Kỷ niệm lần đầu tiên gặp đồng môn Nguyễn Quốc Thắng (PV-LVC)
tại Fountain Valley USA (March 2024).
Bốn
chữ Hai Chuyện Tầm Phào lấy làm đề tựa cho bài viết vớ vẩn
này của Thái Cát là bốn chữ thuộc hàng cổ ngữ của thời 1973 tại xứ Đuôi
Trâu. Sau khi phát âm, nghe ra cũng dịu dàng, yểu điệu như tiếng dép lẹp
xẹp của mụ cô tam đợi đang đi t́m trắp thuốc lá cẩm lệ của bà Cửu Ới!
Ngồi ở phố buồn thiu ngoài Quảng Trị mà noái chuyện trong đèo Hải Vân
rừng rú th́ thiệt là ngụy tặc hết sức. Lại vô duyên đến độ noái những
chuyện tào lao dựng đứng như chuyện mấy con ve ve sau khi vừa hát vừa tè
ướt sũng cành cây đang bạ, mấy con ve ve ngụy tặc này lại bắt chuyện với
lũ kiến càng tức là loại kiến dữ độc nhất hạng của xứ Giao Chỉ đang rộn
ràng leo mấy cái cọc hàng rào, để vay mượn mấy chén cơm cho qua những
ngày đông lạnh giá! Ui chao! Trong cái bếp tối tăm dơ bẩn đầy tro than
của dân A-Nam-Mít, là thế giới “hoành tráng” của ba ông đầu râu, cũng
không biết ông nào có lổ rún, ông nào giả đổi giống biến thành đàn bà,
cùng nhau chụm đầu lại với nhau, ngồi chia theo cái kiểu cách ra răng để
khỏi mất phần lổ vốn? Thế mà, kẻ sống nhờ ở tạm nơi ba ông đầu râu,
huyếch lác nói chuyện bên Tây, cách xa cả nửa ṿng trái đất nghe rổn
rảng như tiếng ve kêu mùa hạ, trong khi nồi cám heo hàng ngày sôi sùng
sục, bắn tràn cả lên đầu ông đầu râu mà không thèm để ư. Ông Tây bên
nước Pháp, h́nh dáng của ông được tả là có mắt xanh mũi lơ, ăn bơ, uống
sữa ḅ, chó, mèo, ruồi, bọ đều được cho ăn bánh Tây, tức là loại bánh ḿ
tại đất nước Việt Nam ngày hôm nay.
1. Câu chuyện thứ nhất: Ve sầu rổn rảng
Theo cuốn từ điển giá trị hiện đại của Mỹ là cuốn Merriam-webster
(Merriam-webster.com/dictionary/definition), t́m hiểu về Ḍng họ ve sầu:
Cicada: bất kỳ họ nào (Cicadidae) côn
trùng đồng h́nh có thân h́nh mập mạp, đầu cứng rộng và đôi cánh lớn
trong suốt. Con đực tạo ra tiếng kêu inh ỏi bằng
lối striludation (rung màng gần đáy bụng) .
Là thành viên của họ côn trùng, ve sầu có thân h́nh mập mạp, đầu
cứng rộng, hai đôi cánh trong suốt, đôi mắt kép nổi bật và ba mắt đơn
giản. Hầu hết trong số 1.500 loài ve sầu được biết đến đều được t́m thấy
ở các sa mạc nhiệt đới, đồng cỏ và rừng. Con đực tạo ra tiếng động lớn
bằng cách rung màng gần đáy bụng. Hầu hết ve sầu ở Bắc Mỹ đều tạo ra
tiếng tích tắc, vo ve hoặc rỉ rả theo nhịp điệu, mặc dù
tiếng kêu của một số
loài cũng có âm điệu. Những con ve sầu định kỳ, trong đó có loài ve
sầu 17 năm nổi tiếng (thường bị gọi nhầm là châu chấu 17 năm) và ve sầu
13 năm xuất hiện theo chu kỳ đều đặn. Ấu trùng của chúng đào hang xuống
đất và tồn tại ở đó trong 13 hoặc 17 năm, ăn
nhựa trong rễ cây. Sau
đó, chúng xuất hiện với số lượng lớn để sống trên mặt đất khi trưởng
thành trong một tuần.
Mùa xuân này, hàng tỷ con bọ từ hai lứa ve sầu mắt đỏ, định kỳ có độ ồn
cao khác nhau dự đoán sẽ xuất hiện cùng nhau - và có thể giao phối với
nhau - ở miền trung đất nước lần đầu tiên kể từ năm 1803.
Ve sầu Brood XIII, chủ yếu tập trung ở các bang Illinois, Iowa và
Wisconsin, ra khỏi mặt đất cứ sau 17 năm. Những người anh em họ Brood
XIX của chúng xuất hiện cứ sau 13 năm và trải rộng khắp vùng Trung Tây
và Đông Nam nước Mỹ. Giữa chúng, chúng đại diện cho tất cả bảy loài ve
sầu định kỳ được biết đến.
Floyd Shockley, người quản lư bộ sưu tập côn trùng học tại Bảo tàng Lịch
sử Tự nhiên Quốc gia và chuyên gia về ve sầu thường trú của Smithsonian,
cho biết trong một email là điều không phổ biến nhưng không phải là chưa
từng xảy ra khi hai con ve sầu xuất hiện cùng lúc.
Nhưng hai loài này gần nhau về mặt địa lư đến mức chúng có thể trùng lặp
và giao phối với nhau ở một số khu rừng và cánh đồng gần Springfield,
Ill., một điều hiếm có tiềm năng thú vị đối với các nhà côn trùng học.
“Và chu kỳ của những con ve sầu mới sẽ như thế nào? Chúng ta sẽ phải chờ
xem,” Shockley nói. Con lai XIII/XIX có thể tạo thành một lứa mới hoặc
thêm một nhánh mới vào một lứa hiện có. “Di truyền quần thể ở những con
này rất hoang dă nên chúng ta sẽ chỉ biết sau 13 năm nữa điều ǵ đang
xảy ra với những con lai đó.”
Thêm vào điều bí ẩn là thực tế là trong năm nay sẽ không thể biết liệu
hai loài bọ này có trùng nhau hay không, hoặc nếu có th́ bao nhiêu, bởi
v́ các con bọ gần như giống hệt nhau ngoại trừ độ dài ṿng đời của
chúng, theo Dự án Cicada của Đại học Connecticut.
Dữ liệu quan sát của dự án từ 13 và 17 năm trước cho thấy hai giống ve
sầu này có thể khá xa nhau để có thể ḥa trộn với nhau. Ve sầu không có
xu hướng di chuyển quá xa nơi chúng xuất hiện.
Ve sầu mắt đỏ Brood XIII
Nhộng ve sầu định kỳ dành nhiều năm để phát triển dưới ḷng đất và hút
chất lỏng từ rễ cây. Khi đến thời điểm xuất hiện, chúng đào hầm lên
trên, đợi nhiệt độ đất đạt khoảng 64 độ F (khoảng 18 độ C), rồi ḅ lên
bề mặt hàng loạt trong ṿng vài tuần.
Khu vực D.C. đă trải qua sự xuất hiện khổng lồ của Brood X vào năm 2021.
Khi đă ở trên mặt đất, những con nhộng bụ bẫm sẽ tiến lên bề mặt thẳng
đứng gần nhất - một cái cây, một cột hàng rào, một người đứng rất yên -
nơi chúng lột xác lần cuối, dang rộng đôi cánh và dành những tuần cuối
đời để cố gắng giao phối một cách tuyệt vọng.
Những con đực phát triển âm thanh đặc trưng của chúng, một âm thanh lớn,
cường độ cao, decibel cao sẽ thu hút con cái một cách lư tưởng. Tiếng ồn
có thể quá lớn, nhưng ngoài ra, ve sầu không gây hại cho con người.
Sau một vài tuần, chúng cũng sẽ chết hàng loạt, để lại một đống hỗn độn
hôi hám và hàng tỷ quả trứng chứa đựng thế hệ tiếp theo.
• Tim Meko • Bonnie Berkowitz The Washington Post
_____
Tim Meko thiết kế và phát triển bản đồ, trực quan hóa dữ liệu và đồ họa
giải thích. Trước khi đến với The Post, anh đă lănh đạo nhóm h́nh ảnh
tại Urban Institute và là nghệ sĩ đồ họa thông tin tại Columbus
Dispatch.
Bonnie Berkowitz là phóng viên bộ phận Đồ họa của The Washington Post,
người thường tập trung vào các chủ đề Sức khỏe & Khoa học.
Bài đăng này ban đầu xuất hiện trên The Washington Post và được xuất bản
vào ngày 26 tháng 1 năm 2024.
Bài viết này được tái bản tại đây với sự cho phép.
Chút chuyện kể chơi
Cả xứ Âu Châu văn minh sáng chói đều nghe lời ông Tây chuyên môn kể
chuyện ngụ ngôn qua những vần thơ kư tên Jean de La Fontaine (8 July
1621 – 13 April 1695). Ông La Fontaine cho ve sầu cũng ăn bánh Tây (bánh
ḿ) như loài kiến. Chuyện này hơi sai v́ ve sầu không có miệng và răng
để nhai. Ve sầu chỉ có ṿi châm để hút nhựa từ rễ và cành cây. Xem h́nh
con ve sầu quốc tịch Tây bên nước Pháp, quê quán ghi là “Dans le Jardin
de l'Abbaye de Valsaintes in the Provence region of France" nghĩa là
Trong khu vườn của Tu viện Valsaintes ở vùng Provence của Pháp”.
Cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Tiếng trẻ
A-Nam-Mít dưới thời Pháp thuộc học bài rổn rảng sáng hôm! Vang dội qua
tận một xứ sở tươi vui vừa mới hơn hai trăm năm lập quốc, tục danh nước
Mỹ. Bên xứ Mỹ này cũng có bánh ḿ. Lại bày thêm một loại bánh ḿ non,
nhỏ tí tẹo, bày ra trong tiệm ăn khi chờ món chính. Khách loại gốc đu
càng, chính hạng di tản, đích danh Thái Cát, hớn hở gọi là bánh ḿ, đ̣i
hỏi dọn thêm, khiến tụi bồi bàn ngớ cả mặt ra: “Thưa quư thượng khách,
bổn tiệm không bao giờ có bánh ḿ!” Thượng khách Thái Cát rộng lượng bỏ
qua, che giấu t́nh trạng dốt nát không đủ tiếng của nước ngoài để giải
thích! Cả chục năm sau, cái Thái Cát gọi là “bánh ḿ” trong khi chờ đợi
món ăn chính đă được biết tên gọi là “rolls”, không phải “bread”!
“Rolls”, không phải “Bread”
Loại dân của cái xứ sở mới hơn ba trăm tuổi kể từ ngày dựng nước,
ngây thơ hết sức, kết đoán loại bọ có cái đầu lơn lớn tày tày so với
thân, có cánh mỏng trong suốt đầy gân hoặc màu mè ḷe loẹt, kêu mời gái
rổn rảng nheo nhéo tiếng ca, mấy cái chân sau run rẩy, kiếm cách “rào”
ngay khi bạn t́nh xiêu ḷng bay tới, khép nép dựa sát đuôi, sẵn sàng nối
ruột giao hoan truyền giống!
Tiếng ca rộn ràng đứt ruột. Em dịu dàng, âm thầm, ướp nuốt trọn vẹn khúc
t́nh si! Ơi đồng môn Trần Tuấn Phương! Với chiếc ống kính vô tri, Cụ Mi
nên thừa cơ ghi trọn giây phút lâm ly t́nh ái! H́nh ảnh tuyệt vời ghi
lại khúc nối ruột rổn rảng nhạc “rào” ân ái yêu thương?!
Mùa hè đỏ lửa 1972, Thái Cát chui vô thành phố Nha Trang ẩn núp gần cả
tháng. Từ đường Độc Lập, qua đường Lư Thánh Tôn gặp đồng môn Hồ Đắc
Quỳnh, được Quyến là em của Quỳnh cho ăn mực tươi săn được mô đó ở ngoài
Ḥn Tre. Ơi Ḥn Tre! Hồi đó Hồ Đắc Quyến c̣n thong dong bơi ra săn mực
nang, mang về lầu sân thượng ở đường Lư Thánh Tôn, đăi Thái Cát ăn thiệt
là ngon bắt sững! Bây chừ Ḥn Tre chỉ vẫn cách thị xă Nha Trang ba bước,
nhưng trở thành mịt mù lệ thủy, xa hơn vườn địa đàng thời khai sinh đất
nước địa cầu! Những chén chè Đà Lạt ven đường Duy Tân ṿng theo băi cát
mịn của bờ biển.
Ơi đồng môn Đặng Thị Thanh Nhă (VH-HTK), hàng ngày với
đôi bàn tay Phiếu Mẫu cứu đời! Nếu tham dự Hội Khóa Nha Trang 2024, luôn
tiện trở đôi bàn tay cùng với đồng môn Nguyễn Quốc Thắng (PV-LVC) lo
thêm chút dịu ngọt cháo chè của người xa xứ gởi chút chi về tạm gọi là
dự ké Hội Khóa Nha Trang?
Vậy đó! Một tháng hè đỏ lửa 1972 xa xưa, êm ả
đầy mực tươi, cá nục, cá ngừ bày trong chợ Đầm, và một điều thiếu sót lơ
mơ là trong tàng lá của mấy cây phượng vỹ nở hoa đỏ tươi rực rỡ trên
khắp đường phố Nha Trang chẳng hề nghe thấy tiếng ve kêu!
Ơi Trần Tuấn
Phương, h́nh như Thái Cát đang mất dần trí nhớ về chuyện ve ve rộn ră
kêu gọi nắng mưa hè! Trong mấy ngày tham dự Hội Khóa Nha Trang, liệu
Huynh Đài có chút cơ hội thăm ḍ thử xem có thấy được con bọ nhỏ bé
nhưng ré to tiếng gọi t́nh cuồng nhiệt nhất địa cầu này không? Và, tuy
chưa được phép, Thái Cát đă mạo muội cắt xén một số tác phẩm của bạn để
tiện dùng cho bài này, rất mong bạn tha lỗi!
Tụi Mỹ chúng nó thật bất tri ḱ vị. Răng không biết đem nhạc sĩ ve sầu
ngắt cánh, vặt chân trước khi thả vào chảo dầu sôi?! Chúng để nguyên
thân xác cả vỏ, đôi cánh lẫn bộ chân mà chiên. Rắc vô chảo tí muối, tí
tiêu xong hănh diện khều từng con ra nhẩm nhẩm trước ống kính vô tuyến
truyền h́nh goại tắt là ống kính Ti Vi cho phải phép!
Dân Mỹ thời lập quốc vẫn thường ăn thịt con chồn hôi, rùa sa mạc, rắn
không nọc độc v́ chúng chậm chạp, dễ săn bắt. Thời cơ, khí hậu và t́nh
trạng thiên nhiên ưu đăi, những di dân từ Âu Châu sang Tân Lục Địa có
đời sống mới dễ dàng, sung túc. Hai món nướng và hầm căn bản hàng ngày
trở nên thừa mứa, nên các món nướng dùng cho chồn hôi (Opossums), rùa sa
mạc (Desert tortoise), rắn chuột đất (gopher snake) dần dần không c̣n
dùng nữa.
2. Câu chuyện thứ hai: Đom Đóm Nháy T́nh
Ánh sáng của đom đóm là một phần trong chiến lược giao phối của nó.
Đối với nhiều người, ánh chớp nhẹ nhàng của đom đóm là phần yêu thích
của những buổi tối mùa hè.
Bạn có thể không thực sự chắc chắn rằng ḿnh đă nh́n thấy những ǵ bạn
nghĩ ḿnh đă thấy khi con đầu tiên xuất hiện. Nhưng bạn nh́n chằm chằm
về hướng ánh sáng nhấp nháy và nó lại xuất hiện - con đom đóm đầu tiên
của buổi tối. Nếu bạn ở trong môi trường sống tốt của đom đóm, chẳng bao
lâu nữa sẽ có hàng chục, thậm chí hàng trăm con côn trùng bay tới, phát
ra những tín hiệu bí ẩn.
Đom đóm (fireflies)- c̣n được gọi là lightning bugs
ở phần lớn Hoa Kỳ - không phải là ruồi hay bọ. Chúng là loài côn trùng
cánh mềm, có họ hàng với loại click beetles và các
loài khác. Khía cạnh ấn tượng nhất trong sinh học của chúng là chúng có
thể tạo ra ánh sáng; khả năng này ở một sinh vật sống, được gọi là phát
quang sinh học, tương đối hiếm.
Tôi là một nhà côn trùng học, người nghiên cứu và giảng dạy về hệ sinh
thái và sinh học của côn trùng. Gần đây, tôi đang cố gắng t́m hiểu sự đa
dạng và hệ sinh thái của đom đóm ở bang Bắc Carolina, quê hương tôi. Đom
đóm được t́m thấy rộng răi trên khắp Bắc Mỹ, bao gồm nhiều nơi ở phía
tây, nhưng chúng phong phú và đa dạng nhất ở nửa phía đông của lục địa,
từ Florida đến miền nam Canada.
Bọ phát quang sinh học
Đom đóm tạo ra ánh sáng ở các cơ quan đặc biệt trong bụng của chúng bằng
cách kết hợp một chất hóa học gọi là
luciferin, các enzyme gọi là
luciferase, oxy và nhiên liệu cho hoạt động của tế bào, ATP. Các nhà côn
trùng học cho rằng họ kiểm soát sự phát sáng của chúng bằng cách điều
chỉnh lượng oxy đi đến các cơ quan sản xuất ánh sáng.
Một phản ứng hóa học trong bụng bọ cánh cứng khiến nó phát quang sinh
học.
Ảnh từ Cathy Keifer / Shutterstock.com.
Đom đóm có lẽ ban đầu phát triển khả năng phát sáng như một cách để xua
đuổi kẻ săn mồi, nhưng giờ đây chúng chủ yếu sử dụng khả năng này để t́m
bạn t́nh. Điều thú vị là không phải tất cả đom đóm đều tạo ra ánh sáng;
có một số loài bay ban ngày và dường như dựa vào mùi pheromone để t́m
thấy nhau.
Mỗi loài đom đóm có hệ thống tín hiệu riêng. Ở hầu hết các loài ở Bắc
Mỹ, con đực bay ṿng quanh ở độ cao phù hợp, đúng môi trường sống và vào
đúng thời điểm ban đêm đối với loài của chúng và phát ra tín hiệu đặc
trưng cho đồng loại của chúng. Những con cái đang ngồi trên mặt đất hoặc
trong thảm thực vật, quan sát con đực. Khi một con cái nh́n thấy một con
đang phát tín hiệu cho loài của ḿnh - và làm tốt điều đó - nó sẽ phản
ứng lại bằng một tia chớp phù hợp với loài của ḿnh. Sau đó, cả hai ra
hiệu qua lại khi con đực bay xuống chỗ con cái. Nếu mọi việc suôn sẻ,
chúng
sẽ giao phối.
Một ví dụ điển h́nh là Photinus pyralis, một loài
phổ thông sống ở sân vườn thường được gọi là
Big Dipper. Một con đực bay vào lúc hoàng hôn cách
mặt đất khoảng 3 feet (91 cm). Cứ khoảng năm giây một lần,
nó lại
phát ra ánh sáng khoảng một giây khi bay theo h́nh chữ “J”.
Photinus
pyralis cái nằm trong thảm thực vật dưới thấp. Nếu
nó nh́n thấy một con đực nó thích, nó sẽ đợi hai giây trước khi tự chớp sáng nửa giây ở
giây thứ ba.
Giao phối Photinus pyralis. Ảnh từ Clyde Sorenson, CC BY-ND
Một số loài có thể “gọi” nhiều giờ trong đêm, trong khi những loài khác
chỉ nhấp nháy trong 20 phút hoặc lâu hơn vào lúc hoàng hôn. Giao tiếp
bằng ánh sáng đom đóm có thể phức tạp hơn nhiều; một số loài có nhiều hệ
thống tín hiệu và một số có thể sử dụng cơ quan ánh sáng của chúng cho
các mục đích khác.
Trong khi hầu hết đom đóm đực làm công việc riêng của chúng và phát sáng
độc lập với những con đực khác cùng loài, th́ có những con đồng bộ hóa
ánh sáng của chúng khi có nhiều con khác xung quanh. Ở Bắc Mỹ, hai loài
nổi tiếng nhất làm được điều này là loài
Photinus carolinus ở Dăy núi
Appalachian, bao gồm cả Công viên Quốc gia Great Smoky
Mountains và loài Photuris frontalis thắp sáng những nơi như Công viên Quốc gia Congaree ở
Nam Carolina.
Ở cả hai loài này, các nhà khoa học cho rằng con đực
đồng bộ phát tín hiệu để mọi con đực đều có cơ hội t́m kiếm con cái và để con cái ra hiệu cho con đực.
Những màn tŕnh diễn này thật ngoạn mục và lượng người muốn xem chúng ở
những địa điểm nổi tiếng nhất đă khiến việc tiến hành xổ số để được phép
xem chúng là điều cần thiết. Tuy nhiên, cả hai loài đều xuất hiện trên
phạm vi địa lư rộng và có thể nh́n thấy chúng ở những nơi khác, ít tắc
nghẽn hơn.
Pḥng thủ hóa học hôi hám
Nhiều con đom đóm tự bảo vệ ḿnh khỏi những kẻ săn mồi bằng chất hóa học
gọi là lucibufagins. Đây là những phân tử côn trùng tổng hợp từ các hóa
chất khác mà chúng ăn trong chế độ ăn.
Lucibufagins về mặt hóa học rất
giống với chất độc mà cóc tiết ra trên da của chúng, và mặc dù chúng độc
hại nếu dùng đúng liều lượng nhưng chúng cũng cực kỳ khó chịu.
Chim và các loài săn mồi khác nhanh chóng học cách tránh đom đóm. Tôi đă
từng chứng kiến một con cóc ở hiên sau ăn một con đom đóm và nhanh chóng
nhổ nó ra; con côn trùng bỏ đi, dính nhớp nhưng dường như không hề hấn
ǵ. Một đồng nghiệp của tôi từng cho một con đom đóm vào miệng – và
miệng anh ấy tê cứng cả tiếng đồng hồ!
Nhiều loài côn trùng khác giả làm đom đóm để thu
được lợi ích là trông giống thứ ǵ đó khó ăn và có độc. Đom đóm dường
như cũng sản sinh ra các chất hóa học pḥng thủ khác, một số trong đó có
thể góp phần tạo nên mùi đặc biệt của chúng.
Nhiều con đom đóm Photuris không thể sản xuất ra những hóa chất pḥng
thủ này. V́ vậy, con cái của loài bọ sét to lớn, chân dài này làm một
điều đáng ngạc nhiên: Sau khi giao phối, chúng bắt đầu bắt chước ánh
chớp của con cái Photinus và sau đó ăn thịt con đực
đă đáp lại chúng. Những
con cái này tiếp tục sử dụng lucibufagin mà chúng có được từ việc ăn
thịt con mồi đang thất vọng nặng nề để bảo vệ bản thân và trứng của
chúng khỏi những kẻ săn mồi. Chúng nhanh chóng chuyển hóa chất vào máu
và tự chảy máu nếu kẻ săn mồi tóm lấy chúng.
Một khi đom đóm mất đi môi trường sống, chúng khó có thể quay trở lại.
Ảnh từ Fer Gregory / Shutterstock.com.
Không có nơi nào như nhà
Hầu hết đom đóm là những chuyên gia về môi trường sống, sử dụng rừng,
đồng cỏ và đầm lầy. Chúng dựa vào môi trường sống không bị xáo trộn
trong ít nhất một năm để chúng hoàn thành ṿng đời của ḿnh. Những loài
côn trùng này dành phần lớn cuộc đời của chúng dưới dạng ấu trùng săn
giun đất và các động vật khác trong đất hoặc lá rụng - hầu hết trưởng
thành không ăn ǵ cả. Nếu môi trường sống đó bị phá vỡ trong thời kỳ
trẻ, quần thể có thể bị tuyệt chủng.
Thêm vào nhược điểm này là con cái của nhiều loài - ví dụ như loài blue
ghost nổi tiếng ở phía nam Appalachia và những nơi khác - không có
cánh và không thể phân tán xa hơn khả năng đi bộ của chúng. Nếu quần thể
blue ghost bị phá hủy do khai thác gỗ hoặc các hoạt động gián đoạn khác th́
sẽ không có sự tái lập. Do đó, việc phá hủy môi trường sống là một trong
những mối đe dọa lớn nhất đối với đom đóm. Các mối nguy hiểm khác bao
gồm ô nhiễm ánh sáng từ đèn nhân tạo và có lẽ cả việc sử dụng thuốc trừ
sâu để kiểm soát muỗi.
Vẫn c̣n nhiều điều cần t́m hiểu về đom đóm. Các nhà côn trùng học như
tôi đă xác định được khoảng 170 loài ở Bắc Mỹ, nhưng rơ ràng là c̣n có
nhiều loài khác xuất hiện ở đây. Hăy chú ư đến những con đom đóm trong
khu phố của bạn; quan sát cách chúng nhấp nháy và hành vi của chúng. Có
lẽ bạn sẽ khám phá ra một trong những loài mới đó.
Clyde Sorenson là Giáo sư Côn trùng học tại Đại học bang North Carolina.
Bài đăng này ban đầu xuất hiện trên The Conversation và được xuất bản
vào ngày 22 tháng 7 năm 2019. Bài viết này được xuất bản lại ở đây với
sự cho phép.
Thái Cát Thân Trọng Tuấn (VH-LVC) chuyển từ California ngày 04 tháng 4
năm 2024. Xin tùy ư sử dụng.