|
VŨ HOÀNG CHƯƠNG THẤU THỊ LẼ VÔ THƯỜNG
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sinh năm 1916, quê gốc Nam Định. Lớn lên ở Hà Nội, đỗ tú tài 1937. Nho học, Tây học đều thông suốt. Học Luật khoa nửa chừng rồi bỏ. Có một thời làm kiểm soát sở Hỏa xa Đông Dương rồi cũng bỏ, đi dạy học ở Thái B́nh, Hải Pḥng. Sống phóng khoáng giang hồ lăng tử. Từ năm 1940 mới 24 tuổi đă xuất bản tác phẩm đầu tay Thơ say, gây hào hứng bừng dậy một làn gió mới trong giới văn nghệ sĩ Hà thành lúc bấy giờ. Sau đó lần lượt ấn hành những tập thơ Mây (1943) Trương Chi (1944) Thơ lửa (1947) Thằng Cuội (1952).
Đến năm 1954 Vũ Hoàng Chương rời bỏ Hà Nội, lên đường di cư vào Sài G̣n, tiếp tục nghề dạy học và tất nhiên là viết văn làm thơ. Ḥa nhập nhanh chóng vào sinh hoạt văn nghệ miền Nam, ngay cuối năm 1954 đă cho ra mắt liền thi phẩm Rừng phong tại Sài G̣n. Năm 1959 tập thơ Hoa đăng đoạt giải nhất về thi ca. Cũng năm này, thi sĩ sang Bỉ dự hội nghị Thi ca Quốc tế, rồi sang Thái Lan dự Văn bút Á Châu (1964) qua Nam Tư dự Văn bút Quốc tế (1965). Từ năm 1969 đến 1973 Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam.
Ở Sài G̣n, Vũ Hoàng Chương có Gác Mây là nơi lui tới của anh em văn nghệ bốn phương. Được thở bầu không khí tự do trên mảnh đất mới, khơi dậy hồn thơ bẩm sinh vốn đa t́nh đa cảm, thi sĩ như nhập vào suối nguồn sáng tạo trào tuôn lai láng nên nhiều thi phẩm tâm đắc ra đời như Tâm sự kẻ sang Tần (1961) Cảm thông (1961) Trời một phương (1962) Lửa Từ bi ( 1963 ) Ánh trăng Đạo lư (1966) Bút nở hoa đàm (1967) Cành mai trắng mộng (1968) Ta đợi em từ ba mươi năm (1970) Ngồi quán (1971) Đời vắng em rồi say với ai? (1971) Chúng ta mất hết chỉ c̣n nhau (1973) và Ta đă làm chi đời ta? (1974).
Ta đă làm chi đời ta? Là một tập hồi kư, nhà thơ kể lại chuỗi ngày tháng lang thang lêu lổng với giới văn nghệ sĩ, những cuộc ngao du phiêu bồng đây đó thời thanh xuân tuổi trẻ trước 1954 ở miền Bắc.
Vũ Hoàng Chương là một thi sĩ vĩ đại của văn học Việt Nam, một nhà thơ trữ t́nh lăng mạn, chứa chan cả trời thơ đất mộng lung linh. T́nh thơ chất ngất bay cao vút tận đỉnh trời lồng lộng, ư thơ nồng nàn tha thiết, cháy bỏng bao nỗi niềm rung ngân bất tuyệt những tiếng ḷng vọng lên từ sâu thẳm tâm tư.
Từ tính chất ưa tự do phóng đăng, thích phiêu lăng tang bồng, thi sĩ bỏ xứ ra đi làm một gă phong trần với túi thơ bầu rượu ngất ngưởng nghêu ngao. Thời tiền chiến ở miền Bắc, h́nh như phủ trùm lên một bầu khí hậu u buồn thảm đạm sao đó, khiến cho hầu hết giới thanh niên trẻ tuổi đều mang tâm trạng lạc lơng bơ vơ, đi mà chẳng biết đi về đâu giữa biển đời lênh đênh không bờ bến:
Bức tường thành vách sương mù u mê ám chường đầy rêu phủ u sầu kia tuy vô h́nh mà dữ dội kinh hồn, khiến cho người ta bị vây khổn, ngột ngạt trong lùng bùng khủng hoảng, run rẩy sợ hăi, hụt hẩng chới với bởi những trận gió từ sa mạc hư vô thổi đến một cách bất ngờ, không sao lường trước được. Trước bao nhiêu sự việc biển dâu, nhà thơ đều im lặng chấp nhận nhưng không thể b́nh thản, an tâm được khi t́nh yêu tha thiết đột nhiên chấm dứt nửa chừng. Chao ơi ! Không biết v́ sao cứ bàng hoàng, thảng thốt, hỡi thuyền quyên thực nữ, hỡi thiên hương quốc sắc lặng lẽ qua cầu. Rưng rưng tiễn biệt mà đau xót ḷng:
C̣n ai đâu mà bốc cháy, say sưa nữa, khi em là người yêu, người t́nh, nàng thơ diễm tuyệt, là tri âm tri kỷ, chí cốt ruột rà nhất đă dứt áo ra đi. Đi là đi mất đi biệt như đóa hoa vô thường rơi tàn tạ hương sắc mong manh xuống vườn hồn tả tơi bao xác lá. Nhà thơ lăng mạn Vũ Hoàng Chương đă trọn vẹn quăng ném hết tâm t́nh ḿnh vào cuộc mộng t́nh yêu kiều diễm, từng nốc cạn bầu rượu t́nh ái đến ly cuối mặn nồng bốc lửa hoan say chuếnh choáng, chàng rộn ràng dấn bước nhập cuộc để khai triển, khám phá hết những mối ưu tư thầm kín, những t́nh cảm nhiệt liệt thấm thía trong tận đáy ḷng sâu thẳm tâm linh.
T́nh và tâm cùng ḥa âm thâm cảm, giao ḥa thấu suốt muôn chiều tim máu sâu xa nên đă va chạm đến thần hồn vi diệu tuyệt trần Phật giáo. Thật vậy, thi ca Vũ Hoàng Chương đă t́m được một lối thoát ngoạn mục, đă phiêu nhiên bay vào phương trời bát ngát Tâm Thiền uyên áo, đóng góp một phần rất lớn vào văn học Phật giáo Việt Nam qua ba thi phẩm sáng ngời Lửa Từ bi, Ánh trăng Đạo lư và Bút nở hoa đàm đậm đà bản sắc nhân văn. Trăng ḷng uyên nguyên hiển lộ, long lanh lấp lánh vô ngần:
Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển đại dương là một cách diễn đạt sự thống khổ của nhân gian là vô số khổ lụy đoạn trường. Vậy bằng phép lạ nhiệm mầu nào, Đức Phật có thể ra tay cứu độ hết tất cả mọi khổ đau, trầm thống điêu linh của nhân loại được đây, hay phải tự ḿnh chuyển hóa, thăng hoa theo thể lệ “Tự ḿnh thắp đuốc lên mà đi?”
Lặng lẽ âm thầm, thi sĩ sớm bắt gặp Phật giáo Thiền tông và lănh hội được tinh túy của Thiền, cho nên hồn thơ đă chuyển sang hướng giải thoát, phong quang sáng tạo chứ không c̣n ch́m đắm trong men say rượu, say t́nh như thời tiền chiến thuở xưa nữa. Cái thời buồn nôn, hư vô, chán chường ấy đă xa như tiền kiếp, thi sĩ hồi sinh lại giữa ánh hào quang Tuệ giác siêu việt của Hoa Nghiêm, Kim Cang, Bát Nhă quá độ vô cùng vô tận, rạt rào vô lượng vô biên.
Tuyệt vời làm sao, khi thi sĩ nhập định, cất lên tiếng Nguyện cầu, lời đại nguyện âm thầm thâm thiết, chuyển hóa thế giới nội tâm, thể hiện một bước nhảy đáo bỉ ngạn sang bên kia bờ. Mở đầu bài thơ, thi sĩ nêu ra một nghi vấn, một câu hỏi trọng đại trước lư vô thường, trước lẽ sinh tử luân hồi của kiếp người giữa vũ trụ mênh mông:
Ta là ai? Ta là kẻ nào trong cuộc lữ trăm năm? Phải chăng ta là một con người sinh ra lớn lên giữa cuộc đời: Làm việc, đấu tranh, dành dụm, tích trữ vật chất và tinh thần, rồi cuối cùng tử thần vụt đến dẫn ta đi vào hố thẳm u linh, kinh hoàng nơi cơi chết mịt mù tăm tối? Chết là chấm dứt hết tất cả mọi sự hay sao? Thi nhân sững sờ tự hỏi: “Ta c̣n để lại ǵ không?” Khi mà “Ḱa non đá lở nọ sông cát bồi”. Chới với trước vạn vật đổi thay, đất trời thiên diễn, vô thường như thế, nhà thơ sực thấy ḿnh từ đời thuở nào đă xoay chuyển măi trong ṿng luân hồi sinh tử u minh, mù mù phía trước, mịt mịt phía sau, làm kẻ phong trần khách, lang thang như gă cùng tử giữa cuộc lữ muôn trùng… Giữa muôn trùng cuộc lữ phiêu linh, một hôm bất ngờ bỗng sực thấy:
Bờ bến nào huyễn hoặc, bến bờ nào vọng mê hỡi cơi hỗn độn phù du phủ đầy hư ảo vô minh? Khiến cho thi nhân trong giây phút nhập thần, chợt thấy thiên thu trong một ánh chớp và bốn bề mười phương trong một giây phút thực tại bây giờ.
Đi trên con đường trần gian cát bụi, thôi th́ đủ thứ xanh vàng đỏ trắng, muôn màu ngh́n sắc dẫy đầy vẻ hấp dẫn, quyến rũ, lôi cuốn ta vào mê lộ, túy sinh mộng tử mang mang… Nếu không tỉnh thức th́ sẽ bị cuốn trôi theo đắm ch́m giữa miền điên đảo, nhào lộn tồn sinh bức bách năo phiền, không lối thoát. V́ thế, dù dơ bẩn hay trong sạch, dù thiện lành hay xấu ác… th́ thi nhân vẫn không muốn vướng bận, không thích dính mắc vào làm chi. Đó chính là bước đi xa ĺa mọi đối đăi, vượt ngoài phân biệt đúng sai, phải quấy, hơn thua, được mất… của thế giới nhị nguyên.
Biết thế nên thi sĩ thể hiện một cách sống mănh liệt viên dung, sống hết ḿnh, trọn vẹn say sưa với ngọn lửa thiêng đang bừng cháy trong hồn. Ngọn lửa thiêng từ cơi tâm bừng sáng chói ḷa cả càn khôn vũ trụ, bay lên rực rỡ huy hoàng tận đỉnh trời thiên thanh vĩnh thúy. Với trạng thái xuất thần ấy, lời thơ lăng đăng đi về:
Con người đau khổ v́ măi đấu tranh, giành giật lẫn nhau theo kiểu sống thực dụng, chiếm hữu cái lợi trước mắt, sẵn sàng tàn nhẫn, chà đạp, sát hại người khác để giành lợi lộc về phần ḿnh. Nhà thơ nhạy cảm, trực thấy rơ sự nguy hiểm của cách sống bị điều động bởi tham lam, sân hận và si mê ấy, nên có ư cảnh giác những đầu óc thực dụng, sống như máy móc, chỉ biết tính toán, so đo được mất, hơn thua, giàu nghèo, phải trái… theo kiểu ma quái lật lường, xuôi ngược hồ đồ tráo trở. Đó là loại người rơi vào duy vật chủ nghĩa với quan niệm chết là hết, nên họ chủ trương sống thỏa măn tham dục, thỏa măn những nhu cầu vật chất nông cạn mà thôi. “ Nói chi thua được với đời. Quản chi những tiếng ma cười đêm thâu.” Nói chi… quản chi… sá chi… những tṛ đời ma quỷ, oái oăm, nhà thơ mỉm cười tịch nhiên bất động trong lặng lẽ xa ĺa, viễn ly tất cả. Sá ǵ mà chấp trước, vướng bận nh́ nhằng làm chi cho mệt, phải không?
Trên ngơ về quê quán cũ, chốn hồn tâm xanh biếc sơ nguyên của chính minh, nhà thơ mở rộng ḷng ra một cách thành tâm:
Luân hồi chấm dứt th́ Niết bàn hiện ra. Niết bàn chính là Cố quận đang hiện hữu giữa trái tim ḿnh, ngay trong ḷng thanh tịnh của ḿnh đây thôi. Chỉ cần ta “hồi đầu thị ngạn” th́ hoát nhiên triệt ngộ, chứng vào cảnh giới Niết bàn Diệu Tâm liền lập tức. Điều đó đă có nhiều người từ ngàn xưa đến nay thực hiện được rồi, như các vị Bồ tát, thiền sư, nghệ sĩ vĩ đại trên mặt đất.
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương trên con đường trở về Cố quận ấy đă từng giáp mặt, chứng kiến biết bao bậc thiền sư, Bồ tát thị hiện giữa cuộc đời, như vào tháng 6 năm 1963 tại Sài G̣n, ngọn lửa thiêng của Bồ tát Quảng Đức bừng cháy lên rực trời trong đêm dài bóng tối vô minh làm sửng sốt, bàng hoàng, đánh thức cơn u mê của chế độ bạo quyền Ngô Đ́nh Diệm kỳ thị tôn giáo, đang tàn bạo cố t́nh tiêu diệt tín đồ Phật giáo. Ngô Đ́nh Diệm cùng anh em gia đ́nh trị độc tài theo Chúa trời Thượng đế, mê muội làm tay sai nô lệ, thừa hành mệnh lệnh từ ṭa thánh Vatican đàn áp đẫm máu Phật giáo đồ Việt Nam.
Vô cùng rúng động trước ngọn lửa vô úy đầy tuệ giác sáng ngời của Bồ tát Quảng Đức, thi sĩ xuất thần sáng tạo bài thơ Lửa Từ bi bất hủ, ngọn lửa thiêng ấy sẽ c̣n cháy măi đến muôn thuở thiên thu, vạn đại vĩnh hằng:
Từ Thơ say đến Lửa Từ bi, Vũ Hoàng Chương đă đi một bước thượng thừa hùng tráng, đầy ngoạn mục phi thường. Hồn thơ ăm ắp hơi thở hiện đại mà vẫn giữ được truyền thống Đông phương trầm mặc. Cung bậc hào hùng từ tiếng thơ ấy bay dậy luồng thanh khí như thắp lên ngọn lửa thơ rực hồng ư niềm uyên tư từ ái:
Tâm đắc tư tưởng tự tại an nhiên, tinh thần giải thoát sinh tử của Thiền, thi sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đă sống một cuộc đời tỉnh thức và siêu thức giữa bao la pháp giới, chập chùng vũ trụ vần xoay:
Khi thấu thị được lẽ huyền vi sâu xa đó th́ thi nhân đâu c̣n lo sợ chi những chuyện vô thường dâu bể nữa phải không? Thôi th́ chút cơ thể cát bụi phù du đă hóa thân giữa trùng trùng bụi cát, rồi một mai hội đủ nhân duyên mà tựu thành một sinh thể khác hoàn toàn mới mẻ, tinh khôi hơn. Chỉ ngậm ngùi cho người ở lại mà thôi, như thiền sư Nhất Hạnh tiếc thương thi sĩ Vũ Hoàng Chương bị chính quyền Cộng sản bắt giam đầu năm 1976 và đă ra đi vào cuối năm 1976 trong lặng lẽ ngậm ngùi:
Tâm Nhiên ________________
|