|
Thái Cát
HUYNH MUỘI TRÙNG DANH (Tức chuyện vua Quang Trung và nữ sĩ Hồ Xuân Hương)
Xưa linh địa Việt Nam. Lừng danh: Thanh Hóa, Nghệ An bây giờ. Tiền nhân oai dũng phất cờ. Bao phen dựng lại cơ đồ Rồng Tiên. Thoát ṿng nô lệ bang phiên. Anh hùng hào kiệt danh truyền sử xanh. Vào thời Ngũ đại phân tranh (1). Có quan thái thú đại danh c̣n truyền. Bảng vàng ghi đỗ trạng nguyên. Tên Hồ Hưng Dật người miền Triết Giang. Vua Tàu cùng lũ tham quan. Sợ người tài giỏi nên bàn cùng nhau. Phải lo pḥng bị trước sau. Giải quyết cho gấp để lâu thêm phiền. Tập việc chưa được mấy niên. Truyền chỉ sai xuống giữ miền Diễn Châu(2). Đường xa vạn dặm dăi dầu. Lam sơn chướng khí đứng đầu nước Nam. Ngán thay vua ác, quan tham. Đày kẻ hiền sĩ đi làm quan xa(3). Lănh chiếu chỉ tiến ra biên giới. Hết Quảng Đông xuống tới An Nam. Lại thêm muôn dặm gian nan. Mới vào địa phận Nghệ An bây giờ. Kể từ lúc trương cờ dục trống. Cho đến ngày trấn nhậm Diễn Châu. Đi cả năm mới tới địa đầu. “Nam man” (4) xứ lạ thêm rầu t́nh quê. Mong chiếu chỉ triệu về phục mệnh. Tháng ngày qua ống lệnh(5) vắng tăm. Ngày lo quản trị quân, dân. Đêm nằm trằn trọc muôn phần xót xa. Nhưng rồi cũng phôi pha năm tháng. Hội nhập vào quê quán xứ người. Kén vợ, cưới thiếp, mướn đ̣i. Sinh con nhập tịch làm người Diễn Châu. Định cư tại huyện Quỳnh Lưu. Về làng Hoàn Hậu đào ao, cất nhà. Trả áo măo vinh hoa xe lọng. Thú điền viên vui sống tuổi già. Thi thư phong nhă cầm ca. Mở trường dạy học được ba bốn đời. Trường nằm trong thôn Quỳnh Đôi. Học tṛ có rất nhiều người thành danh! Kể từ triều đại nhà Đinh(6). Xuống tới Trịnh-Nguyễn phân tranh trong ngoài(7). Tính hơn sáu trăm năm dài. Hồ tông được mấy chục đời truyền nhau. Thế phả ghi chép mặc dầu. Vẫn không liên tục thiếu câu mất tờ(8). Xét gia phổ hiện giờ có được. Hơn mười quyển từ trước đến nay. Phần nhiều phổ được chép tay. Viết bằng chữ Hán của ngày xa xưa(9). Một vài quyển cũng vừa được dịch. Từ Hán văn sang tiếng Việt la tinh. T́m xem cho biết sự t́nh. Tra cứu một ḿnh cho thỏa ước mong! Dưới thời vua Lê Thần Tông(10). Triều chính do chúa Trịnh Tùng lo toan. Vào năm Mậu Ngọ (1618) b́nh an. Hồ gia hỉ sự quư nam ra đời. Sĩ Anh dong mạo tốt tươi. Làu thông kinh điển, rộng lời thi thư. Gẫm thế sự: Phù du thời cuộc. Vua làm v́, việc nước Chúa lo. Sĩ toàn những kẻ hủ nho. Luận bàn quanh quẩn mong cho qua ngày. Quẻ Thái Ất bày trên án kỷ. Thế vạn niên Sĩ tạm ẩn danh. Sĩ Anh sanh đặng Thế Viêm. Nào ngờ vận số vẫn hiềm oan gia(11). Quan nội phủ rầy rà bắt bí. “Đổi từ Hưng ra Sĩ cũng thường. Mấy đời theo nghiệp văn chương. Họ Hồ Sĩ êm đường danh lợi. Sao bây giờ tự dưng chuyển lối? “Thế” làm sao?... “Sĩ” đổi làm sao?...” Hỏi tra tuy vẫn ngọt ngào. Nhưng ngầm ẩn mác, dao, kềm, kẹp. Lời nhà quan có gang, có thép. Luận cứ theo phép nước mà làm. Sĩ Anh tuân chỉ lời quan. Xin được phép dùng sang chữ khác. Rất độ lượng quan trên phát lạc. Thôi cứ “Y”, dứt lác làm chi. Nhưng từ thứ nam trở đi. Dùng chữ lót là Phi cho đúng phép. (12) Hồ Sĩ Anh cũng cho là đẹp. Trước cửa quyền chịu lép trăm bề. Ẩn nhẫn đổi Thế ra Phi. Quẻ Thái Ất chữ Th́ chữ Quốc. Ṿng hoa giáp dù mất hay c̣n. Tiếng đỗ quyên vọng đầu non. Dù tan sương sớm, vẫn c̣n tà dương. Thời cơ đến, một đường tích lũy. Thái Dịch tŕ chung thủy phân minh. Cho dù không có cũng đành, Nhưng hoài bảo chí thành thông thánh. Hồ Thế Viêm vẹn toàn đức hạnh. Ĺa quê cha để tránh “Kiêu Binh”. Xuôi Nam đành đoạn dứt t́nh. Vào giúp việc cho Đinh phú hộ. Của gia bảo thi thư mấy bộ. Ráng lận lưng mà cố mang theo. Về nơi đất lạ, thân nghèo. Nhưng vẫn giữ phận bèo trong cơn lũ. Tṛn phận sự, kỷ cương tớ chủ. Dưới thiều quang xử sự phân minh. Khiến cho người chủ họ Đinh. Để ư đến có t́nh thương mến. Rồi một hôm sai về Tuy Viễn(13) . Thôn Bằng Châu và khiến thành thân. Với một ái nữ giai nhân. Là Đinh Thị không cần mai mối(14). Cuộc hôn nhân gần như nông nỗi. Thiếu lễ nghi cưới hỏi xưa nay. Họ Đinh cơ nghiệp dường này. Lại kén rễ thợ cày khố rách! Nhưng trước những anh hùng thực khách. Hồ Thế Viêm khí phách hào hùng. Cửu lưu(15) đối đáp làu thông. Tṛn chữ hiếu trong ṿng Nho giáo. Chốn phong trần, vẫn theo trọn đạo. Thắp nén hương kính cáo gia tiên. Từ nay xin được đổi tên. Phi Long tên mới dâng lên bàn thờ. Lời ngoại sử phải ngờ đôi chút. Rằng tên Long phải được đề cao. Sinh con là Tiễn xanh xao. Lớn lên gầy yếu khác nào thư sinh. Nhưng được cái thông minh lanh lợi. Việc cạnh tranh thương măi bán buôn. Khi nào cũng được phần hơn. Ông bà ngoại vẫn luôn tin cậy. Ngành buôn trầu vào thời buổi ấy. Rất thịnh hành nên lấy làm chuyên. Tây Sơn là ấp kề bên. Tiện bến nước lên trên mạn ngược. Trầu buôn về thuyền theo ḍng nước. Khách bán buôn xuôi ngược hàng tuần. Hàng về, trầu xếp đầy sân. V́ quán xuyến, Tiễn cần kén vợ. Thôn Phú Lạc thuộc Tây Sơn hạ. Họ Nguyễn kia cự phú chi gia. Có con gái đẹp mặn mà. Bán buôn thành thạo. Đang đà cập kê. Tiễn bèn kết nghĩa phu thê. Chồng buôn, vợ bán đề huề gió trăng. Từ khi được xích thằng(16) kết mối. Hai vợ chồng sớm tối cùng nhau. Vẫn thường bàn bạc trước sau. Công việc thừa tự cho sao vẹn toàn. Tiễn nguyên tên chữ là Khang(17). Nay đă có được ba chàng con trai. Phi Phú thứ nhất, Phi Thọ thứ hai. Phi Trù tên người thứ ba. Trong khi họ Nguyễn toàn là nữ nhi. Giàu mà vô tự(18) làm chi. Phi Tiễn vẫn có nghĩ suy trong ḷng. Vợ tên là Nguyễn Thị Đồng. Nhà giàu muôn vạn, nhưng ḷng chẳng vui. Cha mẹ c̣n sống trên đời. Đến khi trăm tuổi về trời lẻ loi. Giổ tết biết cậy nhờ ai? V́ rằng xuất giá làm người ngoại nhân. Hồ Phi Tiễn mới ân cần. “Bậu ơi! (19) Thôi chớ lo gần nghĩ xa. Tiểu tử thứ tư nhà ta. Sẽ mang họ Nguyễn ấy là ḥa minh”. Nguyễn gia thỏa ư đẹp t́nh. Yên vui chờ đợi ngày lành khai hoa. Hỉ khí lan tỏa khắp nhà. Quư tử Phi Phúc ấy là Nguyễn nhi! Đền bù vào chỗ cho đi, sinh thêm Phi Huống vậy th́ năm tên! Nguyễn Phi Phúc lúc lớn lên. Buôn trầu nổi tiếng trên miền sông Côn. Chợ Kiên Mỹ lập trường buôn. Giao du với các anh hùng dọc ngang. Xe duyên kết nghĩa đá vàng. Với Mai Thị Hạnh(20) thuộc hàng quần thoa. Đế tinh tề tựu một nhà. Sông Côn: Tả, Hữu ấy là Giao Long(21). Thái Đức là con đầu ḷng. Định Vương thứ tám rốt ḍng hùng anh. Quang Trung đại thắng quân Thanh. Công danh hiển hách sử xanh lưu truyền. Nơi đất khách ḷng phiền đằng đẵng. Đón xuân về cũng gắng đôi câu. Trời làm nắng hạn đă lâu. Mai đây gió bấc xoáy sâu trong hồn. Trang sách cũ vẫn c̣n dang dỡ. Áng văn xưa bỡ ngỡ bên song. Bâng khuâng ḷng chợt hỏi ḷng. Liệu viết được chút ǵ không đây nhỉ? Phá quân Thanh, đuổi Tôn Sĩ Nghị. Bước Quang Trung hào khí ngất trời cao. Áo vải Tây sơn. Ấn kiếm chiến bào. Khán Xuân phường có hoa đào hé nụ. Nhắc lại chuyện Hồ Sĩ Anh năm cũ. Gẫm thời cơ xoay đủ chu kỳ. Thôi đừng giữ Sĩ làm chi. Mang Thế trở về xem thử ra sao. Nào ngờ cũng chẳng được nào. Ngẫm đi nghĩ lại thay vào chữ Phi. Sĩ, Thế, Phi chữ ǵ cũng được. Bốn con trai lần lượt ra đời. Chỉ có một Thế mà thôi. C̣n lại ba người tên lót chữ Phi. Thế Viêm lặng lẽ ra đi. Vào Nam lập nghiệp trước v́ mưu sinh. Sau là thể hiện chí ḿnh. Theo sách Luận Ngữ bẩm tŕnh Hữu Phương(22). Hai người kế coi thường danh lợi. Là Phi Quyên cùng với Phi Cơ. Sống đời b́nh dị an cư. Riêng Phi Tích(23) thi thư đèn sách. Khi vua Lê có kỳ sát hạch. Chân cử nhân nạp sách dự thi. Bảng vàng Hoàng Giáp(24) tên đề. Ngựa xe vơng lọng vinh quy rỡ ràng. Anh là Cơ rời làng ra bắc. Thăm các nơi Trúc Bạch, Nghi Tàm. Định cư ở Khán Xuân phường. Lập gian nhà cỏ ven đường hồ Tây. Thời chúa Trịnh thường bày lễ hội. Vào ngày xuân vẫn tới vui chơi. Xem thuyền giăng lưới, trải bơi. Đài cao vua chúa cùng ngồi thưởng xuân. Cảnh thái b́nh vua dân cùng hưởng. Hồ Phi Da con trưởng Phi Cơ. Thong dong bầu rượu túi thơ. Tháng ngày ngâm vịnh bên bờ tre xanh. Năm Nhâm Ngọ (1703) th́ sanh Phi Diễn(25). Nếp nhà xưa nghiên bút sách đèn. Lớn lên lều chơng bao phen. Mấy khoa Hương thí vẫn quen tam trường. V́ hoạn lộ c̣n đương lận đận. Bèn đổi tên là Huấn để răn. Công danh măi chẳng toại ḷng. Nên suốt đời ở ngoài ṿng danh lợi. Kịp đến lúc sáu mươi chín tuổi. Về Hải Dương cưới một nàng hầu. Họ Hà, khuya sớm cùng nhau. Rất hạnh phúc, năm sau sinh một gái(26). Căn nhà cũ xây tường lợp ngói. Lúc khánh thành gọi Cổ Nguyệt Đường(27). Đặt tên con gái Xuân Hương. Hồ Trúc Bạch có Khán Xuân phường(28) thắng cảnh. Phía tây thành sương thu giăng lành lạnh. Trấn Vũ đền lóng lánh ngói âm dương. Chùa Một Cột lặng lẽ lúc chiều buông. Đê Cổ Ngựa(29) vào Cổ Nguyệt Đường uốn khúc. Cửa ô(30) xưa tên Yên Hoa tấp nập. Thăng Long thành vùng kinh bắc hồ Tây. Tiếng đỗ quyên run rẫy bóng trăng gầy. Ḍng Tô Lịch(31) vơi đầy theo năm tháng. Đất Tây Sơn anh hùng khí đoản. Nét hào hùng soi bóng sông Côn. Ngày xưa có một Hồ Thơm. Tài văn vơ vẫn c̣n rạng rỡ. T́nh Quy Nhơn luôn luôn ghi nhớ. Đấng hùng anh một thuở xông pha. Hương sơn dáng núi ngọc ngà. Theo ngôn ngữ Việt gọi là Ḥn Thơm(32). Trăm năm trước ôm hờn sông núi. Vẫn hiên ngang chờ đợi hiển linh. Phú Xuân ấn kiếm điểm binh. Thăng Long đánh phá giặc Thanh tan tành. Xuân lịch sử an b́nh bờ cơi. Nước sông Thơm đỏ chói phù sa(33). Chẳng thua màu nước Hồng Hà. Cờ đào áo vải(34) nước nhà tự do.
Đồng thế hệ, họ Hồ đất bắc. Làng Trúc Yên tại Cổ Nguyệt Đường. Nữ
lưu tên chữ Xuân Hương. Thơ Nôm lừng lẫy chẳng nhường một ai. Thường
quy tụ anh tài khắp chốn. Vần thơ Nôm vang bốn phương trời. Từ thủ
khoa xuống kẻ học đ̣i. Đều hâm mộ thi tài nữ sĩ. Cũng có kẻ chơi tṛ
tiểu quỷ. Làm dâm thơ rồi dí cho người. Nhàn cư bày chuyện vui cười.
Nào hay Hương Kư muôn đời lưu danh(35).
(1) Năm Đinh Măo (907) nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, tranh nhau làm vua. Mỗi nhà được mấy năm, gồm tất cả là 52 năm, gọi là đời Ngũ Quư hay là Ngũ Đại. (2) Diễn Châu: Năm Kỹ Măo (678) vua Cao Tông nhà Đường chia đất Giao Châu ra làm 12 châu, 59 huyện, và đặt An Nam đô hộ phủ. Nước ta gọi là An Nam khởi đầu từ đấy. Nghệ An gồm 2 châu là Hoan Châu ở phía bắc có 4 huyện và Diễn Châu ở phía nam có 7 huyện. (3) Không rơ vua nhà nào. (4) Nam man: Người Tàu gọi các nước phía nam là di, là man, các nước phía bắc là rợ trong nghĩa man di mọi rợ, thấp kém thiếu văn minh. Măi đến năm Canh Dần (1760) Lê Quư Đôn đi sứ nhà Thanh báo tin vua Lê Ư Tông mất, luôn tiện phản đối việc nhà Thanh gọi sứ là di quan, di mục. Nhà Thanh phục tài mới đổi thành An Nam Cống Sứ. (5) Ống lệnh: Ngày xưa, văn thư của nhà cầm quyên chuyển đi các nơi, được cuộn tṛn, bỏ trong ống có nắp đậy làm bằng tre, gỗ hay bằng đồng gọi là ống lệnh. (6) Nhà Đinh: Năm Mậu Th́n (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. (7) Trịnh-Nguyễn phân tranh: Kể từ năm Đinh Măo (1627) đời vua Thần Tông lần thứ nhất, đến năm Nhâm Tư (1672) đời vua Gia Tông, vừa 45 năm, họ Trịnh, họ Nguyễn đánh nhau cả thảy 7 lần. (8) Gia phả viết không liên tục, hoặc bị bỏ sót, hoặc bị xé rách, v.v. không rơ lư do. (9) Có thể kể các bản bằng Hán văn: Hồ Tông thế phổ, Hồ Tộc thế phổ, Hồ Tộc hiền lục, Hồ Đại Tộc tổ tiên thụy hiệu, Hồ Tộc Hương Khoa Trường biên, Hồ Tộc Tông thứ phổ kư, … Riêng quyển Hồ Quỳnh Gia Phổ do cử nhân Hồ Phi Huyền (tức Hồ Phi Thống) soạn bằng chữ quốc ngữ và tự đánh máy vào khoảng năm 1938 được các ông Nguyễn Thiệu Lâu, Hoàng Xuân Hăn, Dương Quảng Hàm tin dùng. (10) Lê Thần Tông (1619-1643) Niên hiệu: Vĩnh tộ (1620-1628) Đức long (1629-1643) Dương ḥa (1635-1643) Thần tông húy là Lê Duy Kỳ, con vua Kính tông. Làm vua đến năm Quư Mùi (1643) th́ nhường ngôi cho con là Thái tử Lê Duy Hữu, mà làm Thái thượng hoàng (11) Gia phổ ghi Hồ Sĩ Anh có 4 con trai là Hồ Thế Viêm, Hồ Phi Quyên, Hồ Phi Cơ và Hồ Phi Tích. Tên người con trai lớn lót chữ Thế nghĩa là Đời, là Thế tử. Ba người kế tiếp lót chữ Phi nghĩa là Lớn. Chữ Phi truyền xuống nhiều đời sau. Chữ Thế chỉ dùng riêng cho Hồ Thế Viêm. Tên con cháu của Hồ Thế Viêm đều lót chữ Phi. Hồ Thế Viêm sinh Hồ Phi Khang. Hồ Phi Khang sinh Hồ Phi Phúc. Hồ Phi Phúc lấy họ mẹ là bà Nguyễn Thị Đồng thành Nguyễn Phi Phúc. Nguyễn Phi Phúc lấy Mai Thị Hạnh sinh 3 trai là Nhạc, Huệ và Lữ. Giữa Nhạc và Huệ là 5 người con gái không rơ tên, nên Nhạc lớn hơn Huệ đến 10 tuổi. So sánh bản Nhà Tây Sơn của Quách Tấn - Quách Giao sau này (không ghi Hồ Thế Viêm) với các bản phổ họ Hồ ở huyện Quỳnh Lưu (Không ghi Hồ Phi Long, Hồ Phi Tiễn), ta có thể nghĩ Thế Viêm là bí danh của Hồ Phi Long và con của Phi Long là Phi Khang hay Phi Tiễn cũng chỉ là một người. Cho Thế Viêm là bí danh v́ nghĩ lan man thấy Thế là Đời, Viêm là nóng, Viêm phương là phương nam, trỏ chuyện vào nam giúp việc trồng tỉa cho nhà họ Đinh. Để tránh sự truy xét trả thù của Nguyễn Gia Miêu, phải dùng các tên như Thế Viêm, Đinh phú ông, v.v. Hy vọng trong tương lai sẽ có người t́m ra sự thật. (12) Việc đổi tên ngày xưa không khó, chỉ cần chọn ngày lành tháng tốt, lo một mâm cau trầu rượu tươm tất bưng ra Từ Đường cáo với tổ tiên xong mang một phần mâm cau trầu rượu này đến báo cho “quan” lư trưởng để ghi sửa vào sổ bộ là đủ. Khó khăn nhất dưới triều Tây Sơn, bắt đầu dùng Tín bài để tiện bắt lính và thâu thuế. (13) Thôn Bằng Châu, huyện Tuy Viễn, phủ Qui Nhơn, vị trí thuộc về phía dưới ấp Tây Sơn. Vào thời kỳ này, huyện Tuy Viễn rất lớn, khác với bây giờ. Nguyên năm Canh Dần (1470) Hồng Đức nguyên niên, vua Lê Thánh Tông đánh chiếm đất Chiêm Thành chia làm ba huyện là Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn thuộc phủ Hoài Nhơn thuộc Quảng Nam Thừa Tuyên. Năm Nhâm Dần (1602) chúa Nguyễn Hoàng đổi tên Hoài Nhơn thành Quy Nhơn. Ba trăm năm sau, có quá nhiều đổi thay. (14) Theo truyền thuyết, không lấy ǵ làm chắc. (15) Cửu Lưu: Chín trường phái này của Trung Hoa bao gồm: Nho gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tung hoành gia, Tạp gia và Nông gia. Sự thật Hồ Thế Viêm chưa chắc đă giỏi như vậy. (16) Xích thằng: Tích Nguyệt Lăo xe duyên. (17) Theo Hồ Mẫu Đơn viết cho Hồ Tuấn Niêm cho hay khoảng năm 1922-1924 được thầy là Hồ Phi Thống cho xem gia phả, thấy ghi : “Hồ Phi Khang có năm người con trai là Phi Phú, Phi Thọ, Phi Trù, Phi Phúc, Phi Huống. Hồ Phi Khang sinh ngũ nam Phi Phú, Phi Thọ, Phi Trù, Phi Phúc, Phi Huống…” Hồ Tuấn Niêm là một trí thức có công sưu tầm và phổ biến gia phổ ḍng họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Các bài viết của Hồ Tuấn Niêm được đăng trong Tạp Chí Văn Học, Văn Sử Địa và Nghiên Cứu Lịch Sử rải rác từ năm 1957 đến 1973. (18)Vô tự: Không con nối dơi. Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại. Ba điều bất hiếu, không con nối dơi là tội nặng nhất. (19) Bậu ơi!: Ḿnh ơi! (20) Mai Thị Hạnh là bà Cao tổ của anh hùng kháng Pháp Mai Xuân Thưởng. (21) Giao Long: Sông Côn chia hai nhánh tả hữu tức Tả Giang và Hữu Giang xem như hai con rồng, phát tích Nguyễn Tây Sơn. Nguyễn Nhạc sinh năm Quư Hợi (1743). Năm Tân Măo (1771) khởi nghĩa tại Tây Sơn, xưng là Tây Sơn Vương. Năm Mậu Tuất (1778) lên ngôi tại Đồ Bàn (Quy Nhơn), xưng là vua Thái Đức tức Trung Ương Hoàng Đế. Năm 1788, thôi làm vua nhưng vẫn giữ thành Đồ Bàn, vẫn xưng là Tây Sơn Vương. Mất năm Quư Sửu (1793). Nguyễn Huệ, sinh năm Quư Dậu (1753). Năm Bính Ngọ (1786) Vua Thái Đức phong tước Bắc B́nh Vương, cho cai quản từ đèo Hải Vân ra biên giới sông Linh. Lên ngôi tại Phú Xuân (Huế) năm Mậu Thân (1788), tự xưng là Quang Trung Hoàng đế. Mất năm Nhâm Tư (1792). Nguyễn Huệ c̣n có tên là Hồ Thơm và Nguyễn Quang B́nh. Nguyễn Lữ sinh năm Canh Tuất (1754). Năm Bính Ngọ (1786) được vua Thái Đức phong tước Đông Định Vương, cho trông coi Gia Định và các vùng phụ cận. Mất năm Đinh Mùi (1787). Sử nhà Nguyễn Gia Miêu ghi thêm chữ lót là Văn, thành Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ và Nguyễn Văn Lữ. (22) Hữu Phương: Theo sách Luận Ngữ: 子 曰:父 母 在,不 远 游,游 必 有 方。Tử viết: Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương. Khổng tử nói: Cha mẹ c̣n sống, không được đi xa, nếu đi phải báo rơ nơi đến. Hồ Thế Viêm được phép vào nam lập nghiệp. Có thuyết cho rằng năm Ất Mùi (1655), quân Nguyễn đánh chiếm Nghệ An, bắt theo một số thường dân đưa vào nam, trong đó có tổ 4 đời của Nguyễn Nhạc là Hồ Thế Viêm, cho khai khẩn vùng Quảng Nam Thừa Tuyên, tức là phần đất từ đèo Hải Vân trở vào. Cha của Hồ Thế Viêm là Hồ Sĩ Anh lúc này đă 37 tuổi, c̣n Hồ Thế Viêm có thể đang ở tuổi bị bắt lính. Cuộc chiến lần thứ năm giữa Trịnh và Nguyễn kéo dài 6 năm, tính từ năm Ất Mùi (1655) đến năm Canh Tư (1660). (23) Hồ Phi Tích là con trai út của Hồ Sĩ Anh. Phi Tích sinh năm Ất Tị (1665). Đậu Hoàng Giáp năm Canh Th́n (1700) đời Chính Ḥa (vua Lê Hi Tông). Mất năm Đinh Tị (1734). (24) Hoàng Giáp: thi Đ́nh đậu Tiến Sĩ hay Tiến Sĩ Xuất Thân. Hoàng giáp (đệ nhị giáp) được quy định lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm Nhâm Th́n Kiến Trung thứ 8 (1232) đời vua Trần Thái Tông cùng với đệ nhất giáp (tam khôi) và đệ tam giáp (thái học sinh). Hồ Phi Tích đă đậu Hương Cống (Cử nhân) nên được nạp quyển dự khoa thi Đ́nh, đậu Hoàng Giáp tức Tiến Sĩ mang danh ông Nghè. (25) Hồ Phi Diễn sinh năm Quư Mùi (1703), c̣n có tên khác là Hồ Phi Huấn. Thi Hương khoa Quư Măo (1723) đời Bảo Thái, đậu trường ba gọi là Sinh đồ tức Tú tài. Mất năm Bính Ngọ (1786). (26) Theo Hồ Tuấn Niêm th́ cuốn Hồ Tông Thế Phổ có ghi: “Phi Diễn sinh nữ Xuân Hương ư Khán Xuân Phường nghĩa là (vợ của)Phi Diễn sinh con gái (tên là) Xuân Hương tại Phường Khán Xuân”; và theo Hồ Sĩ Văn trong cuốn Hồ Tộc Tông thứ Phổ kư cũng ghi như vậy. Gia phổ của người Việt nam trước kia thường chỉ ghi tên con trai mà không ghi tên con gái v́ quan niệm nữ nhi ngoại tộc “con gái là con người ta” sau khi đi lấy chồng th́ thuộc về nhà chồng. Hồ Xuân Hương được ghi tên vào gia phổ họ Hồ là trường họp thật đặc biệt. Lại theo dự đoán dựa theo tập Lưu Hương Kư của nàng do Tốn Phong đề tựa, Hồ Xuân Hương có tên là Mơ, c̣n gọi là Mai. Xuân Hương có thể chỉ là bút danh dùng với khách bạn thơ, nhưng theo gia phổ th́ Xuân Hương là tên thật. Và cũng theo suy đoán dựa theo thế thứ gia phổ họ Hồ, Hồ Xuân Hương sinh năm Nhâm Th́n (1772). Có thể Hồ Xuân Hương được cha là Hồ Phi Diễn (tức Phi Huấn) tức là cụ Tú Diễn dạy vỡ ḷng cho đến lúc cụ mất năm Bính Ngọ (1786) khi nàng được 14, 15 tuổi. Lại nữa, cũng có thể Hồ Xuân Hương được người anh họ là Hồ Sĩ Đống (xem *), đậu tiến sĩ, đang làm quan ở Thăng Long, hơn nàng đến 28 tuổi, khi rảnh việc triều thường ghé nhà bàn chuyện thơ văn với cha nàng là chú Phi Diễn, nàng nhờ đó mà phát triển khả năng nhất là phương diện ngôn ngữ, thể hiện qua thơ nôm. (* Hồ Sĩ Anh có con trai thứ là Hồ Phi Quyên. Gia phổ không ghi con của Hồ Phi Quyên. Cháu nội của Hồ Phi Quyên là Hồ Sĩ Danh, sinh năm Giáp Thân (1704) mất năm Quư Măo (1783). Con Hồ Sĩ Danh là Hồ Sĩ Đống sinh năm Giáp Tư (1744), mất năm Ất Tị (1785). Hồ Sĩ Đống đậu Hoàng Giáp khoa Nhâm Th́n (1772) đời Cảnh Hưng (vua Lê Hiển Tông). Hồ Sĩ Đống làm quan triều Lê, thăng đến chức Thượng Thư. (27) Cổ Nguyệt Đường: Ngôi nhà cũ cạnh hồ Tây ngoài cửa ô Yên Hoa nơi Hồ Phi Diễn dùng làm trường dạy học. Sau khi cha là Hồ Phi Diễn mất năm Bính Ngọ (1786), truyền rằng Hồ Xuân Hương và mẹ mở quán nước làm kế sinh nhai và cũng là nơi hội ngộ các bạn văn thơ. Tại đây, năm Đinh Măo (1807) Tốn Phong theo lời giới thiệu của bạn là Cư Đ́nh đến t́m gặp Xuân Hương. (28) Khán Xuân phường: Phía nam hồ Tây có ba làng là Trúc Yên, Yên Hoa và Yên Quang. Năm Canh Thân (1620) niên hiệu Vĩnh Tộ đời vua Lê Thần Tông thuộc Chúa Trịnh Tùng, ba làng xin phép đắp một đập bằng đất từ Trúc Yên, Yên Hoa qua Yên Quang để nuôi cá. Chúa Trịnh Tùng chấp thuận, cho tên là Cố Ngự Yển có nghĩa là Đập Đất (Yển) Ngăn Chận (Ngự) Vững Chắc (Cố). (Lúc đầu gọi Cố Ngự Yển, sau bỏ Yển, gọi là đập Cố Ngự, rồi đập Cổ Ngựa, rồi đập Cổ Ngự, rồi đập Cổ Ngư, rồi đê Yên Phụ, rồi đường Cổ Ngư,.. Năm 1958 đổi thành đường Thanh Niên. Từ thành Thăng Long ra Yên Hoa và Trúc Yên thời vua Lê chúa Trịnh có cổng kiểm soát gọi là cửa Ô Yên Hoa, bây giờ mất dấu). Một trăm linh chín năm sau ngày đắp đập đất Cố Ngự, Chúa Trịnh Giang cho ra ngoài cửa Yên Hoa, vào làng Trúc Yên, gần chùa Trấn Quốc, cho xây cung nghỉ mát đặt tên là Trúc Lâm điện, dựng đài cao là Khán Xuân để xem hoa, xem đánh cá. Cung nữ phạm tội, cho ra Trúc Lâm điện lo dệt lụa để mưu sinh. Lụa này gọi là trúc bạch, rất nổi tiếng. Trúc là tre, ư là Trúc Lâm, thuộc làng Trúc Yên, nổi tiếng trồng tre và làm mành cửa bằng tre. Bạch nghĩa là lụa. Trúc Bạch là lụa dệt từ điện Trúc Lâm. Dần dần, hồ nhỏ phân từ hồ Tây do cái đập Cố Ngự ngăn ra mang tên là hồ Trúc Bạch. Hồ Trúc Bạch vẫn c̣n, nhưng Khán Xuân phường bây giờ không biết ở đâu. Nay hồ Tây và Trúc Bạch thuộc quận Tây Hồ và Ba Đ́nh, Hà Nội. (29) Đê Cổ Ngựa: Xem (28) (30) Cửa ô: là các cửa vào ra thành Thăng Long. Nguyên thủy có 21 cửa. Năm 1831, giảm xuống c̣n 16 cửa là các cửa Yên Hoa, Yên Tĩnh, Thạch Khối, Phúc Lâm, Đông Hà Môn (ô Quan Chưởng), Trừng Thanh, Mỹ lộc, Đông An, Tây Luông (Tây Dương tức là ô Cầu Giấy?), Nhân Ḥa, Thanh Lăng, Yên Ninh, Kim Hoa, Thịnh Quang, Thanh Bảo và Thụy Chương. Năm 1866, mất cửa ô Nhân Ḥa c̣n 15 cửa. Rồi về sau chỉ c̣n 6 cửa là ô Hàng Đậu (Phúc Lâm, Tiền Trung), ô Quan Chưởng (phố hàng Chiếu, Đồng Xuân), ô Đồng Mác (Thanh Lăng, Lăng yên), ô Cầu Dền (Phố Huế, Thịnh Yên), ô Đồng Lầm (Đại Cồ Việt, Kim Liên), ô Chợ Dừa (Vườn hoa Tây Hồ). Đến bây giờ, tháng 11 năm 2015, cửa ô của Thăng Long mất gần hết, chỉ c̣n mỗi một cửa ô duy nhất là cửa ô Quan Chưởng (có đắp ba chữ 東 河 門 Đông Hà Môn ), thuộc phố Hàng Chiếu, phường Đồng Xuân, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. (31) Sông Tô Lịch: Ngày xưa là phụ lưu của sông Hồng, làm sông hộ thành phía bắc Thăng Long, chảy từ đông sang tây, xuống nam. Hiện nay bị bồi cạn từng khúc, dài c̣n khoảng 10km. Ô nhiễm nặng. Có khúc chỉ c̣n là mương. Có khúc chảy ngầm dưới ḷng chợ Kẻ Bưởi. Đầu nguồn bây giờ là hồ Tây v́ khúc khởi nguồn từ sông Hồng bị cạn lấp từ lâu. Chảy về hướng nam, đổ vào sông Nhuệ qua cửa cầu Tó, Thanh Tŕ. Ngày xưa, Tô Lịch là ḍng sông thơ mộng của Thăng Long. (32) Ḥn Thơm: Tức Núi Thơm, tên chữ là Hương Sơn nằm về phía đông bắc huyện Bồng Sơn, Quy Nhơn. H́nh núi cao vót. Từ xưa đă có dân cư sống quanh núi. Thôn Thạnh Xuân có đền thờ Ba Vị (Tam Thần Từ) thờ Tứ Dương Thành phủ quân, Đà Dương phủ quân và Thế tử Nhạc phủ quân. Theo truyền thuyết, ba vị bị tử tiết, hiển linh được phụng thờ. Để ư tên Nhạc và Thơm, trùng tên với anh em Tây sơn. (33) Sông Thơm: Kinh đô Phú Xuân (Huế) có con sông Thơm chảy ngang. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, cuốn Thừa Thiên Phủ ghi nước sông dưới triều Tây Sơn màu đỏ, đến triều Gia Long th́ nước trong xanh trở lại. Gia Long cho chuyển tên sông Thơm là tiếng Nôm thành Hương Giang là tiếng Hán. Minh Mạng cho chạm h́nh sông Thơm tức Hương Giang vào Cao Đỉnh kê thờ trong Thế miếu. Ghi nhớ: Vua Quang Trung chuộng chữ Nôm. Cho lệnh dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm. Các văn thư triều Tây Sơn đều dùng chữ Nôm. (34) Cờ đào áo vải: Lấy từ câu Ngày xưa áo vải cờ đào trong bài văn tế của công chúa Lê Thị Ngọc Hân khóc chồng là vua Quang Trung. (35) Hồ Xuân Hương được cho là bà chúa thơ Nôm với mấy chục bài c̣n lưu lại. Tư chất rất thông minh, đối đáp lanh lợi, giàu ngôn ngữ, nhất là tiếng Việt. Tương truyền đứng sau song cửa, chỉ nghe cha giảng trong lớp mà tự học được chữ Hán, chữ Nôm. Biết làm những bài ca theo điệu Giang Nam (Trong Lưu Hương Kư, phần Hán văn có ba bài ca gửi bạn là Mai Sơn Phủ). Giỏi thể thơ Đường luật. Tính bà được cho là rất dạn trai và đa t́nh. Có nhiều kẻ hoặc làm, hoặc chép một số các bài thơ có lời cợt nhă, ẩn ức sinh lư, hận đời, v.v. xong gán cho Xuân Hương là tác giả. Hy vọng, cuốn Lưu Hương Kư của Hồ Xuân Hương đưa cho người t́nh là Tốn Phong đề tựa năm Giáp Tuất (1814) và 5 bài thơ về vịnh Hạ Long khi đi chơi cùng chồng là quan Tham Hiệp tên Trần Phúc Hiển (tức là vị quan cầm đầu tài chánh của Trấn Yên Quảng vào khoảng năm Bính Tư (1816) (về sau vua Minh Mạng đổi Trấn Yên Quảng thành Tỉnh Yên Quảng)), sẽ được phiên dịch ra chữ quốc ngữ và xuất bản để người đời phân biệt thi phong thực giả của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
|