Thái Cát

 

MẮM RUỐC PHƯỜNG ĐOÀI

 

Ai cũng có một nơi gọi là Quê Ngoại. Có thể v́ lư do nào đó, tuy không tràn đầy kỷ niệm nhưng cũng vương chút ǵ tạm gọi thương yêu. Quê ngoại tôi là làng Thế Chí Đông, nằm ven bờ biển thuộc phía Nam của những độn cát vàng gọi là dăy “Tiểu Trường Sa” thấp nhỏ. Những độn cát nối tiếp nhau nằm dọc theo bờ biển Thái B́nh Dương lộng gió. Cách một lớp ruồng nhỏ, có những bệ gạch xây bằng vôi gọi là Quán cộ, dùng để thờ những người trong xóm phía trước đă qua đời. Trống vốc không mái che. Phong sương cùng đất trời. Mấy bát nhang nho nhỏ. Thờ những ai không rơ. Có cái đứng, cái đổ. Bệ vôi xám lặng buồn. Qua khỏi lớp đường ruồng. Gặp nương nhà trong xóm. Hàng rào thưa lấy có. Cánh đồng lúa rộng giáp bờ Phá Tam Giang sóng vỗ. Con đường Trưa là chính lộ của làng. Các đường Bờ, đường Lối, đường Đập dọc ngang và quanh co lẩn khuất những con đường Ruồng của xóm. Bây chừ con đường Trưa cải thành Quốc Lộ 49B vô duyên ỏm.

Làng Thế Chí Đông nguyên có sáu xóm theo thứ tự đi từ cuối làng ra khỏi cổng làng gọi là đi đàng xuôi: Xóm Chùa. Xóm Diêm. Xóm Nẩy, xóm Lùm, xóm Cày và xóm Đ̣. Hai phường là Phường Đoài, Phường Nạng, và một thôn Minh Hương đầu làng. (1)


 

 


 

***

Gia đ́nh ba người chạy xe “đi đàng xuôi” ra khỏi Minh Hương

trên con đường Trưa, nay là Quốc lộ 49B.

 

Biển ghi: Làng Minh Hương. Thực ra là Thôn Minh Hương chứ không phải là Làng Minh Hương. Từ đây đi ngang ra bờ biển sẽ gặp Phường Nạng.

 


 

Từ chút xa xưa

Thử tưởng tượng cái cảnh thời mô đó.

Mùa tháng ba khí trời êm ả. Làn nước của đầm Hà Trung thong thả đong đưa. Bờ ruộng khô lơ thơ cọng cỏ. Qúa im ĺm tiếng sóng vỗ hoang vu. Cửa biển Tư Dung giăng chút sương mù. Trải rất mỏng tưởng chừng như không có. Thật b́nh yên. Trời chẳng buồn đổ gió. Mặt nước đầm thênh thang mấy độ bạc đầu. Rất im ĺm vài chiếc thuyền câu. Màu nước biếc điểm mấy chấm nâu nâu lấm tấm.

Đàn cá nhỏ dưới làn nước trong xao động. Nối đuôi nhau đuổi theo lớp bong bóng vật vờ. Thủy triều dâng ngập tràn bờ. Ruộng khô ướt sũng, ngẩn ngơ nước về. Cỏ vàng lúng túng câu thề. Hải âu réo gọi cận kề băi xa. Mặt đầm lan rộng dần ra. Đàn cá con nhờ vậy vượt qua các bờ. Túa theo làn nước xô bồ. Tràn vào những đáy ruộng khô không bùn. Làn nước bạc quay cuồng tứ phía. Loại bọ kư sinh cũng bị quậy tung. Đàn cá con trong lúc vẫy vùng. Lớp mùn của đám rong khô tan vỡ. Đoàn kư sinh trùng bám theo từng tổ. Kết hợp thành những mâm cỗ rỡ ràng. Rất vội vàng ch́u những chàng cá con háu đói.

Cơn thủy triều chậm dần, từ từ đứng đợi. Lớp sóng vỗ ngang bờ mời gọi sự chia xa. Vũng nước đứng làm thêm già nua ngọn cỏ. Chút lao xao làn gió thoảng đi về. Cánh chuồn chuồn khẽ đập nước buồn tê. Rất lặng lẽ, thủy triều về biển cũ. Dăy đường bờ ruộng hiện dần ra lố nhố. Nhưng vẫn chẳng thấy bóng dáng đàn cá nhỏ. Rất im ĺm những cọng cỏ lênh đênh. Lă lướt uốn theo bờ mương đất lở buồn tênh. Nơi ra thoát của đàn cá con bé nhỏ. Nhưng rồi lại có sẵn những cái rổ, chận hờ ḍng nước đổ trong ruộng chảy ra, đang chờ sẵn dành riêng cho đàn cá!

Chiếc rổ sảo thiệt công dụng chi lạ. Hứng hết những ǵ trong mương nước ṛ ra. Những cọng rong, những rác rến, cỏ già. Và tốt nhất là những con cá nhỏ. Lọt vào rổ theo từng làn nước đổ. Uốn lật ḿnh phơi bụng óng vàng rêu. Rồi kiệt sức, nổi lều bều trong lưng chừng rổ. Tḥ vào trong, tay khuấy tṛn, vớt ra từng nhóm cỏ. Đang rối nùi v́ mấy cọng rong trơn. Những con cá phóng dọc ngang trong rổ. Sẽ nằm yên sau mấy lần nhúng vỗ lên xuống liền tay. Nước ngoài ruộng vẫn chưa chịu rút ngay. C̣n lửng đửng chưng bày mô chừng ngang “trốt cúi”.

Rất thong dong, chẳng có chi phải vội. Dựa theo ngày, bấm đốt ngón tay biết lúc thủy triều lên. Sau khi nước đứng, sẽ ṛ mạnh dần đến khi ra tới biển. Chiếc rổ sảo rồi sẽ được di chuyển. Về một nơi để dồn cá vào đăng. Mang về nhà và sẵn sàng làm mắm!

 

Đến mùa hiện tại

Tiết tháng mười có những cơn mưa nguồn nước động. Ḍng sông Hương dâng sóng vỗ ven bờ. Con nước sỉa xô đùa những cành củi khô nhấp nhỏm. Lớp rong xanh bị ép nằm rạp xuôi sát đáy sông thê thảm. Lũ tép rong tán loạn v́ đại nạn bất ngờ. Làn nước bạc hững hờ phá tan nơi trú ẩn. Suốt cả ba ngày “Bà” làm cho mưa một trận. Nước sông trong veo chừ đă hóa ra màu bùn bẩn đục ngầu. Bờ nước cạn đầy lớp cát mịn cũng đă trở thành sâu. Lời “ḍng nước trôi lững lờ” đă thành câu “băng băng con nước lũ”. Chiếc đ̣ ngang đậu nguyên trên bến cũ. Những giọt buồn ủ rũ rớt trên sông. 

Từ thượng nguồn nước lũ đổ xuôi ḍng. Bầy cá gáy cỏ bơi ṿng từng đám nhỏ. Rất thong dong như có thể chúng nó đang “trôi”. Cọng rớ chéo ngang chận bắt vài con thôi! Nh́n kết quả, hai ôn mụ kẻ chài nở nụ cười hoan lạc. Xâu ngang mang cá, cột cạnh thuyền dứt khoát: Cá sẽ tươi v́ c̣n sống mấy ngày. Chờ cắt lát, xếp bày vào trong rỗ. Rất vội vă mụ nách mang ra chợ. Con đường làng trơn như mỡ nhưng cũng chẳng hề chi. Mụ rành nghề trong những bước chân đi. Lại thong thả cất tiếng rao “Cá Trôi Cỏ!”. Béo chi lạ! Loại cá đầy bụng mỡ. Thịt thơm ngọt mềm đúng với tên chữ “Lư Ngư”. Loại cá đă nở và sống lớn lên ở tuốt mô trên Tuần, trên Lụ. Mô xa tuốt sâu trong dăy Trường Sơn rừng rú. Có hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch của Hương Giang. Xứ làng Trẹm với những hàng cây dày đặc. Cá trôi bơi qua nơi hai nguồn của sông Hương “gặp chắc”. Có danh xưng là “Bằng Lăng” sóng êm. Xuôi xuyên vùng Thạch Hàn Ḥn Chén. Núi Hương Uyển nh́n ḍng sông bẻn lẽn. Đàn cá Trôi làm nhớ đến chuyện cũ mấy trăm năm. Tên nước Chiêm Thành hay c̣n gọi là Chămp. Núi Hương Uyển có thờ thần Thiên Y A Na hai ngàn năm cũ. Do vị vua Chiêm bị đày lên đó. Xuôi về Lương Quán, Long Hồ. Nguyệt Biều, Long Thọ. Tháp Phước Duyên bảy tầng trong khuôn viên Thiên Mụ. Vẫn im ĺm với hàng đá xếp h́nh rùa sau g̣ Hà Khê. Bầy cá Lúi lẻ tẻ trôi về ngang qua Thương Bạc. Sông Đông Ba ngắm qua ḍng Thọ Lộc thấy Đập Đá biếng nhác nằm chơi. Nước lũ đổ lưng trời. Huế đô gầy ẩm ướt. Ba ngày mưa trút nước. Mấy cọng rớ gầy nhom. Trong vũng lụt lom khom. Có vài chú cá con. Xinh như gót chân son. Đùa dẫm trong nước lụt. Khi đêm về dáng ngày qua mất hút. Tiếng ễnh ương gọi bà hai thậm thụt. Ngày nước sỉa cũng có vui chút chút. Mang đèn, thau, rá đi vớt mớ tép rong. Chọn bến đá bên bờ sông để ngồi cho chắc. Tép “đóng đèn” sáng long lanh con mắt. Điểm li ti kéo theo nhau ùa bơi sát tới lăn tăn. Chiếc rá theo tay xúc vớt thiệt hăng. Cứ vài lần là úp đập đổ vào cái thau hứng. Những con “tép ḅ” vô gia cư trong cơn điêu đứng. Kiếp phù du đang chịu đựng cảnh cuối của cuộc đời. Thêm nhúm gạo nấu thiệt sôi rồi nhỏ lửa thủng thẳng chờ có nồi cháo tép!

 

Mớ tép rong (Nguồn Internet) xào hay nấu cháo.

Qua hết tháng mười: Ôn Trời cười lỏn lẻn. Bà Trời vẫn lạnh lùng kén chọn đủ điều. Nhưng bà đă cho nước lụt rút ruống để chiều bụng ôn! Đợt sóng bạc hết c̣n náo động. Phá Tam Giang yên ngọn sóng thần. Đầm Thủy Tú dịu lặng những triều âm. Bến Cầu Hai nín câm tiếng sóng. Qua cơn biển động yên tĩnh bợt Thanh Lam. Chút chi của Chuồn. Chút chi của Sam. Làn nước ấm khiến làm cho bầy cá “nẹp”. Tháng mười một mây trời xanh biếc. Soi mặt nước đầm diễm tuyệt dịu êm. Đàn cá Ḱnh thong thả kéo lên. Theo cơn thủy triều chúng thản nhiên “sượt” trứng. Sau mấy ngày nhờ cơn nước đứng. Nắng ấm của mặt trời làm lớp trứng nở con. Hiền ḥa sóng nước vuông tṛn. Đàn cá lớn dần theo từng cơn sóng vỗ.

Trở lại chuyện mấy con cá ṛ trong rổ. Không hề nghe có chuyện mang cá Ṛ ra chợ bán lai rai. Chuyện ngày xưa nhắc lại một vài. R̉ là loại cá rác bỏ đi nên chẳng ai thèm mua để mà bán. Chỉ nên dành làm mồi cho vịt, cho nồi cám heo, hay làm phân đạm. Tiếc của trời nên làm chút mắm ăn chơi! Loại mắm R̉ một chút của đất trời. Tặng cho những con người vô phúc. Giàu sang ăn thịt vuông cá khúc. Nghèo khó có chút mắm ṛ với những bụm tép rong. C̣ng con xe cát biển đông. Âm thầm chịu cảnh đục trong của đời!

Mẻ khuyết : nguồn Internet.

 

Con Khuyết:

Giới (regnum)

 

Animalia

Ngành (phylum)

Arthropoda

Phân ngành (subphylum)

Crustacea

Lớp (class)

Malacostraca

Bộ (ordo)

Decapoda

Phân bộ (subordo)

Dendrobranchiata

Họ (familia)

Sergestidae

Chi (genus)

Acetes

 

Loài điển h́nh

Acetes indicus
H. Milne-Edwards, 1830

 

Ruốc, khuyết, tép moi, tép biển hay moi là động vật giáp xác mười chân sống ở nước mặn ven biển thuộc chi Acetes, họ Moi biển (Sergestidae).

Ruốc dạng như tôm nhỏ, chỉ lớn khoảng 10–40 mm tùy thuộc vào ruốc cái hay đực. Hai loài chính đánh được ở Đông Nam Á là 'A. indicus và 'A. japonicus.

Màu trứng của ruốc khác nhau tùy theo loài, phân bố vị trí địa lư. Trứng của loài Acetes japonicus có màu xanh lá phân bố ở biển Ariake - Nhật Bản (Soejima, 1926), không màu ở Okayama - Nhật Bản (Yasuda et al., 1953). Trong khi đó, trứng của loài Acetes chinensis lại có màu cam ở Hàn Quốc (Yoshida, 1949), màu xanh lá cây - đà ở thân tế bào và không màu trong suốt ở vịnh Liaotung - Trung Quốc (Liu & Yang, 1981), không màu trong suốt ở Pohai (Wu, 1991). Pilai (1973) cũng chú thích rằng trứng của loài Acetes Indicus có màu đất vàng. 

Nó phát triển lớn hơn hai lần kích thước ban đầu hoặc nhiều hơn. Trứng nở vào đầu năm, ấu trùng lớn, trưởng thành và đẻ trứng trong cùng một năm. 

Khu vực phân bố của các loài ruốc trải dài từ bờ tây Ấn Độ sang Thái Lan, Indonesia, Biển Đông và ngược lên Đài Loan, Nhật Bản 

Do kích thước của ruốc quá nhỏ nên chúng thường chỉ được dùng để làm mắm (mắm ruốc, mắm tôm hoặc mắm chua); hay phơi khô rồi xay vụn thành bột ruốc. 

 

Acetes indicus và japonicus

Màu sắc thay đổi từ màu đỏ vùng biển lạnh Triều Tiên, hồng và trắng như biển Cà Mau.

Chi này chứa 14 loài đă biết, được liệt kê tại đây với tên gọi thông thường bằng tiếng Anh của FAO:

Acetes americanus Ortmann, 1893

Acetes binghami Burkenroad, 1934

Acetes chinensis Hansen, 1919

Acetes erythraeus Nobili, 1905

Acetes indicus H. Milne-Edwards, 1830

Acetes intermedius Omori, 1975

Acetes japonicus Kishinouye, 1905

Acetes johni Nataraj, 1947

Acetes marinus Omori, 1975

Acetes natalensis Barnard, 1950

Acetes paraguayensis Hansen, 1919

Acetes serrulatus (Krøyer, 1859)

Acetes sibogae Hansen, 1919

Acetes vulgaris Hansen, 1919


 

 

Nhắn từ hải ngoại

Sau một năm thả rong trong trường B́nh Minh. Chừ thi lại vô trường Hàm Nghi Quốc Tử Giám. Không được “gởi” cho nên không được hỏng. Tên được ghi trong bảng “Đậu Chót” gồm đúng mười thằng. Thầy Tổng Giám Thị bắt chuyển từ ban Pháp văn qua Anh Văn! Ừ cũng tốt! Bỏ Thằng Tây lên làm Anh cũng được. Pạt lê vu Phờ răng xe cho le te xuôi theo ḍng nước. Lét Lớt Inh Lích dẫm bước từ giă Mông Xơ Mô Rê! Rứa mới phải a thê. Mấy cái thằng cu tê dù mới đậu như ḿnh noái tiếng Anh nghe hay hơn tiếng Mỹ! Nhưng thôi kệ, ai hơi mô để ư. Ḿnh cũng bảnh v́ đă thi đậu như ai rứa hí! Lên làm Anh sau một năm Lạc Đệ trong trường B́nh Minh lêu bêu! Chừ lại có thêm mấy tháng hè rộn tiếng ve kêu. Phải liệu mà làm cái chi cho có nhiều điều khoái trá. Ra vườn t́m tổ chim. Xuống bờ sông câu cá. Mấy chuyện nớ cũng thường thôi, cần cái chi mới lạ! Ờ phải rồi! Nên làm một chuyến đi xa! Về làng Ngoại gọi là báo tin mới! Vừa thi đậu, rạng rỡ sáng vàng trời! Mấy chị em cũng lấy đó làm vui. Từ Nguyệt Biều cùng đi xe Long Thọ. Xe mang số 7, tạm dừng ở ga xe lửa, mấy chị em xuống xe theo đường bộ. Về vùng Bến Ngự cũng chẳng bao xa. Ghé nhà Bác Cả xin phép, xong ra bến xe Bến Ngự có mang số 3. Xe ṿng qua chợ Bến Ngự, tạm ngừng trước cư xá Nguyễn Trường Tộ. Đón thêm chị Phú Phương nhập bọn cùng về. Chị Phú Phương là bạn cùng lớp với chị Trưởng Hoa học trường Đồng Khánh đă được gia đ́nh cho phép theo chúng tôi về chơi làng Thế Chí Đông. Nhờ hai chị Trưởng Hoa và chị Phú Phương khéo tài nói chuyện nên anh “ét xe” không tính lệ phí ba chiếc xe đạp. Chiếc xe đ̣ số 3 mang biển hiệu Bến Ngự, chạy hết đường phố Trần Hưng Đạo, khi sắp tới cầu Gia Hội th́ quẹo phải vào bến xe sát góc chợ Đông Ba và con sông Tả Hộ Thành tục gọi là sông Đông Ba nối với sông Hương. Từ đây, chúng tôi đi xuống bờ sông tức bến Chi Lăng với những chiếc tàu thủy và đ̣ đi khắp nơi. Gần nhất là con đ̣ Ṭa Khâm, và xa nhất có lẽ là con đ̣ Thanh Hương – Đại Lược. Chúng tôi xuống tàu hai tầng mang tên Bảo Toàn đi Đại Lược. Tàu rời bến lúc 8 giờ sáng. Đi ngược ḍng sông Đông Ba, qua khỏi cống Cửa Trài ở Mang Cá, băng qua Bao Vinh. Làng Minh Hương với những căn phố ngói nhỏ và thấp, quê hương mới của những người Trung Hoa thờ triều đại nhà Minh bỏ nước ra đi v́ không chấp nhận nhà Thanh như Trần Tiễn Thành (2) và anh chàng phản chiến Trịnh Công Sơn may mắn theo thời sáng tác những ca khúc thời thượng mang âm hưởng như các bài Ai Giang Nam khi quân Thanh tàn sát quân Minh một cách tàn bạo chỉ trong ṿng 10 ngày mà bây giờ đă ch́m vào quên lăng! 

Tàu Bảo Toàn ́ ạch qua khỏi phân giang, tre cau hai bên bờ xanh mướt. Khúc ngả ba sông Cổ C̣ lộng gió. Tàu ghé ngă ba Śnh. Sông Hương rộng dần. Bờ phía trái có những ḷ nung vôi từ vỏ hàu dùng ăn trầu. Trước khi ghé bến Tân Mỹ, tàu băng qua làng Tân An chuyên nghề ấp trứng vịt. Mấy cái ḷ úm cao ngất rải rác trên những cánh đồng. Xơ xác và hoang vắng cách chi! Trước cửa một ḷ úm hầm hơi, căn cḥi nhỏ lợp quanh bởi những tấm tranh kết bằng những cọng tót. Mấy hàng thúng sắp lấp lững những lớp trứng nhiều ít không đều. “Ôn Mó” ốm nhom. Ngồi lặng lẽ trên chiếc đ̣n tre đàng sau mớ thúng. Rất khoan thai, “Ôn Mó” bốc từng quả trứng, ngừng nghỉ, lựa từng thúng để đặt quả trứng vào. Đều đặn, nhẹ nhàng, âm thầm chuyển động như người máy. “Ôn Mó” đang làm việc lựa trứng. Một tài năng thiên phú dành riêng cho ông. Cầm quả trứng vịt trong tay, ông biết được là quả trứng “có trống” hay không. Tài hơn nữa, là nếu trứng có trống, khi nở ra sẽ được vịt đực hay vịt cái! Ấp trứng bán vịt con cũng theo mùa tháng 5, tháng 6. Do đó, “Ôn Mó” cũng chỉ được thuê “Mó” theo mùa. B́nh thường, bạn hàng chuyên môn sản xuất trứng vịt lộn cho thành phố Huế có phương cách riêng để có trứng vịt lộn bán quanh năm. Cũng bàn tay kinh nghiệm nghề nghiệp, mụ bán trứng lộn phân biệt quả nào “lộn” để bán cho khách ăn chơi, quả nào “ung” để bán cho khách bị chứng thối tai, những lúc bán cho khách trứng vẫn c̣n nguyên vỏ. Khi thành phố lên đèn, tiếng rao “AiAiiAii…lô… lồn?!!” nghe thiệt là buồn chi lạ! 

Mùi gió biển từ Thuận An ùa vào lồng lộng. Bến đ̣ Ca Cút buồn tênh. Tàu ghé nhiều bến nhưng tôi không nhớ hết tên. Qua hết sông Hương, tàu vào Phá Tam Giang th́ đă trưa. Những chiếc ghe vớt nuốc bơi dọc theo hàng sáo. Chiếc vợt có cái cán thật dài vớt những con nuốc trắng vàng ướt nhăo trôi lềnh bềnh, xong đổ ụp vào cái thúng “đăng” lớn tướng đan bằng tre và trát nhựa chai đen thui để chính giữa ghe. Trong thúng có sẵn nước ngọt ḥa một số phân lượng phèn chua và những con nuốc đang bị nước phèn ép thài ra lượng nước trong thân thể một loài hải sản không xương có cơ thể chứa 96% nước. Khi con nuốc lều phều to như cái hũ lúc mới vớt lên, ngâm vào nước phèn làm nhỏ dần chỉ c̣n lớn bằng quả bưởi non th́ được vớt ra, để cắt gọt thành hai loại là “nuốc chưn” và “nuốc tai” rồi sẽ được đong từng chén bán cho khách hàng là những người ở mô trong Huế trong Dinh. Đôi bàn tay của mụ bán “nuốc” không bao giờ được rửa, vén sửa những mảnh “nuốc chưn, nuốc tai” trong hai cái thúng cḥng chành mực nước xắp xắp để mớ nuốc được tươi. Mấy ngón tay mang dấu ấn thời gian, hàng ngày vẫn sắp xếp mấy miếng cau trầu cho vào miệng nhai bỏm bẻm, lần viên thuốc lá rê chạy quanh theo hàm răng màu đỏ nâu đen, nhổ phẹt chút nước trầu đỏ gạch vào một chỗ được cho là không ai thèm để ư đến. Giọng nói mặn mà, rổn rảng như ướp muối. Triết lư rơ ràng “Mau chạy dọi mà chụp lấy cái con “khúm núm”! Đừng có đuổi! Đuổi th́ hắn chạy mất mần răng mà bắt? Muốn bắt th́ phải chạy dọi!” Ui chao! Tiếng nói của mấy mụ bán cá ở chợ Vĩnh Tu khác với mấy mụ bán cá ở chợ Đông Ba. Trong cái nóng bức tuy lộng gió của mùa hè, chợ Vĩnh Tu không hề có tiếng ve kêu. Chợ Đông Ba th́ có muôn ngàn tiếng động. Trong cái ồn ào náo nhiệt, phố Huế ẩn hiện một cái ǵ quư phái thanh cao. Nh́n thấy cái ǵ cũng quen!

Chú ư thêm một chút xíu, những cái thấy quen quen trở thành là lạ không dính líu chi với ḿnh. Thong thả cho tâm trí phiêu du, len lỏi vào cái thời mơ hồ không tưởng! Cái thời Cậu Ấm Năm con trai Cụ Thượng về chơi vùng biển Tiểu Trường Sa. Trên con đường Trưa cát mịn mát bóng tre, cậu Ấm Năm thấy một nàng cháu ngọai của Âu Cơ lớn khoảng mười lăm cọng rạ sáng ánh trăng, trong bộ y phục tuyệt vời của lúc vừa mới lọt ḷng, hồn nhiên chạy trở về nhà sau khi qua bờ ao “tắm miếng!” Chưa quen cũng thành quen. Những tràng pháo cưới nổ ḍn từ bợt đ̣ lên tận chiếc bàn thờ trong căn nhà lầu hai tầng ríu rít tiếng kêu réo của mấy con chim “rặc rặc”!

Nhớ cái thời “Mạ chưa về với Cha!” Cái thời “Ôn vua Mảnh Sành băng hà v́ chứng ung thư xương, truyền ngôi cho “ôn vua Phá Nhà” trở về từ Mẫu quốc!” Sau khi đăng quang, “ôn vua Phá Nhà” cho mở hội chợ ở các thành phố lớn, treo giải thưởng đủ thứ, từ nấu ăn đến hát xướng. Tại Huế, Quận công Nguyễn Phúc Ưng Âu của Trấn Định Pḥng có con gái lớn là Công Tằng Tôn Nữ thị Cơ tức Cô Ngăi tham dự đấu xảo, đoạt giải nấu ăn với các món bánh ngọt làm bằng bột măng tre, gói bánh chưng không dây, chè thịt heo quay, bún ḅ tái, giấm nuốc, v.v. Cần lưu ư những món này là những món b́nh dân, không phải là loại thức ăn mà quan Ngự thiện dâng lên cho nhà vua. Mấy nhà hàng chuyên nấu món “Cung đ́nh” bây chừ có biết làm các loại bánh bằng thứ bột măng tre không rứa hè? Cách gói bánh chưng không cần dây cột là cách răng? Hột nếp bánh chưng luôn dẻo ngon không sống lại? Miếng nhân thịt heo của bánh chưng tan biến thơm ngon tuyệt vời? Miếng thịt heo quay đủ cả da, mỡ, thịt lớn bằng hột đậu phụng bọc bột lọc trong veo. Mà ń, hột đậu phụng, tên ghi trong bản thảo là Phụng Nhăn Đậu, tức hột đậu có h́nh dáng như mắt con chim Phụng, tức chim Phượng Hoàng. Từ Phụng đọc trại ra một cách ngọng nghịu là Phọng hay Phộng nghe giống như tiếng nói của mấy người Việt Nam Mới ở sâu mô trong núi Trường Sơn, tức người Thượng mà Tây Thực Dân gọi là MOI, đọc bừa ra là Mọi! Hiện nay, ở Huế có loại chè thịt heo quay lổn nhổn mấy miếng thịt thiệt đầy đặn, tử tế, chỉ cần ăn một hột là đủ sức chạy băng ba cánh đồng! Bún ḅ tái là món cải cách tân thời, gọi nôm na là bún ḅ kiểu mới theo cách văn minh của mẫu quốc Tây. Mấy ôn quan tân học, giới a dua rủ nhau thời một “đoại” cho đúng với tư cách của những người văn minh. Tàn kỳ Hội Chợ, bún ḅ Tái thay đổi loại thịt tái, nương theo ḷ lửa dưới đáy nồi góp thêm giai vị cho Bún Ḅ Chín Nạc ngon lành! Trang điểm cho đọi bún ḅ bằng cách rắc lên một ít hành lá, ng̣ và rau răm xắt nhỏ. Thêm vài giọt chanh, chút ớt tương đỏ rực. Vào thời đệ nhị Cọng Ḥa, kinh tế lạm phát trầm trọng, thực phẩm tăng giá hàng ngày, một miếng huyết heo luộc được thêm vào đọi bún cho có vẻ đầy đặn so với giá tiền. Trong thời gian trước khi tàn cuộc chiến, các loại rau ăn sống như xà lách, hoa chuối, rau muống chẻ, rau má, v.v. dần dần được cho thêm vào khiến đọi bún trông rỡ ràng sang như ảng thức ăn vẫn dùng hàng ngày nuôi con ủn trong chuồng. Tàn cuộc chiến, đọi bún ḅ vượt biên, định cư miền đất lạ. Một cục thịt heo giả nhuyễn, luộc chín gọi đại là chả Huế thêm vào đọi bún lềnh bềnh. Huế có “đ̣n chả lụa” tuyệt vời, nhưng sau khi di tản, “đ̣n chả lụa” bây chừ không biết có c̣n nguyên vẹn h́nh hài và lưu lạc phương mô? Theo phong tục, nhất là thể lệ trong các phủ pḥng, con gái khi lên 12 tuổi phải được gả chồng, điển h́nh là cô Phạm Thị Hằng con gái của Phạm Đăng Hưng vào làm dâu vua Minh Mạng lúc vừa 12 tuổi, tức vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức. Cô Ngăi cũng bị theo lệ xuất giá này. Cô theo một số công nương, Trấn Định Pḥng sắp xếp cho Cô Ngăi kết duyên theo h́nh thức kết giao gió với vị Tổng Thái Giám để được tôn xưng là Cô Tổng Thái. Năm 1916, Khải Định lên làm vua, cung Diên Thọ thêm 2 người là Ả Út và Mệ Vững. Các bà Phi trong cung Diên Thọ theo lời đề nghị của mệ quan Tổng Thái Gíám, cho gọi Cô Tổng Thái vào hầu chuyện. Cô lại xin các bà Phi cho gọi cô em là Công Tằng Tôn Nữ Thị Quế vào theo, có khi các bà Phi giữ lại cả mấy tuần lễ mới cho về. Trong thời gian này, Cô Quế có dịp giao thiệp với Mệ Vững, dạy cho Mệ Vững tên các ngón tay là ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út. Khi đến ngón út, Mệ Vững đổi thành Ngón Chót để kiêng chữ Út của bà Hoàng Thị Cúc tức bà Từ Cung sau này. Sau 14 năm ăn học tại Pháp, Bảo Đại quên hết tiếng Việt. Không ăn nước mắm. Không thích ngủ trong căn pḥng nhỏ, thấp, tối tăm, kích thước theo lối Lỗ Ban trên đất An Nam. 

Ngài Ngự về nước, lên làm vua. Qua Pháp lúc mới 6 tuổi, có ông anh họ đi theo, được các quan cung kính gọi là “Ông Hoàng Tùng Đệ” tức là ông Hoàng đi theo Em. Ui chao, mới 5, 7 tuổi mà đă làm ông, làm mệ. Ngài Ngự sinh năm Quư Sửu 1913, lên ngôi năm Nhâm Thân 1932, tức được 20 tuổi. Ngài Ngự Khi về nước, mang theo chiếc xe ô tô, rủi thay, khi di chuyển, sóng nhồi làm bể chiếc đèn pha. May thay có Nghè Bô chỉ cần một đêm là chữa được, lại sáng hơn chiếc đèn c̣n lại. Xe ô tô của Ngài Ngự đậu trong điện Kiến Trung, không bao giờ đậu ở các bến xe công cọng nên Ngài Ngự không được dùng những món thức ăn bày bán ở nơi đây! Thử tưởng tượng đôi bàn tay của mụ bán cá sau khi lật lên xếp xuống mấy lát cá để bày hàng, rồi quơ qua quơ lại để đuổi mấy con ruồi dễ ghét bám trên vành rỗ, xong cầm cái bánh bột lọc bọc nhụy tôm, hai tay lột lá miệng mồm há ra. Ngon ghê hí. Mụ bán cá thoải mái nhai bánh bột lọc ngay giữa chợ trông thiệt là sướng cách chi. Nhưng “Ôn Vua” th́ lại khác. Hơn nữa, “Ôn Vua” trở về từ Mẫu Quốc, tất cả dân Mít đều biết rơ như Trần Tế Xương :”Tối rượu sâm banh, sáng sữa ḅ”. Ngài Ngự ăn sáng với Bánh Tây tức bánh ḿ và trứng tráng. Uống cà phê sữa. Hút điếu thuốc tây, tức điếu thuốc thẳng. Về tới điện Kiến Trung, Ngài Ngự có đủ các thức ăn dùng trong ngày. Ngài Ngự không uống rượu ta, tức rượu trắng, tức rượu đế mà chỉ uống rượu Tây, tức rượu Cỏ Nhác, tức Cọt Đông Lơ! Mấy cái chuyện tào lao xịt bộp này có dịp sẽ kể rơ trong loạt bài “Tôn Sư Trọng Đạo”. Mấy người chuyên môn nấu các món “Cung Đ́nh” vẫn hăng say quảng cáo nên t́m đọc qua mấy cuốn viết về phương pháp ăn uống của vua Càn Long nhà Thanh dựa vào Âm Dương, Ngũ Hành, Mệnh Chủ, Tứ Thời, Bát Tiết rồi hăy dọn những thứ đúng phép chuẩn của Ngự Thiện Đường dâng lên vua thưởng lăm v́ các vua triều Nguyễn học đúng theo cách ăn của vua Tàu. Nói có sách, mách có chứng, không nên tự ư cương ẩu. Chắng hạn như món “Mắm Nhum” vẫn được tiến vua. Vua nào vậy? Sách nào ghi? Mắm Nhum hay Mắm Ḅ Hóc? Hăy nhớ chuyện Cống Quỳnh với món ăn tên “Đại Phong”. Món nước tương đậu nành là món phổ biến trong nhân gian ở Thăng Long, thế mà vua Lê bị cấm! Mấy người bà con của tôi, sinh ra và lớn lên ở Sài G̣n, nhưng không dám ăn mắm nêm mắm ruốc! Lại c̣n có vài bà con rất văn minh tân tiến phê b́nh rằng th́ là mấy người ngoài Huế nấu cái ǵ cũng pha thêm ruốc! Ui chao! Ngày mưa gió, chờ tạnh, ra vườn ngắt mấy ngọn khoai lang, đánh tí nước ruốc, xắn trái ớt, luộc rau lên chấm ăn cũng tạm xong một bữa! Mùa hè xứ Huế nóng nực, mấy con ve ve kêu rổn rảng vào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều và buổi tối. Kêu th́ cứ để yên cho kêu. Cơn nóng gió tạm dùng quạt máy. Trong gian bếp nóng hừng hục, trách tôm kho đánh sóng sánh ngon lành. Thêm nước cho đủ số những người ăn trưa. Chặt tư mấy con cua sau khi lột mai, thêm mấy lát thơm chua chua ngọt ngọt. Rổ rau sống trộn nuốc chưn nuốc tai kèm thêm mất trái ớt. Món này gọi là món “VÀ” ăn x́ xụp nóng mát toát mồ hôi. Hột đậu phụng tạo chút bùi bùi. Miếng bánh tráng ḍn rụm. Mấy hột mè rang chín để nguyên. Lùa một hơi nhai nhồm nhoàm thiệt là đă củ tỉ. Sống mũi lấm tấm mấy hột sương trưa tiết hạ, dưới hai nách có luồng gió nồm phe phẩy một chút nam phong! Lại dùng đôi đũa “Và” thêm một vài ngoai, âm thầm nhai lúng búng. Tuyệt! Vặn rời một cái chân cua, xong lựa thế mum mum để những miếng thịt nhỏ ngon mềm rời ra khỏi cái cẳng chân c̣m nhom vàng đỏ. Rồi gắp thêm nhúm rau trộn nuốc. X́ xụp. Tiếng ve kêu inh ỏi. H́nh như có giọt mồ hôi vô lễ thủng thẳng dạo xuống sau lưng! Riêng trách tôm kho đánh màu đỏ gạch cua, Cô Ngăi dùng tôm, thịt cua biển và thịt ba chỉ, ướp tiêu, hành, nước mắm thấm tháp, cho vào cối giả vừa dính tới, xong dùng muỗng nhỏ quệt từng muỗng cho vào trách nước tôm kho đánh. Khi chín, sẽ nổi lên trên mặt, sẵn sàng dùng. Chút cơm trong chén, cho thêm rau, nuốc các thứ, xong chan nước dùng. Ngoáy đôi đũa “VÀ” vài ngoai đầy miệng. Nhai lúng búng. Thưởng thức tất cả hương vị tuyệt vời theo cách thức lua nhanh, nhai mạnh, nuốt nhịp nhàng, khác với cách ăn nhỏ nhẹ cọng giá cắn đôi trong các phủ pḥng, thiệt là “dinh” hết sức. Gái Huế mà không biết làm nước chấm tôm kho đánh là thứ gái hư, cần đưa lên mạng bán sale theo chương tŕnh khuyến măi cho khuất mắt!

Trở lại cuộc hành tŕnh của chiếc tàu Bảo Toàn về thăm quê ngoại. Bờ nước Phá Tam Giang trước chợ Vĩnh Tu thiệt b́nh an chi lạ. Đàn hải âu bước thủng thẳng chẳng thèm kêu. Mấy con “khúm núm” thong thả chạy chơi, khi có những bàn chân người đến gần th́ chạy xuống nước xa chừng một bước chân, xong ép ḿnh xuống cát, xếp mấy cái chân khít rịt hai bên hông. Cái mai trắng h́nh chữ nhật phẳng phiu, lớn gấp đôi những con c̣ng vẫn thấy chạy loạn xạ ngoài bờ biển. Khách lên xuống gọi nhau ơi ới. Tàu Bảo Toàn tách bến, hướng về bến Quận. Tầng dưới của tàu Bảo Toàn xếp đầy những triêng thúng chứa hải sản và mấy mụ bán cá. Có mụ lim dim ngủ. Tầng trên, bác lái tàu luôn tay kéo giật sợi giây chuông báo hiệu cho bác thợ máy ở tầng dưới thay đổi tốc độ. Phần sàn tàu phía sau lưng bác lái tàu được trải chiếu và hội “cờ oi” đánh ăn “bạc gió” vui cười rôm ră!

Trước khi ghé bến Quận, tàu ghé bến Chợ Đ̣, đầu làng Thế Chí Đông. Con đường Đập cao ráo ngăn nước mặn từ phá Tam Giang tràn vào các ruộng lúa trồng loại lúa cho hột màu đỏ, to, cứng cơm, giá rẻ nhất trong các loại gạo gọi là Gạo Nước Mặn. Một rồn tre chạy từ con đường Trưa theo cái mương lớn ra tới bợt đ̣. Lớp bong bóng lềnh bềnh nhấp nhô trên đầu sóng. Từ trên con đường đập, nh́n vào h́nh ảnh mờ mờ của dăy Trường Sơn. Phía trái là làng Thế Chí Long của Nguyễn Tri Phương “Nhất Gia Tam Kiệt”. Phía phải, chừng nửa vời là vùng chợ An Gia, tục danh chợ Sịa. Tương truyền trong cái vũng sâu trước chợ Sịa có ḥn đá nổi “đẻ đá con”. Theo ngôn ngữ Chiêm Thành, âm “Sịa” có nghĩa là viên đẻ đá con. Dân trong vùng tôn thờ viên đá nổi này. Đến năm 1945, xảy ra trận đánh lớn giữa Pháp và quân kháng chiến Việt Minh. Chiến trường dàn rộng từ phía Nam tỉnh Quảng Trị xuống tới vùng đèo Hải Vân thuộc phía Nam tỉnh Thừa Thiên. Rạng ngày mồng một tháng ba. Tây tập trung quân số rút ra đi lùng. Đi lùng năm khẩu pho pho. Mười hai tàu trận, chín chiếc ca nô lộn nhào. Phi cơ chiếc lộn chiếc nhào. Đánh từ An Lỗ, đánh vào Tam Giang…Lệnh Tản cư ban hành. Quân kháng chiến Việt Minh rút vào bí mật. Chợ Kháng Chiến thành lập. Pháp cấm đoán, truy lùng cấm họp chợ. Không đi th́ chính phủ nghi. Đi th́ những sợ Đồng Di Tây Hồ. Không đi th́ chính phủ ngờ. Đi th́ những sợ Tây Hồ Đồng Đi! Huế bị nạn đói. Có chuyện một bà nhà giàu đem cái kiềng vàng xin đổi lấy một củ khoai nhưng bị từ chối. Năm 1947, vỡ mặt trận. Tiêu thổ kháng chiến. Lệnh hồi cư ban hành. Huế trở lại t́nh trạng b́nh an. Nhất Huế, nh́ Sịa! Chợ An Gia họp như xưa vẫn mang danh Chợ Sịa tuy viên đá đẻ con đă bị tàu thủy của Pháp dùng xích sắt trục đi trong trận chiến bắt đầu từ ngày mồng một tháng ba năm 1945. Người Pháp cho rằng viên đá đẻ con là đỉnh của cái cột buồm Chiêm Thành thời Chế Bồng Nga, được một số những khoáng chất trong nước của Phá Tam Giang kết tụ mà thành. Nước của vũng Phá Tam Giang trước vùng chợ An Gia vẫn thay đổi đục trong theo từng mùa. Bánh tráng Sịa vẫn ngon.

Năm một ngàn chín trăm hồi đó, thiệt sự là năm Con Mèo Mới, nhân số vùng chợ An Gia có tăng thêm một thằng Cu Sum. Dễ nuôi, hay ăn, chóng lớn, trở thành một bé trai mạnh khỏe, thông minh, tính nết hiền lành, chững chạc, lễ phép. Vào Huế, định cư trên dốc Nam Giao, học trường Hàm Long, trường Quốc Học. Năm 1969, thi đậu Tú Tài Toàn Phần ban Toán. Thi đậu vào Đại Học Sư Phạm ban Việt Hán. Ḿnh gặp Cam và kết bạn. Nhà văn Nhất Huy thành lập Hội Trà. Cam và ḿnh gia nhập. Hội Trà gồm 7 hội viên đều học Văn khoa: Nhất Huy Nguyễn Văn Thanh, Huỳnh Đăng, Hồ Đăng Đức, Lê Bá Văn, Vơ Sĩ Quư, Nguyễn Văn Cam và Thân Trọng Tuấn. Anh Nhất Huy mở quán cà phê Doanh Doanh thành công phía trong cửa Đông Ba trên đường Nguyễn Biểu. Bạn bè ai cũng quư Cu Sum. Có lần Cam khoe rằng đă hănh diện v́ được Lê Qúy Đôn cho làm tiểu đồng để sai vặt! Tinh bạn của ḿnh càng ngày càng thắt chặc. Tinh nết hai người trái ngược hẳn nhau. Ḿnh nóng nảy, ồn ào khiến các bạn trong lớp không dám giao thiệp. Trong cô đơn tuyệt đối, Cam vẫn đến cư xá Sư Phạm chia cho ḿnh điếu thuốc Bastos Luke, cùng nhau đến bàn bi da trên đường Nguyễn thị Giang quậy vài cơ, lên vùng cùa Thiên Mụ ăn bánh bèo, đi du khảo với thầy Hồng Hoài Lê văn Hoàng, rất nhiều lần Cam đèo ḿnh ra thăm bến Vạn Xuân thơ mộng. Sau bốn năm đèn sách Cam lên Đà Lạt, ḿnh về Pleiku. Thế sự biến chuyển tan hàng bể dĩa. Cam ở lại. Ḿnh theo tàu di tản làm thân du tử bỏ phí cả cuộc đời. Cam tiếp tục làm văn hóa. Chuẩn bị cho Hội Khóa năm nay 2022 tại Đà Lạt, Cam sửa lại nhà để đón bạn tham dự, mua xe ô tô để chở các bạn đi thăm xứ hoa đào. Rất nhiều lần qua điện thư, điện thoại Cam rủ ḿnh về tham dự Hội Khóa Đà Lạt. V́ lư do sức khỏe, hàng ngày uống hai nạm thuốc, nên phải bấm bụng từ chối, sợ rằng khi tham dự Hội Khóa, ḿnh ngă quỵ th́ gây thêm tai họa cho Cam. Chỉ hứa sẽ viết bài “Hoàng Triều Cương Thổ” tham dự. Trong khoảng thời gian gần đây, v́ lư do sức khỏe, ḿnh nhập viện mấy lần, mỗi lần nằm viện cả tháng. Thể xác hư hao nhưng chất xám vẫn c̣n tốt. Hứa với Trần Dư Sinh sẽ xong bài “Mắm Ruốc Phường Đoài” trong ṿng hai buổi chiều, nhưng đến hôm nay, sau hơn sáu tháng, tức hơn nửa năm mới viết đến ngang đây. Chuyện “Hoàng Triều Cương Thổ” sẽ viết gọn lại cho kịp thời hạn.

 

Tuệ Tánh Nguyễn Văn Cam – (1951-2022)

Dự tính không như ư. Ngày 5 tháng 5, Cam bị đột quỵ khi lái xe. Ngày 8 tháng 5, Cam bỏ cuộc vui, thong dong dạo chơi miền không có. Nghe tin, ḿnh nằm dài. No ngang, bỏ ăn và uống thuốc. Trong khi thân xác Cam đi sâu vào ḷng đất, th́ h́nh ảnh Cu Sum ch́m sâu vào đáy hồn ḿnh. Một hôm, ḿnh có cảm giác chơi vơi. Rồi có người gọi tên. Mở mắt, thấy một nhóm người vây quanh, vui cười cho hay là ḿnh đang nằm trong bệnh viện University of California in city of Irvine (UCI). Khám nghiệm. Con mắt trái của ḿnh không “thấy đường”. Một người tự xưng là bác sĩ mắt, cho hay là con mắt trái của ḿnh bị nhiễm trùng, cần phải mổ để chữa trị. Minh đồng ư, run rẫy kư giấy chấp thuận. Trong khi giải phẫu, ḿnh nghe máy chạy như tiếng thái rau. Không đau đớn. Hôm sau, một nhóm người vào, nói là mắt trái của ḿnh bị vai rút, cần phải cắt bỏ trước khi vai rút vào xương sọ th́ hết cách chữa. Ḿnh kư giấy. Lần này bị đánh thuốc mê. Tỉnh lại, chẳng thấy ǵ khác lạ, nhưng khi đưa tay cầm IPhone th́ vói hoài vẫn không lấy được v́ khoảng cách theo mắt không đúng. Bác sĩ cho hay là sẽ gắn cho ḿnh con mắt giả. Minh từ chối. Xuất viện, nằm nghỉ vài ngày. Mở bàn phím, lôi đùm mắm ruốc ra quậy tiếp. 

Tàu Bảo Toàn ghé bến Quận. Ḿnh dắt xe lên bờ, đạp từ con đường Đội lên con đường Trưa. Hai chị Trưởng Hoa và Phú Phương chậm răi theo sau. Rẻ phải vào con đường Trưa, băng qua con đường Xóm Diêm nối liền Chợ Mới và Phường Đoài: Sân trường tiểu học Hương Điền vắng lặng. Mùa hè 1972, tôi có cơ hội mời bạn Hồ Ngọc Thỉ (SĐ – LVC) vào quán cà phê Chợ Mới. Ly cà phê ngon gần bằng ly cà phê Mụ Biên trong quân trường Đống Đa năm 1970 khi chúng tôi bị ép buộc phải theo học một tháng khóa huấn luyện quân sự học đường. Mệ ngoại đón chúng tôi với ánh mắt tươi vui và nụ cười hiền hậu. Bà có cái miệng móm thật dễ thương v́ răng đă rụng gần hết. Bà nhắn chị Thảo sang nấu cơm cho mấy đứa trong Huế về chơi. Bà ngoại giải thích cho ḿnh sự khác biệt giữa tiền và tệ. Tiền là giấy bạc dùng trả tiền đ̣ hay mua bán ngoài chợ. Tệ là những hiện vật như gạo, bó củi, thúng lá mồng năm, xâu thuốc lá, v.v. Mấy mụ bán cá đ̣i đổi cá lấy tệ như gạo, thuốc lá, v.v. Có mụ bán cá ở Phường Đoài, quen với mệ ngoại gọi là Mụ Bét v́ mụ bị toét mắt. Mụ Bét hiền lành và ưng nói chuyện. Mệ Ngoại bảo chúng tôi nếu muốn ăn cá hấp th́ ra nhà mụ Bét. Mụ dặn khoảng sau nửa buổi chiều hăy ra v́ lúc đó mụ mới hấp để bán ngày hôm sau. Chị Trưởng Hoa đ̣i mụ hấp vừa chín tới th́ dừng v́ sau khi mang cá về, chị cho hấp lại kỹ càng v́ sợ lây bệnh toét mắt. Mệ Ngoại dặn chị Thảo phải pha nước chấm cá hấp bằng nước mắm mành v́ chúng tôi không chịu nổi mùi nước mắm biển! Trong khi chờ lấy cá, mụ Bét cho biết ba ngày nữa mụ sẽ vào làng thuê trâu về “đạp mớ đuốc”. Lần khân hỏi tới, “đuốc” là con khuyết. “Khi trời thả sương mù th́ đuốc lên ăn sương”. “Mần răng mà biết khi mô trời thả sương mù?” “Th́ cứ bấm ngón tay, nh́n lên côi trời, ḍ theo luồng gió th́ biết!” Tin lời mụ Bét, một ḿnh đạp xe trong lớp sương mù vắng lặng. Ra tới Phường Đoài, thấy người chạy lên xuống rộn ràng. Từng gánh khuyết được gánh băng qua băi, đổ ập vào muống gỗ rộng lớn, có sẵn hai con trâu nối đuôi đi thong thả do một người cầm dây nài điều khiển, tay kia cầm cái trạc sẵn sàng khi trâu đứng lại vễnh đuôi. Trước mơm máng sẵn cái oi chứa rơm cho trâu ăn. Dưới bụng có treo cái ống pḥng khi trâu mọt chảy nước. Một người đứng bên mấy thúng “mói” tức muối biền nguyên hột, lo đổ một thúng muối khi 5 thúng khuyết đổ vô muống gỗ. Tấm gót rộng như chiếc chiếu trải dọc theo bờ biển, được đổ những thúng khuyết và san mỏng. Muối được rắc lên mặt để khử bớt nước của lớp khuyết. Đàn ruồi điểm những chấm đen lên màu hồng của khuyết. Phơi một nắng, mang vô Huế bán. Người mua về làm ruốc phải biết cách ủ để lên men và lớp trứng ruồi bị ung, nếu không khi đang giả, những con gịi nhỏ li ti ti ḅ khắp cối.

Phường Đoài phát triển mạnh, trở thành một thị trấn nhỏ. Món ruốc truyền thống không c̣n. Con đường đoanh Xóm Diêm cải tên thành Xóm Rậy. Sáu xóm đổi tên bằng số. Xă Hương Điền bị xóa tên. Làng và thôn Minh Hương dùng lẫn lộn.

 

Một chút tự t́nh

 

 

Cây nho sau vườn vẫn sây trái. Trời California vẫn tràn đầy nắng ấm. Biển vẫn xanh. Cuối chân trời hoàng hôn vẫn rực rỡ. Trên ghềnh đá vắng bàn tay vẫy. Với con mắt c̣n lại, đang mơ nh́n thấy một ánh sao hôm!

 

Thái Cát Thân Trọng Tuấn – (VH-LVC).

California ngày 24 tháng 6 năm 2022


____________

 

Ghi chú:

(1) Đầu làng Thế Chí Đông tính từ cửa Thuận An, sẽ gặp thôn Minh Hương. Ban đầu chữ "hương" dùng chữ 香 có nghĩa là "offspring"(香火), đến năm 1827 đổi sang chữ 鄉 nghĩa là "làng". Như vậy Minh Hương có thể hiểu là "làng của người Minh" và cũng có thể hiểu là "làng sáng sủa", sau được dùng để gọi cộng đồng người Hoa ở Việt Nam.

Lịch sử: Theo Đại Nam Nhất Thống Chí của Cao Xuân Dục phụng chỉ vua Thành Thái soạn: Làng Thế Chí Đông, thời nhà Hán (năm 605) thuộc quận Nhật nam. Thời nhà Đường (năm 756) thuộc Lư Châu. Thời nhà Trần (năm 1306) thuộc Hóa Châu, huyện Trà Kệ. Triều Lê Thái Tổ (Lê Lợi) cải thuộc huyện Đơn Điền, thuộc phủ Triệu Phong. Triều Gia long, thuộc huyện Quảng Điền. Năm Minh Mạng thứ ba cho thuộc phủ Thừa Thiên. Minh Mạng thứ 16, trả lại phụ thuộc huyện Quảng Điền. Thời đệ nhất Cộng Ḥa (năm 1954-1963), tổng thống Ngô Đ́nh Diệm cắt doi đất từ cửa biển Thuận An ra tới tỉnh Quảng Trị lập thành quận Hương Điền gồm bảy xă. Kể từ ranh giới tỉnh Quảng Trị đi vào của biển Thuận An gồm các xă theo thứ tự là Điền Hương, Điền Môn, Điền Lộc, Điền Ḥa, Điền Hải, Điền Thành và Điền Thái. Thời đệ nhị Cọng Ḥa (năm 1963-1975) thêm xă Hải Nhuận ven biển. Phường Đoài của làng Thế Chí Đông vốn thuộc xă Điền Hải, nay nhập vào xă Hải Nhuận. Sau năm 1975, xă Hải Nhuận cải thành xă Phong Hải. Con đường làm bằng những tấm đoanh xi măng đi từ con đường Trưa của xóm Diêm ra phường Đoài nay mang tên là đường Xóm Rậy. Ui chao! Cái tên nghe thiệt hay như tiếng của loài chim vạn niên kêu tuốt tận mô mô trên núi rừng Trường Sơn xa thẳm!

(2) Trần Tiễn Thành (chữ Hán:陳踐誠, 1813-1883), trước có tên là Trần Dưỡng Độn, sau kỵ quốc húy đổi là Trần Thời Mẫn, sau nữa được vua Tự Đức ban tên là Tiễn Thành, hiệu là Tốn Trai; là một đại thần triều Nguyễn. Năm 1861, chuyển ông Trần Tiễn Thành làm Thượng thư bộ Công, sung đốc pḥng cửa biển Thuận An tại Thừa Thiên. Đầu làng Thế Chí Đông có một số thuyền của người Minh và những thuyền đến từ tứ xứ lập thành xóm trái phép. Việc tŕnh lên quan đốc pḥng Trần Tiễn Thành. Sau khi duyệt xét, Trần Tiễn Thành dâng sớ xin lập xóm này thành thôn trực thuộc Minh Hương ở Bao Vinh. Vua Tự Đức chấp thuận.

 

 


 

art2all.net