỏ dại lấn dồn vào thân
Tâm tư mấy độ xoay vần
Giờ đây triều máu nhả dần nhịp tim
Bao nhiêu hạt bụi nổi ch́m
Phân thân thuở ấy nay t́m về đây
Trăm năm có một hội này
Nằm nghe kể lại những ngày đi hoang
Đó là bài thơ Đi Hoang, mở đầu tập thơ Chuyển Một Hướng Say,
An Tiêm xuất bản, năm 1970 của Trúc Thiên. Bài thơ nhớ lại một thời rong
rêu phiêu bạt, một thuở tuyệt mù lăng đăng giữa ngút ngàn dặm lữ qua
muôn trùng cát bụi, phù du…
Từ vô lượng kiếp rồi, như hạt bụi, người thi sỹ cứ măi bềnh bồng ra đi.
Đi như một nghiệp mệnh, lênh đênh trên những ngọn sóng đời nhấp nhô,
trào bọt lềnh bềnh sinh tử… Chừ đây, nằm trầm tư một ḿnh giữa đêm
trường quạnh vắng, lắng nghe dư vang của bao niềm hoài vọng, xa xôi
trong hun hút điệp trùng, mông lung quá khứ c̣n văng vẳng dội ngân về…
Để từ đó, thấy ra “tâm tư mấy độ xoay vần” theo từng bước thăng
trầm, cứ âm thầm luân phiên, chuyển hóa trong hư linh tàng thức. Thỉnh
thoảng xuất thần, vượt thoát bay lên thênh thang trên cung bậc hân hoan
sáng tạo, nhảy múa, hát ca trào lộng cùng thể điệu niêm hoa vi tiếu và
rốt cùng, thung dung, nhập diệu vào cảnh giới ngă pháp đều không :
Thơ cũng không mà đạo cũng không
Không là ǵ hết với non sông
Đứng lên giữa chợ toan cười ngất
Cúi xuống trong đời lại hóa ngông
Trút gánh lăo vui trăm tuổi lăo
Vỗ tay ông múa một ḿnh ông
Tánh trời quê kệch đà quen nết
Cỏ dại ngoài kia há phải trồng
Không cần phải trồng trọt, chăm bón chi cả, hoa đồng cỏ nội vẫn thuận
theo lẽ trời, mọc lên xanh mướt ruộng vườn cũng như tự tánh vốn thanh
tịnh sẵn có của ḿnh cứ vẫn thường phát sinh ra nhiều diệu dụng. Diệu
dụng ngay trên từng tánh nết thô kệch, quê mùa, rất mực đơn sơ, giản dị
đó thôi.
Làm tất cả mọi việc mà không chấp dính, không vướng mắc, coi như chẳng
làm chi cả. Đó là tinh thần vô công dụng hạnh, như làm thơ khá nhiều,
hiểu đạo rất sâu, sống y như hành giả mà cứ tự cảm thán :“Thơ cũng
không mà đạo cũng không” như chính thi nhân tự kể về ḿnh, một tiểu
sử xưa nay chưa từng có, quả thật lạ lùng :
“Trúc Thiên, đó là người làm thơ, thơ hỏng, viết văn, văn hỏng, dịch
sách, sách hỏng. Bằng tất cả cái hỏng ấy, người lội qua hai ngọn trào
văn hóa với lời thơ cao ngạo trên môi : Trần thế nan phùng khai khẩu
tiếu…
Rồi một ngày nào đó, người nhận chân lại con người của chính ḿnh, không
thể là ǵ khác hơn một con số không to tướng : Không dĩ văng, không
tương lai, không kỷ niệm sau lưng, không thiên đường trước mặt, không
thân thế, không tiểu sử, không tuổi, không tên, không là ǵ hết.
Bằng tất cả con số không ấy, người lớn thêm một chút và ngu thêm gấp bội.
Lớn và ngu, người mang tất cả tấm ḷng trịnh trọng đối xử với đời, biết
ơn tất cả, cả đau thương và bệnh tật, chấp nhận tất cả, cả cái chết và
hư vô…
Trúc Thiên là vậy th́ có ǵ đáng nói giữa vô số chuyện đời của chúng ta,
nói mấy chẳng cùng…”*
Đúng là sơ yếu lư lịch của một thi nhân đích thực, chẳng cần phải kê
khai bằng cấp, chẳng địa vị, chức tước, giấy khen thưởng, không công
trạng, công danh, thành tích chi hết. Điều đó, vô t́nh chứng tỏ một con
người có đức tính khiêm tốn, khiêm nhường, khiêm cung, khiêm hạ.
“Hữu xạ tự nhiên hương” tuy không nói, nhưng những việc làm của
thi nhân, vô h́nh chung, lại mang đến nguồn cảm hứng, niềm tịnh lạc, an
nhiên cho thiên hạ, mọi người nhiều khôn xiết kể. Khơi dậy, mở ra một
cái nh́n tuệ giác, chơn mỹ :
Khép lại rèm mi
Nh́n vào trong ấy
Em thấy chưa ?
Thấy ǵ kia ?
Thấy anh trong đấy
Khép lại rèm mi
Nh́n anh trong ấy
Em thấy chưa ?
Thấy ǵ kia ?
Thấy em trong đấy
Khép lại rèm mi
Nh́n nhau trong ấy
Em thấy chưa?
Thấy ǵ kia ?
Thấy rơ ràng trong ấy
Không anh không em
Lồ lộ một bầu nguyên thủy
Chỉ là chân chỉ là mỹ
Tự bao giờ đến bây giờ
Vi vu ư đạo niềm thơ
Niềm thơ ư đạo trổ bừng trên cái nh́n mới mẻ, tân kỳ chân thiện mỹ. Phải
chăng, đó là cái nh́n nguyên sơ, tinh khôi, ngay lúc ban đầu. Cái nh́n
trục diện, kiến chiếu thực tại, thấy cái đang là đương xứ tức chân. Một
cái nh́n trong suốt, thuần nhiên, như thị, không phân biệt… Hăy để yên
cho tánh thấy tự soi sáng vạn cảnh, mà không chạy theo vạn cảnh, sinh
khởi niệm này, ư nọ, tâm kia… như Trúc Thiên diễn đạt :
“Thiền dạy rằng, ta không thiếu ǵ hết, tự đời thuở nào, ta vốn là
tṛn đầy, ngàn trước, ngàn sau. Ta không thiếu. Trái lại, ta có dư, cái
hại là ở đó. Ta dư đủ thứ, do vọng niệm bày đặt ra, do suy tư vẽ vời
thêm… Những cái dư ấy, gọi chung là vô minh.
Vô minh vốn không có thật, nên chẳng ai hoài công trừ nó làm chi mà chỉ
cần tự tri, tự giác thôi. Tự biết được “con người thật” của ḿnh th́ vô
minh tan mất, như bóng tối tan trước vầng dương…
Từ đời thuở nào, con người vốn là thanh tịnh, vốn là không, nên Thiền
dạy, chẳng phải làm ǵ hết, chỉ cần thấy tánh là được trở về để mà nhập
cuộc.
Nhập cuộc là nhập vào cái trật tự tự nhiên, không thủy không chung của
trời đất. Trong trật tự ấy, chúng sinh là một pháp vô tâm nên vô sự.
Viên sỏi bên đường là một pháp vô sự nên vô vi. Muôn pháp đều vô vi mà
b́nh đẳng nhau trong pháp giới vô ngại : Nước chảy, hoa trôi, trăng lên,
gió mát… Muôn vật đều vô ngại nên tự tại…” **
Tự tại, tự do, giải thoát là bản trường ca hùng tráng mà các bậc đạt đạo,
cao nhân như Trang Tử, Trần Thái Tông, Đức Phật… cùng các dật sỹ, thiền
sư, hào sỹ, thi nhân từ ngh́n xưa đến nay thảy đều rộn ră ḥa âm một
cách phi thường :
Đường đi lên có chân nhân Trang Tử
Khúc cổ bồn ca chuyển kiếp đau
Thơ nghiêng cánh bướm lay hồn mộng
Ngọn bút Nam Hoa đạo ửng màu
Đường đi lên có Trần triều Thái Tổ
Tay nắm gậy thiền tay vó câu
Thế đạo suy vi cường khấu ngặt
Ngàn xưa đuốc tuệ rạng ngàn sau
Đường đi lên có Thích Ca Văn Phật
Pháp hội Linh Sơn mở đạo mầu
Một cánh hoa trao ngàn thuở ngát
Lời kinh Vô Tự vút từng câu
Đường đi lên ôi tuyệt vời minh triết
Có cái không bàn nghĩ được đâu
Ngă ư chánh giác vô sở đắc
Có cái tâm này vạn pháp thâu
Đường lên hỡi khách biển dâu
Ngắn bằng một niệm dài đâu chớp ḷe
Ấy ai những khách đi về
Ngơ lên nẻo Giác chốn về nẻo Tâm
Nẻo về của ư của tâm, chắc chắn sẽ đưa chúng ta đến giải thoát, giác ngộ.
Khi tâm ḿnh không mắc vướng sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)
không bị tham sân si chi phối là giải thoát. Sự ràng buộc, dính mắc
không phải lỗi của sáu trần mà lỗi tại ḷng ḿnh c̣n chạy đuổi theo ngũ
dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) đó thôi. Vậy chỉ khi nào, ḿnh tự biết
chuyển đổi nhận thức sai lầm th́ mới thoát khỏi trói cột, nô lệ. Khi
ḿnh dùng trí tuệ, quán chiếu vạn pháp duyên sinh, vô ngă, không có thực
thể ǵ hết, tức nhiên liền tự tại, giải thoát. Giải thoát là đề tài tối
thượng, như đại văn hào Henry Miller phát biểu :
“Kẻ sáng tạo kêu gọi con người chúng ta nên trực nhận rằng : Tất cả
mọi tự do vốn có sẵn trong bản thân ḿnh rồi. V́ thế, con người không
cần phải bận tâm, lo lắng đến vận mệnh thế giới (v́ đó không phải là vấn
đề của hắn) mà chỉ nên lo giải quyết vấn đề riêng tư của chính ḿnh, tức
là vấn đề giải phóng, giải thoát, chứ không phải vấn đề nào khác cả…”
Bài ca tự tại, giải thoát đó vẫn ngân vang trong từng hơi thở, từng giây
phút miên trường, thường xuyên hiện hữu bất cứ nơi nào có mặt chúng ta.
Có điều, ḿnh có nghe ra mà ḥa điệu, ḥa âm, nhập diệu cùng khúc hát tự
do nọ được hay không thôi ? Có người đă nhập diệu cung đàn giải thoát đó
và đă sống phiêu bồng khắp năm châu bốn bể, để hát lên bài ca vi diệu ấy.
Hăy nghe Krishnamurti tŕnh bày :
“Muốn giải thoát, đừng trông cậy vào tương lai, v́ tương lai không
bao giờ cùng, nếu ta chưa hiểu th́ tương lai cứ kéo dài măi. C̣n hiểu
rồi th́ giải pháp nằm ngay đấy, nơi gặp nhau giữa quá khứ và tương lai,
nghĩa là ở chỗ hiện giờ. Hiểu được như vậy là vượt qua tất cả định luật,
tất cả giới hạn, là thoát khỏi nghiệp báo, luân hồi. Những thứ ấy, dẫu
là sự kiện thật đi nữa, vẫn mất hết giá trị, v́ con người đă thường trụ
rồi ở vĩnh cửu.
Muốn sống ngay cái hiện giờ ấy, cái chân cửu ấy, ta phải xa ĺa tất cả
những ǵ thuộc ngày xưa cũ hoặc mai sau. Tất cả những tín ngưỡng điêu
tàn, những lư thuyết hư ngụy, những thần tượng giả tạo… Các thứ ấy phải
mất đi. Khi đó, ta mới đích thực sống - như đóa hoa tỏa khắp hương thơm
cho thiên hạ - tập trung hẳn vào cái hiện giờ đây, nó không phải là ngày
hôm qua hay mai sau, nó không xa cũng không gần. Cái hiện giờ ấy, bao
dung cả lư và t́nh trong một nhịp thái ḥa.
Cái hiện giờ ấy là cái thực tại và chỉ tự nơi đó mới hoàn thiện được
cuộc sống. Cái hiện giờ ấy, hiển hiện bất cứ đâu, nó hiện thực ở mỗi
người chúng ta, toàn vẹn, tṛn đầy, tự tại, giải thoát…”
****
Bản ngă, chấp chặt vào cái ta là một căn bệnh trầm trọng, nhưng cũng có
thể chữa hết bệnh được, nếu tự ḿnh muốn chữa. Có khi nào, chúng ta ngồi
đối diện với chính ḿnh để tự hỏi, ḿnh là ai chưa ? Triết gia Nietzsche
viết Ta Là Ai ? một tác phẩm thâm hậu, do Phạm Công Thiện chuyển
dịch ra Việt ngữ, nói về vấn đề này.
Ta là ai ? Ḿnh là ǵ mà không hiểu th́ cuộc sống hằng ngày trở nên khô
khan, lănh đạm, vô cảm, rất nhạt nhẽo, vô vị, nhàm chán, toàn là điên
đảo, vọng tưởng mà thôi. Riêng Trúc Thiên th́ đă nhiều lần chất vấn,
kiểm chứng, quan sát, quán chiếu ta là ai mà đang hiện hữu, nói cười, đi
đứng, qua lại, ra vô trong từng hơi thở :
Thở ra khôn hẹn thở vào
Thở ra ta khác thở vào khác ta
Nỗi ḷng như thác nước sa
Dứt thôi lại nối dở ma dở người
Phút đau chối bỏ phút cười
Tâm tư ch́m nổi mấy vời hóa sinh
Ai son sắt ai phụ t́nh
Ấy ai hay chỉ bóng h́nh đảo nhau
Suy tư lừa trắng mái đầu
Tưởng leo hết núi ngờ đâu c̣n trời
Ư nào ư chẳng đùa chơi
Thơ nào chẳng xới mạch đời vu vơ
Ai chàng ai thiếp ờ ơ
Ai soi gương chẳng ngẩn ngơ nỗi ḿnh
Ngồi buồn nghĩ quẩn lo quanh
Suy tư cho lắm cũng đành vô tư
Suy tư, suy niệm, vọng tưởng là cái nghiệp dĩ oái oăm của con người.
Chính vọng tưởng, suy niệm, suy tư đă tạo ra mâu thuẫn, xung đột trong
cuộc sống. Nó bày đặt, tổ chức ra tôn giáo, đoàn thể, chủ thuyết, chủ
nghĩa, giáo điều, luật lệ, lập trường, quan điểm, kết bè, chia nhóm, phe
này, phái kia… để rồi đối nghịch nhau, đố kỵ nhau, tranh chấp nhau, hơn
thua nhau, hạ bệ nhau, giành giật lợi lộc, tấn công khốc liệt nhau, từ
trong gia đ́nh, anh em ruột thịt đến bên ngoài bà con chú bác, thân bằng
quyến thuộc, họ hàng làng xóm giữa quê hương, đất nước hay trên toàn cơi
mọi chốn miền trên thế giới.
Hậu quả tai hại là dẫn đến chiến tranh, không c̣n là một lănh thổ, địa
phương mà lan tràn ra khắp hoàn cầu rồi. Chao ôi ! Nồi da xáo thịt,
tương tàn tương sát, ác độc chém giết nhau, đẫm máu lệ ngập tràn từ ngàn
xưa cho đến ngày nay…
C̣n vô tư, vô tâm, vô niệm là trạng thái của bậc giải thoát, giác ngộ,
vượt ra ngoài mọi tuyệt vọng, bế tắt, khổ đau, sầu hận, đảo điên, phiền
năo… Vô niệm là không có vọng niệm. Khi tiếp xúc với trần cảnh ở mọi nơi
chốn mà tâm ḿnh không hề dính mắc vào bất cứ cảnh trần nào cả.
Tâm ḿnh không c̣n khởi niệm phân biệt lúc xúc cảnh, đối duyên, thoát ly
mọi định kiến của tự ngă, vượt lên trên mọi sai biệt, mọi đối đăi, nhị
nguyên như : Phàm thánh, chánh tà, trí ngu, chân giả, được mất, khen chê,
mê tỉnh, tịnh động, mộng thực, thuận nghịch, sinh diệt, thiện ác, hơn
thua, phải trái, đúng sai, đẹp xấu, lớn nhỏ, cao thấp, thương ghét, dở
hay, tăng giảm, dơ sạch, có không, sống chết…
Cho nên, những ư niệm của ḿnh về thực tại th́ không phải là thực tại
nguyên trinh. Ḿnh phải vượt qua những ư niệm, khái niệm. Nếu ḿnh cứ
khăng khăng cho khái niệm, ư niệm là thực tại th́ ḿnh không bao giờ đạt
tới cái chân như của vạn pháp. Lục Tổ Huệ Năng nói rơ ràng :
“Pháp môn của ta lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm
gốc. Như thấy hết thảy pháp mà tâm không ô nhiễm cũng không vướng mắc,
ấy gọi là Vô niệm. Hoạt dụng hết thẩy chỗ mà chẳng mắc vướng chỗ nào,
chỉ cần thanh tịnh bản tâm, để cho sáu thức đi vào sáu căn, đối với sáu
trần không nhiễm, không dính. Đến đi tự do, ứng dụng vô ngại, tức là Bát
Nhă tam muội, tự tại giải thoát, gọi là hạnh Vô niệm.”
Trúc Thiên cũng lư giải rành mạch : “Sanh tâm là tự nơi tâm bỗng dấy
lên một niệm, nhân đó cái toàn thể bị tách đôi, có tâm và có niệm, tức
là có phân biệt vậy. Niệm là phân biệt.
Nếu ta không nghĩ, nếu một niệm không mống lên, th́ đó là cái toàn nhất
của con người, thể nhập làm một với cái toàn thể của cuộc sống và của vũ
trụ. Đó là trạng thái nhập đạo. Thân không c̣n là thân riêng rẽ mà là
quả của Bồ đề. Tâm không c̣n là tâm khác biệt mà là hoa của linh tri.
Quét sạch hết tạo tác của tư tưởng, đó là cảnh giới bặt hết mâu thuẫn.
Vậy nên, đừng đuổi bắt ǵ hết mà cứ tự nhiên, thuận tánh trong sinh hoạt
hàng ngày. Đó là cảnh giới vô niệm, vô sinh, nhưng vô niệm không có
nghĩa là diệt niệm (lau tâm) v́ tâm vốn vô nhiễm, không có ǵ phải lau.
Nếu hiểu vô niệm, vô sinh là bóp chết tâm hồn và thể xác, th́ tốt hơn
hết nên cầu đạo ở người gỗ, ở cái bù nh́n, hơn là đến cửa Thiền.”
***
Như vậy, vô niệm là khi tiếp cận trần cảnh, vạn pháp, ḿnh vẫn biết rơ
ràng, cái ǵ ra cái nấy nhưng tâm vẫn thanh tịnh, như như bất động,
không nhiễm dính, không bị trói cột, lôi cuốn, không chạy theo đủ thứ
h́nh dáng, âm thanh, màu sắc xanh vàng, đỏ trắng… mà chụp bắt, nắm giữ,
chiếm hữu chi hết.
Đến đi tự tại, ra vào tự do, đó là thái độ của bậc đại trí, đại nghệ sỹ
ứng cơ tiếp vật giữa cuộc đời. Chỉ có những tấm ḷng thong dong, rỗng
rang, vô niệm, vô tâm th́ mới có thể kiến chiếu diệu nghĩa, khám phá ra
những cảnh giới mới lạ, u huyền, như Trúc Thiên đă thấy :
“Hơn ai hết, người nghệ sỹ thường được diễn phúc sống những phút giây
bao la không suy niệm ấy, tâm tư ngưng đọng, trí óc lắng im, những giây
phút “không” để cho nghệ thuật tự chọn chữ, gieo vần, pha màu, nắn cung
bậc. Say sưa trong sáng tạo, người văn nghệ ḥa đồng với tác phẩm, với
đất trời, thân chứng vào vĩnh cửu.
Vĩnh cửu không có thời gian, nên văn nghệ phẩm không hề lỗi thời, giữa
ḍng biến dịch, chứng lẽ Bất Động.
Vĩnh cửu không có tư tưởng, nên văn nghệ phẩm không nhằm nói lên ǵ hết,
thể hiện cái Vô Cùng.
Vĩnh cửu không có tâm, nên văn nghệ phẩm tùy duyên mà thành tựu cái Tâm
Đại Đồng…” ****
Tâm đại đồng là tâm thiền, viên giác, lư sự viên dung. Từ đó, thi nhân
dấn bước đăng tŕnh giữa muôn chiều, phiêu du lên tận đỉnh Thái Sơn ngắm
mây trời vạn đại, xuống vùng biển xa xăm Hắc Hải dạo chơi, rồi đôi khi,
bồng bềnh trên mấy bồng lai tiên cảnh hay dưới trần ai, cơi tục lụy, phù
hư, như bài thơ Tiêu Dao phóng khoáng :
Hào quang chắp cánh dạo thời gian
Ngọc kết đường mây rợp sóng đàn
Chân đạp Thái Sơn ch́m Hắc Hải
Tay lùa Vô Cực nối Tương Quan
Lên tiên xuống tục c̣n rêu dấu
Vào thực ra mơ lửng ư bàn
Bút đón hoa đưa tiền kiếp dậy
Thiếu ǵ hào kiệt với hồng nhan
Hồng nhan, thục nữ, người em gái thanh xuân, những nàng thơ trên mặt đất,
tự bao giờ, vẫn chân thành mời gọi chúng ta, những khách chinh phu,
khách quan san, khách tang du, khách trần gian… một cách tha thiết, hăy
cùng nhau cạn chén rượu đời trăm năm cho thấm thía nghĩa tồn sinh. Hăy
sống trọn vẹn từng phút giây, bây giờ và ở đây cho thật viên dung, trọn
đầy :
Ngày sắp hết xin anh dừng bước lại
Cạn cùng em ly rượu – khách chinh phu
Rồi hồ thỉ mặc sầu ran ngọn ải
Khoảnh khắc này đủ vi vút ngh́n thu
Đêm sắp hết xin anh dừng bước lại
Cạn cùng em ly rượu – khách quan san
Rồi góc biển mặc mây đùn khắc khoải
Cảm thông này đủ nắng dậy cồn hoang
Giờ sắp hết xin anh dừng bước lại
Cạn cùng em ly rượu – khách tang du
Rồi sau đó mặc mưa rào nắng quái
T́nh chúng ḿnh trăng gió đủ vi vu
Đời sắp hết xin anh dừng bước lại
Cạn cùng em ly rượu – khách trần gian
Rồi trên nẻo luân hồi gom cỏ dại
Nắm tay nhau ta dựng lại thiên đàng
“Nắm tay nhau ta dựng lại thiên đàng” cùng chung vai lập lại cuộc
sống. Một cuộc sống thông thường, b́nh thường mà vô cùng phúc hạnh,
thanh b́nh, chan chứa t́nh thương như Krishnamurti đă nói :
“Cái mà Đức Phật gọi là Niết bàn, Chúa Giê Su gọi là Thiên đàng,
chính cái ấy tôi gọi là Cuộc sống. Cuộc sống không ǵ hơn là t́nh thương.
Người có t́nh thương mới thật là tâm đạo, v́ đạo chân chính không dựng
trên tín ngưỡng, giáo điều. Người có t́nh thương mới thực có đạo tâm, dù
thương một người hay thương nhiều người.
T́nh thương là cái hiện tiền, cái tột cùng, cái không thể đo lường được…
Có thể yêu thương nhưng không mắc vướng vào một người nào, vào vất cứ ǵ.
Đó là mức chí thiện của đời sống t́nh cảm. Phải tách ĺa tất cả nhưng
cũng vẫn thương yêu tất cả, v́ t́nh thương là sự bừng nở của cuộc sống.”
****
Không có bắt đầu cho nên chẳng có chấm dứt, con người chúng ta vốn chẳng
từ đâu đến và cũng chẳng đi về đâu“vô sở ṭng lai diệc vô sở khứ”
hay “ngàn năm mây trắng bây giờ c̣n bay” là như thế. Thành thử,
trên vạn nẻo đường cô lữ, độc hành ca, một chiều bữa nọ, thi nhân dừng
gót sơn xuyên lại giữa nơi chốn không miền.
Miền chốn ấy ở đâu ? Phải chăng, đó là cơi tâm ban sơ, nẻo thiền nguyên
ủy mà suốt từ thượng cổ, biết bao kiếp người đă trùng điệp, tiếp nối,
dấn bước bươn bă đến rồi đi chập chùng, thấp thoáng giữa thiên thu vời
vợi… Để cho lời thơ của thi nhân ngân lên, vọng dài trong mưa nắng, gió
sương, trăng huyền tuyệt bích :
Tinh cầu chung một pháp âm
Sinh linh chung một hướng tâm y về
Ta bà chung khúc bồ đề
Bồ đề hành khúc y về một tâm
Tâm là Phật, Phật là Thiền, Thiền là Đạo, Đạo là Thơ cùng ḥa quyện nhau
như h́nh với bóng, không bao giờ rời xa, cách biệt nhau. Thấu được lư
nhất như “Tất cả là một, một là tất cả” của Hoa Nghiêm ấy, nên
thi nhân xem mọi sự như chơi :
“Th́ ra, những ǵ siêu việt nhất, con người có thể thành tựu đều là
tṛ chơi. Sống là chơi. Làm văn nghệ là chơi. Yêu là chơi. Làm thiện là
chơi. Cho đến nhập định cũng là chơi nốt – du hư tam muội. Không ǵ
chẳng là tṛ chơi. Tṛ chơi của những thằng bé. Con người muôn thuở vẫn
là thằng bé. Ḍng năng lực luân lưu trong vũ trụ có bao giờ già cỗi đâu.
Ở đây, Thơ gặp Đạo. Thi sỹ là “thằng bé nó hay chơi”, đạo sỹ là “đứa anh
nhi nằm trong ḷng mẹ.”
Mang kiếp thương vay, người thơ đau cái đau của thế nhân, gắn liền vào
nỗi đau của nhân thế : “Khanh thị hà nhân ngă thị thùy” Trộn lẫn vào cát
bụi, người đạo lấy tâm thiên hạ làm tâm ḿnh, chung một nhịp cảm thương
vô hạn : “Bồ tát Duy Ma Cật bệnh v́ chúng sinh bệnh.”
Thơ và đạo thành tựu trong cuộc sống cái tâm đại đồng, bao hàm cả quá
khứ và vị lai, cả không gian và thời gian, cả nghệ thuật và nhân sinh,
cả tri và hành, bao hàm tất cả và chảy tan, tiêu dung tất cả. Con người
hiện nguyên h́nh là điểm anh linh của Vô Cực, suốt thông từ trong ra
ngoài, từ ngoài vào trong, ḥa nhịp trong thơ, viên dung trong đạo.
Không ǵ chẳng là thơ. Không ǵ chẳng là đạo. Con người phục hồi trọn
vẹn thể tánh người – con người của Đạo và Thơ…” ***
Thơ và Thiền là bước đi cùng tuyệt của Trúc Thiên, suốt b́nh sinh trong
cuộc sống. Bước đi tri túc, thung dung, hào phóng, thơng tay vào chợ, có
lúc nghêu ngao khúc Phóng Cuồng Ca của Tuệ Trung Thượng Sỹ :
Trời đất liếc trông hề sao thênh thang
Chống gậy chơi rong hề phương ngoài phương
Hoặc cao cao hề mây đỉnh núi
Hoặc sâu sâu hề nước trùng dương…
Có khi cao hứng, ngâm nga Chứng Đạo Ca của thiền sư thi sỹ Huyền Giác :
Đi cũng thiền ngồi cũng thiền
Nói im động tịnh thảy an nhiên
Ví gặp gươm đao thường nhẹ hững
Giá nhằm thuốc độc vẫn bồng tênh…
Nhiều lần quá đỗi lâng lâng, say sưa, ḥa điệu hát theo Khúc T́nh Thương
Ca của Krishnamurti :
Ôi trùng dương tràn ngập ḷng ta
Một ngày sống đủ trăm mùa hạ
Bạn ơi ! Nơi anh ta ngắm khuôn mặt ta
Khuôn mặt Người Yêu thương mến lạ…
Rồi tự trào, cảm thán bằng những vần thơ tiêu sái của chính ḿnh, phát
ra từ một trái tim hiểu biết, thấu triệt lẽ tử sinh. Thấy sinh tử như
hoa đốm giữa hư không, nên chuyện đến đi, c̣n mất, vui buồn, sướng khổ…
đều xem như vô sự, cười vang sảng khoái, hoan hỷ, nhẹ nhàng buông xả,
hát ca :
Trúc Thiên nay đă trúc đầu đà
Gậy vác ngang vai la lư la
Vứt hết sau lưng ba tiếng khóc
Reo vang giữa cuộc một lời ca
Hẹn cùng thế sự câu vô sự
Góp với phồn hoa cảnh giả hoa
Chớ hỏi thị phi nhiều nỗi bận
Trúc Thiên nay đă trúc đầu đà
Nhà thơ Trúc Thiên ghé lại mặt đất, trần gian này từ ngày 12 tháng 4 năm
1920, chơi rong một cách phóng khoáng, ngoạn mục đến ngày 5 tháng 4 năm
1972 mới giă biệt cơi tạm này. Rồi tiếp tục lên đường, viễn phương hành
qua chơi cảnh giới khác, bên kia chốn miền xứ lạ trong siêu h́nh, vô ảnh,
vô tung tích. Tuy nhiên, vẫn c̣n đây những tác phẩm tâm đắc của thi nhân,
vẫn thắp lửa huy hoàng sáng tạo, khơi mở nguyên khí trong từng hơi thở
của nhân sinh, từng điệu thở nhiệm mầu, sâu thẳm :
Mầu nhiệm như chưa từng đến
Hiển hiện như chưa từng đi
Không đến không đi… ḥa nhịp cùng cung đàn Bát Nhă : “Thị chư pháp
không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm…”
Thực tướng của vạn pháp là vô tướng, không sinh không diệt, không dơ
không sạch, không tăng không giảm… Khi thấy muôn loài vạn vật trong vũ
trụ, càn khôn, từ xưa nay vốn chưa từng đến cũng chưa từng đi đâu hết
giữa pháp giới Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi, nên thi nhân quán
chiếu :
“Quán xét đến chỗ tột cùng th́ tất cả đều là ngôn từ mà c̣n lại chỉ
Cái Toàn Thể, ứng dụng dưới vô số h́nh thái khác nhau. Con người là một
Cái Toàn Thể. Cuộc sống là một Cái Toàn Thể. Tâm thức là một Cái Toàn
Thể. Vũ trụ là một Cái Toàn Thể. Cho nên : “Ai” cũng là tự tánh, “ư”
cũng là tâm thanh tịnh, “phân biệt” cũng là trí bồ đề.”
***
Thế nên, trên cuộc lữ thi tưởng xứ, một chiều phiêu linh viễn mộng, tôi
bỗng nghe rung ngân tiếng thơ Chuyển Một Hướng Say của Trúc Thiên
mà vô cùng cảm khái. Cảm khái đến độ xuất thần, hân hoan, khi thưởng
thức những tác phẩm thâm uyên, tuyệt diệu của Bồ Đề Đạt Ma, Huyền Giác,
Tuệ Trung Thượng Sỹ, Suzuki, Krishnamurti… do Trúc Thiên chuyển dịch,
giới thiệu, tôi đă t́m đến thăm Thanh Tú, con gái của thi sỹ, đang mở
quán cà phê Thúy Vi tại Phú Nhuận, Sài G̣n.
Rất vui mừng, khi biết Thanh Tú đă cho tái bản lại 9 tác phẩm của Trúc
Thiên viết, dịch thuật : Chuyển Một Hướng Say, Sáu Cửa Vào Động Thiếu
Thất, Chứng Đạo Ca, Tuệ Trung Ngữ Lục, Thiền Luận, Cốt Tủy Của Đạo Phật,
Tranh Chăn Trâu Đại Thừa Và Thiền Tông, Hiện Tượng Krishnamurti, Đường
Vào Hiện Sinh, nên tôi xúc cảm, làm bài thơ Trúc Thiên Chuyển Một
Hướng Say này, như một lời vô ngôn gởi vào thiên thu, ḥa âm thâm
mật với bậc tài hoa thi sỹ :
Hiện tượng Krishnamurti
Đi trên mặt đất tân kỳ thong dong
Tuệ Trung ngữ lục rúng ḷng
Chứng đạo ca khúc dội trong tim này
Nên về chuyển một hướng say
Chăn con trâu nọ giữa ngày tháng chơi
Say thơ say đạo say đời
Th́nh ĺnh đốn ngộ bừng phơi đang là
Huyền Giác Bồ Đề Đạt Ma
Xóa tan mê muội sáng ḷa quang minh
Từ đây thấy rơ chính ḿnh
Không là chi hết nên sinh động hoài
Tâm Nhiên
(Viết tại Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện, Hàm Tân, B́nh Thuận, 1. 6.
2017)
* Trúc Thiên. Chuyển Một Hướng Say. An Tiêm xuất bản, Sài G̣n 1970
** Trúc Thiên. Tranh Chăn Trâu. An Tiêm xuất bản, Sài G̣n 1972
*** Huyền Giác. Chứng Đạo Ca, Trúc Thiên dịch. An Tiêm xuất bản, Sài G̣n
1970
**** Trúc Thiên. Hiện Tượng Krishnamurti. An Tiêm xuất bản, Sài G̣n 1969
Thơ Trúc Thiên (chữ nghiêng) trích trong Chuyển Một Hướng Say. An Tiêm
xuất bản, Sài G̣n 1970
art2all.net
|