|
MỆ, MỤ, và Ả
Sau khi người nam cùng với người nữ kết hợp sống chung với nhau, trong t́nh trạng b́nh thường sẽ có sự tăng trưởng số người trong gia đ́nh mới này. Người Nam sẽ là cha. Người Nữ sẽ là mẹ. Đứa nhỏ vừa tăng thêm nhân số là con. Con người là loại động vật siêu đẳng. Đời sống hàng ngày được phân chia rơ ràng: Từ chức vụ, quyền lợi, bổn phận, v.v. thể hiện qua ngôn ngữ. Từ thành phần nhỏ nhất trong xă hội tạm thu góp trong cái gọi là gia đ́nh khởi thủy gồm ba kẻ là Cha, Mẹ, và Con. Lấy tŕnh độ hiểu biết của một người Việt Nam có khả năng đọc thông, viết thạo, không theo một chủ thuyết nào cả, chỉ nghe theo sự suy nghĩ, cảm nhận theo sự cho là đúng của chính ḿnh, đối chiếu với kinh nghiệm của chính ḿnh, không v́ t́nh cảm, lợi ích, an ninh, cơ hội, mà thay đổi chủ quan. Ngắn gọn, theo sự thắp xếp Cha, Mẹ và Con trong một mái gia đ́nh căn bản, nhỏ bè, yếu ớt mong manh như cánh dành dành trôi trong ḍng sông lớn. Dành dành cha lớn nhất trong đám, nhưng chẳng làm nên tṛ trống ǵ. Dành dành mẹ nhu ḿ, nâng niu những dành dành con, chăm lo săn sóc!
Những tiếng đầu môi: Trong xă hội Việt Nam, sự tăng trưởng cơ thể của những trẻ sơ sinh đă có thể nhận xét theo kinh nghiệm theo tiến tŕnh “Ba tháng biết lảy (lật), bảy tháng biết ḅ, chín tháng ḷ ḍ đi theo”. Về tiếng nói, những âm đầu môi của em bé nghe được là “Ma … Ma… Ma”. Những âm đầu môi của các em bé phát hiện không cùng thời tuổi. Các em có đầu lưỡi “nhọn” thường biết nói sớm hơn những các em khác. Từ âm “Ma” chuyển tiếp theo dần lên âm “Má”, “Mạ”, “Mẹ”, Mệ”. Những âm thanh đơn lẻ này kết thành chuỗi như một ḍng sữa ngọt, tràn đầy sự sống, liên kết giữa mẹ và con. Trong t́nh trạng vô ư thức, không có sự lựa chọn, không suy nghĩ trong đầu óc trẻ thơ nhỏ dại, ngôn ngữ chỉ có một âm “Ma”, có thể đây là một dấu hiệu “Tôi Đây! Tôi đang ở Đây!”. Người có mang ḍng sữa, vẫn có tên gọi trong trường đời trước khi mang bầu sữa trước ngực. Em bé cựa quậy trước ngưỡng cửa cuộc đời, có thể v́ liên quan đến cuộc sống hàng ngày của dân tộc Việt Nam, được gọi với cái tên đơn giản như Tấm, Cám, Lúa, Ngô, Chó, Heo, Trâu, Ḅ, Cầy, Khuyển, Ngọc, Ngà, Châu, Báu, vân vân. để định danh sự phân biệt, lệ thuộc vào một cộng đồng khó chối căi, bắt đầu bởi hai người khác giống. Tất cả hầu hết gọi tiếng “Ma” để kêu gọi sự sống, sự b́nh an, sự che chở, sự thương yêu, ấm áp, êm đềm, tŕu mến. Dần tiến triển theo ngày tháng, âm “Ma” trở thành âm “Má”, “Mạ”, “Me”, “Mẹ”, “Mê”, “Mệ”, “Mự”, “Ba”, “Bầm”, “Bọ”, “Bố”, “Bu”, “Cha”, “Pá”, “Tía”, “U”, … Thái Cát tuy không biết về phương diện Ngôn Ngữ Học; nhưng cứ tŕnh bày những điều ḿnh biết, không chút ngại ngùng. Khi vỡ lẽ ra nếu thấy ḿnh sai trái, sẽ thực tâm sửa đổi. Đọc một số những bài viết về những âm đầu môi của các em bé, thấy sự trùng hợp khá nhiều một cách ngẫu nhiên, giữa những em sinh ra cách nhau hàng ngàn cây số, không liên quan vật chất, nhưng những âm đầu môi giống giống nhau, tuy không cùng ṇi giống, khác biệt ngôn ngữ. Xét về xă hội Việt Nam, tuy bị Tàu đô hộ cả ngàn năm, nhưng tiếng nói của dân tộc Việt vẫn c̣n. Các âm Má, Pá, Mẹ, Mệ, Bu, Bầm, Đẻ, U v.v. vẫn c̣n trong ngôn ngữ của dân tộc Việt. Người Tàu cai trị dân Việt cả ngàn năm, nhưng không thể bắt dân Việt gọi Mẹ bằng âm Mẫu hay âm Ma Ma, gọi cha là Phụ, gọi chị là Tỉ, gọi anh là Huynh, gọi em là Đệ, v.v. Sau khi nhà Minh của Trung quốc lưu vong, sang Việt Nam, được chúa Nguyễn dung nạp, cho lập các làng Minh Hương, tạo thành các nhóm Tàu lưu vong như nhóm người Tiều, gọi là Triều Châu, sống chung lộn với người An Nam, trao đổi ngôn ngữ, ḥa đồng các âm Chế, Tía. Chế là chị, là anh, là bậc trên. Tía là Cha, là bậc trưởng thượng. Ngôn ngữ này trở thành quốc tính, các tiếng “Tía, Má” quen thuộc từ khi người Triều Châu mang món Hủ Tiểu vào Nam Kỳ quây tụ trong làng Minh Hương. Giả thuyết hai tiếng “Cha, Mẹ” là lấy từ tiếng Quảng Đông của Trung Hoa không đứng vững. Mấy trăm quốc gia trên thế giới, vốn không liên hệ chủng tộc và ngôn ngữ, vẫn trùng hợp một cách ngẫu nhiên trong những tiếng gọi Papa, Mama tức Pa, Ma, Cha, Má, v.v. Trung Quốc gọi Papa, Má má, không liên quan ǵ với Pá, Má, Ba, Má, Bọ, Mạ, v.v. của dân tộc Việt. Tiếng Tía của dân Triều Châu giống như một thời trang mới cho dân Nam bộ, trong vùng mới khai hoang! Hai tiếng Ba, Me nghe được của quan lớn thông ngôn Thái Văn Toản triều Khải Định dịch từ Papa là Ba, Mère là Me của người Phú Lăng Sa văn minh hơn tiếng 爸爸 (Bàba - Cha), 媽媽(māmā – Mẹ) của người Trung Quốc, th́ cứ dùng tạm cho nó có vẻ sang cả đầy văn hóa. Vua Thành Thái hàng tháng c̣n phải đích thân sang Ṭa Khâm Sứ bên Hữu Ngạn Sông Hương tŕnh diện quan Khâm Sứ Pháp để kư tên vào sổ lương, lănh tiền hàng tháng như viên công chức Pháp, th́ hai tiếng Ba và Me của nước Đại Pháp sang trọng không thể tả. Xét lại, trước năm 1884, nghĩa là trước khi thực dân Pháp tṛng cái cùm nô lệ vào người dân An Nam, hai tiếng Papa đă được nghe lũ quỷ tóc vàng mắt xanh da trắng chuyên ăn thịt người và uống máu trong những buổi họp riêng của họ. Lại ngang nhiên chấp nhận rơ ràng trước khi bị chém đầu. Rơ ràng nhất là trong vùng Phan Lang, Phan Lư của dân tộc Chămp, lũ bạch quỷ ăn đá và uống máu diễn ra trước sự chứng kiến của những người dân Chăm tức là dân Chiêm Thành trong tinh thần giao kết. Thấy rơ ràng, không thể chối căi. Lũ quỷ da trắng mắt xanh nấu những viên đá trong nồi, xong vớt ra, cất vào một nơi cẩn thận, để rồi sẽ nấu tiếp, cho đến khi chúng quăng bỏ vào đống rác, khác với truyền thống của chúng là rải làm đường đi. Những người Chăm ṭ ṃ t́m nhặt lấy, kiểm nghiệm, nhận ra rằng đó là những viên đá rơ ràng, tuy màu sắc không giống nhứ bất kỳ loại đá nào t́m thấy của địa phương! Có kẻ lớn gan, thè lưỡi liếm thử, cảm thấy hơi mằn mặn. Thế là đúng rồi, đúng là xương người sau khi chúng ăn thịt như lời chúng thú nhận. Rơ ràng hơn nữa, khi nhóm họp, chúng rót máu ra chén, chia nhau uống! Không rơ chúng lấy máu từ đâu, nhưng v́ chúng là lũ quỷ da trắng mắt xanh, có nhiều tà phép, nên chuyện chúng lấy máu ở đâu để chung nhau uống không ai biết được. Xét sách từ nước Trung Hoa vĩ đại không thấy nói đến chuyện ăn đá uống máu của lũ bạch quỷ. Liên hệ sang nước anh em An Nam lại càng mờ mịt hồ đồ. Những tường tŕnh từ nước An Nam về việc “chặt đầu giết quỷ da trắng mắt xanh chuyên ăn đá uống máu người” đầy rẫy! Trong những lúc lén họp nhau, chúng mời nhau ăn bánh trường sinh làm bằng thịt ông Gia Du, ăn xong lại mời nhau uống chén cứu độ tức là máu ông Gia Du. Chúng lại điên rồ hẹn khuyên nhau lấy muối thừa đem đổ ra lót đường để đi cho tốt! Lũ quỷ này c̣n nguy hại hơn tà Phạm Nhan thời Trần Hưng Đạo. Tà Phạm Nhan chỉ là huyền thuyết, truyền lại mối dị đoan kỳ bí, đơn giản là áo quần phơi trong ngày, phải đem hết vào nhà trước khi mặt trời lặn, nếu không, tà Phạm Nhan sẽ núp vào quần áo, xong gây tai họa cho người mặc, phải nhờ thầy phù thủy cao tay ấn mới trừ khử được. Bà Ngoại của Thái Cát rất tin sợ tà Phạm Nhan, nhưng me của Thái Cát cực lực đả phá sự mê tín này. Thái Cát là nhân chứng của cuộc tranh luận giữa me và bà Ngoại, thời điểm là dưới thời đệ Nhất Cọng Ḥa Ngô Đ́nh Diệm, tại xóm Cày, làng Thế Chí Đông, xă Điền Hải sát Phá Tam Giang. Và cũng tại đây, những ai chịu phép rửa tội theo đạo Thiên Chúa sẽ được tặng một bao gạo tạ ba chỉ xanh nặng 100 kg. Sân nhà thờ Thiên Chúa Giáo duy nhất của làng Thế Chí Đông vắng hoe, gạo trong kho vẫn không suy giảm. Trong làng Thế Chí Đông thời khoảng Đệ Nhất Cộng Ḥa Ngô Đ́nh Diệm vào thập niên 1960, không hề có những thầy phù thủy chuyên trừ tà diệt quỷ, cũng không hề có thầy tu Đại Thừa, Tiểu Thừa, cũng không có ông cha Cố Đạo, tuy vẫn có ngôi nhà thờ Thiên Chúa tại Xóm Nẩy. Trong thời gian này, Thái Cát vẫn sống trong nhà Ông Bà Nội lại xóm Vạn Phước, làng Nguyệt Biều. Trong làng, tại xóm Trung, gần đ́nh làng Nguyệt Biều và cống Hồ Làng, có ông Thầy Phù Thủy, vẫn gọi là Thầy Phù, theo lời đồn, v́ có lần nhảy lên mái nhà, diệt quỷ, bị rơi xuốt đất, què chân, phải đi cà thọt. Biến cố Tết Mậu Thân, quân đoàn sư đoàn I lên giải tỏa Nguyệt Biều, tất cả trai tráng hiện có mặt trong làng bị lùa nhốt vào sở ḷ vôi Long Thọ. Thái Cát cũng bị tạm giam chờ thanh lọc. Tại đây, Thái Cát gặp nhiều người, trong đó có Thầy Phù. Khoảng giữa năm 1968, băi đậu của những xe đưa khách mang số 7, chạy từ chợ Đông Ba lên ḷ vôi Long Thọ và ngược lại, có lần kê bày 17 cái xác bị chôn sống trong dịp Tết Mậu Thân. Một trong 17 cái xác đó là của bác Thân Trọng Liễn, bà con của Thái Cát. Thầy Phù lại có việc làm khẩn cấp, bắt quỷ trừ tà, không cho đưa xác vào nhà v́ sợ vương phải quỷ dữ, cho nhập quan trên đường trước cổng vào nhà, chôn cất vội vàng theo giờ quy định chiếu theo sách Thọ Mai Gia Lễ mà Thầy Phù ấn định. Mấy anh tân học bàn với nhau là ông Thầy Phù làng Nguyệt Biều hô hoán dựa theo cuốn Thọ Mai Gia Lễ để bắt tang gia thi hành theo thủ tục, nhưng chắc ǵ ông Thầy Phù đă có trong tay cuốn sách Thọ Mai Gia Lễ này, và nếu thực sự là có trong tay, liệu ông Thầy Phù này có đọc được hay không? Tuy hỏi thế, vẫn không có câu trả lời. Hai đồng tiền cổ vẫn được tiếp tục gieo xuống dĩa, gieo hoài cho đến khi thấy bày ra một đồng sấp, một đồng ngữa, tức là Âm Dương thuận hợp, Tiên Thánh đồng t́nh bảo ḥa chấp chưởng thuận ư ban cho! Khổ chủ lập tức cho hạ quan động thổ, vội vàng cho kịp giờ tốt. Lễ tạ công Thầy trong t́nh trạng xất bất xang bang khóc ra máu mắt, uất hận ngút ngàn, xác thân rữa nát! Sự mê tín này âm thầm tràn ngập trong tâm hồn một số những bà mẹ của làng Nguyệt Biều. Thử kể vài bà mẹ ngụ cư trên xóm Thượng. Từ chuyện bày cảnh trồng hoa huệ bán trong chợ cung phụng bảo vệ Phật Pháp vào những năm 1960’s đến chuyện ban đêm ra đồng soi cá kiếm thêm chút tiền. Đèn khí đá các bua x́ x́ hôi hám. Những con cá nằm sát bờ ruộng khờ khạo khi ánh đèn soi bị bắt bỏ vào oi! Thỉnh thoảng có một người soi cá gặp vận may. Bắt cà dễ dàng, toàn những con mập ú. Oi cá nặng oằn lưng khi cây đèn các buya vẫn c̣n x́ sáng rạng. Hớn hở những bước trở về nhà, ra ảng nước, đổ cá trong oi ra xem. Những tiếng lạo xạo nghe rất lạ. Thiệt là lạ chưa tề! Chẳng hề nh́n thấy lấy một con cá, mà chỉ thấy toàn những ḥn đá sạn cai du! Chuyện soi bắt cá chỉ được toàn sạn đá, Thái Cát chỉ nghe lời kể lại, chứ chưa có dịp nh́n thấy. Lại vẫn nghe, rể của quan tri phủ Thân Trọng Cảnh là Tôn Thất Triêm, một hôm có dịp họp đánh tài bàn tại nhà ông anh vợ là Tri Phủ Thân Trọng Dược ở xóm Vạn Phước, làng Nguyệt Biều. Tri Phủ Thân Trọng Dược là thân sinh của Thân Trọng Phước, chủ nhà hộ sinh ở ngoài cửa Đông Ba trên đường Gia Long, Huế. Sau nửa đêm, tan ṣng tài bàn, ông Tôn Thất Triêm từ chối việc gia nhân của ông Dược cầm đèn đưa về. Nhà của ông Triêm cách nhà ông Dược chỉ một đoạn ngắn, cần chi bày đặt việc đưa về nhà. Khi gia đ́nh ông Dược sắp sửa tắt đèn đi ngủ, th́ người nhà của ông Triêm gơ cửa xin rước ông Triêm về. Ai nấy đều ngạc nhiên, đổ xô đi t́m. Tới ngả ba đường cách nhà ông Dược một quăng ngắn, thấy trong bụi tre có cái ǵ động đậy. Soi đèn vào, thấy thấp thoáng bóng người. Lên tiếng kêu gọi vẫn không nghe tiếng đáp lại. Mấy người đi t́m bèn dùng những cây rựa cán ngắn, rựa cán dài, cùng nhau chặt các cành gai tre dày đặc một cách khó khăn, hồi lâu mới lôi được người ấy ra. Đúng là ông Tôn Thất Triêm, không biết cách nào mà ông chui tọt vô giữa bụi tre như vậy. Cật vấn măi, ông Triêm nói rằng, trên đường về, vừa ra khỏi cổng nhà ông Dược, ông gặp mấy người không quen nhưng rất sang trọng mời vào một phủ đường ăn tiệc. Ông Tôn Thất Triêm đậu bằng Tiểu Học (Primère), làm thư kư ṭa Khâm Sứ Trung kỳ, gần cầu Trường Tiền. Ông có hai người con rể là tướng Lữ Lan và tướng Tôn Thất Đính. Chuyện ông Tôn Thất Triêm bị “ma thu” được Thái Cát kể cho anh Nguyễn Cúc là người chủ trương đặc san Tiếng Sông Hương ở Dalas, Texax. Lại mấy tiếng Thiên Mụ trong nhóm chữ Thiên Mụ Tự. Không ai nói ‘Thiên Mệ!” Có chăng lả mất trí! Mụ là tiếng trỏ người đàn bà khá lớn tuổi. Mụ trỏ người em dâu. Mụ trỏ người hầu của cha già có của. Mụ trỏ người đàn bà bán nước chè góc phố. Mụ trỏ người đàn bà buôn thúng bán bưng. Mụ trỏ người đàn bà ăn mày xó chợ. Mụ là tiếng của người chồng gọi người vợ yêu thương! Tiếng Huế của Thái Cát tui như rứa đó! Không sách vở nào nói ra cho ngạ!
Âm Thanh Dân Tộc: Theo Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược, suốt 1050 năm Bắc thuộc, An Nam bị ảnh hưởng rất nhiều về văn hóa Trung Hoa. Địa thế nước nhà bị hạn chế không thể thu nhập các nền văn minh khác biệt. Xét trong vấn đề ngôn từ, thấy có khá nhiều tiếng mang âm hưởng Hán-Việt. Tuy nhiên, những ăm đầu môi của dân tộc Việt không phải bắt chước của người Tàu. Các âm đầu môi này có thể là âm “Ma” trở thành âm “Má”, “Mạ”, “Me”, “Mẹ”, “Mê”, “Mệ”, “Mự”, “Ba”, “Bầm”, “Bọ”, “Bố”, “Bu”, “Cha”, “Pá”, “Tía”, “U”, … Theo sự suy xét nông cạn của Thái Cát, đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Con người là một động vật tuyệt vời về tư tưởng và ngôn ngữ. Lấy h́nh ảnh một con vật thân quen là con mèo vẫn được nuôi trong nhà. Khi mèo con chào đời, có những âm thanh nhỏ nhẹ đ̣i sữa hay ấp ủ. Mèo con ở Nguyệt Biều nghe tiếng kêu cũng giống như mèo con ở xóm Bóng, Nha Trang. Mèo con ở Xóm Bóng Nha Trang nghe kêu cũng giống như tiếng kêu của mèo con vùng cà phê Phú Thọ, xứ đuôi trâu thuộc cao nguyên Gia Lai. Mèo con xứ Huế tiếng kêu cũng giống như tiếng mèo con Sài G̣n. Mèo con Sài G̣n có tiếng kêu như tiếng mèo con ở Băng Cốc, Thái Lan. Mèo con ở Thái Lan nghe kêu cũng giống như tiếng kêu của mèo con ở vịnh Subic Bay của Philipine, Mèo con ở vịnh Subic Bay của Philipine nghe kêu cũng giống như tiếng kêu của mèo con ở Aurote Point của đảo Guam. Tiếng kêu của mèo con ở Aurote Point của đảo Guam cũng giống như tiếng kêu của mèo con ở Orange County, bang California. Thái Cát đoan chắc rằng, những năm một ngàn chín trăm hồi đó, con mèo tam thể của Thái Cát ở Bến Ngự sinh con, tiếng kêu của lũ mèo con chưa mở mắt nghe giống hệt như lũ mèo con của người đàn bà hàng xóm người Mễ ph́ nhiêu tươi tốt phải rất khó khăn mới chui vào ngồi được trong chiếc xe Takoma nhỏ tí, chan ḥa nắng ấm California. Từ nơi được cho là xứ sữa và mật ong, Thái Cát b́nh an nhớ về một nơi vàng son xa xưa khi vừa mở mắt chào đời, trước khi loại lúa Chậu chín vàng, trong một xứ có cái làng tên Gia Miêu, Ngoại Trang các thứ. Thái Cát tốt nghiệp ngành sư phạm ban Việt Hán, lên Pleiku, dạy trường Nữ Trung Học Pleime môn Quốc Văn. Hai năm sau thời cuộc loạn lạc, rơi mất chữ Quốc, cho nên bây giờ nước nhà chỉ c̣n có Môn Văn. Tên Gia Miêu vẫn c̣n. Gia là Nhà. Miêu là Mèo. Trong Thiên Tự Kinh ghi rơ như thế, nhưng không ghi Long là Rồng. Gia Miêu sinh Gia Long kể cũng lạ. Thái Cát chưa được nghe tiếng Rồng ngâm, nhưng nghe tiếng mèo kêu th́ nhiều. Nhắc lại: Tiếng mèo con Nguyệt Biều nghe chẳng khác ǵ tiếng mèo con của Orange County của bang California nơi Thái Cát đang ăn nhờ ở đậu. Nửa thế kỷ trước, Thái Cát có nuôi một chú mèo con Nguyệt Biều. Chạy loạn, vượt biển cả Thái B́nh Đương, trèo đồi núi của đảo Guam dốc thẳm, lủi vườn Cam xứ Cali rậm rạp không bóng mặt trời, không mang theo mèo con, do đó, Thái Cát không có mèo Nguyệt Biều dạy cho mèo con của Orange County kêu “meo meo”, nhưng mà lạ chưa tề! Tiếng mèo Việt và tiếng mèo Mỹ tuy xa cách nhau cả nửa ṿng trái đất cả mấy chục ngàn cây số, lại nghe răng mà giống đúc nhau như thế! Làng Gia Miêu. Triều Gia Long. Tết Giáp Th́n. Hồi khuya 10/02/2024 có nghe pháo Giao Thừa rộn ră ở công viên Một Dặm Vuông. Bây chừ đang ngẫm nghĩ để viết tiếp bài “Mệ, Mụ và Ả” th́ đồng môn Nguyễn Quốc Thắng ban Pháp Văn điện thoại chúc Tết Giáp Th́n. Sau những tràng cười rộn ră, những lời chúc quen thuộc, Thái Cát hỏi Nguyễn Quốc Thắng có bao giờ nuôi mèo không? Nguyễn Quốc Thắng trả lời là không, chỉ có nuôi một con chó. Thái Cát hỏi Quốc Thắng có c̣n nhớ tiếng sủa của nó không? Thắng cười, chấp nhận là c̣n nhớ. Thái Cát hỏi là Thắng có thấy sự khác biệt giữa hai con chó, một con là ở Đà Lạt hơn nửa thế kỷ qua, một là con chó hiện có trong nhà của Thắng tại thành phố Anaheim, nơi có Disney Land’s lừng danh? Thắng cười: “Th́ dĩ nhiên là nghe cũng giống như nhau, v́ chúng đều là chó”. Thái Cát nói: “Hay lắm! Hai con chó không hề quen biết nhau! Sống cách xa nhau hàng chục ngàn cây số nhưng tiếng sủa nghe ra cũng giống nhau! Không phân biệt sủa giọng Việt hay sủa giọng Mỹ”. Trong khi người Việt Nam và người Tàu tuy nh́n từ một chữ Hán nhưng phát âm khác nhau th́ khó có thể đồng ư rằng tiếng Tàu sinh ra tiếng Việt! Sự trùng hợp ngẫu nhiên về một số tiếng của các quốc gia không thể quyết đoán một cách vội vàng. Chẳng hạn, nữ thủ tướng lừng danh của Ấn Độ là bà Indira Feroze Gandhi (माँ ɡɑːndʱi), đọc là maan ɡɑːndʱi, nghe như Má ha.i viết theo âm tiếng Việt Nam (dịch từ Mệ Gandhi). Các từ nghe ra là Mệ, Mụ, Má của Ấn Độ gọi tôn kính bà Thủ Tướng lừng danh ba kỳ đắc cử, chẳng hề liên quan ǵ với mấy tiếng Mệ, Mụ và Má trong tiếng Việt Nam. Lại nhắc đến Ông U Thant người Miến Điện (Myanmar/Burmese), được người dân Miến quư mến gọi là Ông Thant, nghe ra như maw paann nwm naal hkyinn (âm Việt nghe như Mau Than Yan Dụ kị). Trong tiếng Miến Điện, với lỗ tai của Thái Cát sau khi lắng nghe rất nhiều lần, hai âm Ông và Mệ đều nghe như nhau là âm Mau. Tạm cho rằng âm Ông và âm Mệ của người Miến Điện gọi Ông (Mệ) U Thant chẳng liên quan ǵ với Ôn hay Mụ U Thant khi người Việt nhắc đến vị tổng thư Kư Liên Hiệp Quốc này. Trụt thêm tí nữa, ghé xứ Mă lai, nghe kêu Ibu là mệ. là bà, là Mẹ lớn, Mẹ Cả th́ phải đoan chắc rằng âm Ibu chẳng liên quan ǵ với tiếng U, bơ, bầm của người miền Bắc nước Việt Nam.
Rừng Rú Về Nguồn: Lợi dụng Utube, kẻ có chút chữ mà không hiểu nghĩa bày tṛ viết văng vít. Từ chỗ nghe Gia Miêu, đẻ ra Gia Long, bèn nghiễn thêm hai tiếng Gia Lâm mới thiệt ḷi đuôi văn hóa rừng rú. Thuần thành từ nền văn hóa lốp xe, bắt sinh viên sư phạm phái nữ phải mang guốc, nam đi giày như tấm ảnh tào lao quấy quá dưới đây.
Kẻ đưa ảnh này lên mạng để Thái Cát thâu được, nếu kẻ đó có cơ hội gặp được, sẽ dạy bảy (7) sinh viên Sư Phạm trên đường sang du học Pháp trong thời gian một năm, phải cẩn thận không được mở cánh cửa máy bay để tránh bị cảm lạnh! Quan Thông Ngôn Thái Văn Toản theo phục dịch Bửu Đảo cùng Thái Tử Vĩnh Thụy cùng Ông Hoàng Tùng Đệ năm 1922 sang xả xui bên thủ đô nước Đại Pháp, lừng danh đến độ nhà báo Nguyễn Vỹ vội sửa tên thằng Chuột thành tên Anh Tuấn, để đi học theo lệnh quan nước Đại Pháp, ba năm sau về làng, nói tiếng Tây giỏi hơn các đại quan trong Hàn Lâm Viện Pháp Quốc thật chuẩn đúng chắc thẳng bon như đường dây thép “Lắc Léo Mè Ḍng Lô!”. Ơi đồng môn Sư Phạm Văn Đức Triệu! Anh nghĩ mần răng? Pháp thua trận Điên Biên Phủ năm 1954, rút về Tây. Năm 1962, tướng nhảy dù Nguyễn Chánh Thi, người làng Tiên Nổ, cùng một chỗ với mụ ăn mày chợ Đông Ba, ban ngày rền rĩ bài ca “Liên Hoa Lạc” của bang Khất Cái, tối về Tiên Nổ thoải mái sống trong căn nhà lầu hai tầng có người hầu kẻ hạ rất đầy đủ. Ông tướng nhảy dù Nguyễn Chánh Thi nói Tiếng Mỹ rất giỏi, dạy cho dân đá cá lăn dưa ở chợ Đông Ba câu tiếng Mỹ tuyệt vời “No Star Where”! Khi ông c̣n là Tư Lệnh Vùng Một Chiến Thuật, vẫn thường lên đài Phát Thanh Huế dưới chân cầu Trường Tiền, oai hùng tuyên bố rằng :”Đồng bào trong khu tôi, phải lo bảo vệ, ǵn giữ cho khu của ḿnh!”. Dân Huế, nói tiếng Huế. Ui chao! Cái Khu! Cái lổ khu! Văn hoa như lời Nguyễn Vỹ là “Anh Tuấn” nhưng không diễn tả hết được. Ngậm ngùi! Thiệt rất chi là buồn cho cái cảnh khu trít! Ông Tướng với những lời thật thà của dân làng Tiên Nổ! Con sông Hữu Hộ Thành! Con sông có con đ̣ Kẻ Vạn! Con đ̣ do Mụ Nay chống sào hàng ngày đưa khách sang sông. Con đ̣ thường có thằng Hè và con Vẹt con của mụ ngồi theo, lâu lâu có O Dê đi kèm phụ lái. Đ̣ đưa qua bến Van Xuân. Có Thầy cô Ḥa Huy Khoái Châm Yến! Ơi đồng song Lê Quang Thông! Liệu có c̣n nhớ ǵ không? Chiếc sào tre của mụ Nay năm cũ? Liệu những công thức Toán tuyệt vời có cách nào làm cho cây cầu qua sông Kẻ Vạn thẳng qua trường tiểu học Vạn Xuân bớt lung lay?
Cầu Vạn Xuân tức cầu Kẻ Vạn (Photo Trần Hữu Sơn Tùng) Tết Mậu Thân! Vô Đại Nội thấy ba mươi sáu thứ! Thứ chi? Thứ Ma! Thứ Ma là ma chết đứng! Thứ Ma là ma chết Ngồi! Á khoan ḥ rằng! Nghe tui kể chuyện đi Chơi! Làng Nguyệt Biều ít khói lửa trong biến cố Tết Mậu Thân! Một đêm tối trời, có chiếc trực thăng đáp xuống băi cát làng Lương Quán, thả hai biệt kích. Sau nửa khuya, cà nông chơm rót vào chuồng trâu của một nhà gần nhà thờ họ Hồ nằm trên con đường Lấm. Trâu chết. Người không ai bị thương. Người dân kéo đến chia những miếng thịt trâu có những mảnh đạn ca nông chơm. Sư đoàn Một lên giải tỏa. Trên lầu của sở ḷ vôi Long Thọ, nh́n toán quân của Sư Đoàn Một tiến vào làng. Sáng tiến quân vào. Chiều kéo quân ra với những thương binh. Cả tuần lễ mới yên. Làng Nguyệt Biều được giải tỏa. Thái Cát được giấy phép về lại Bến Ngự. Cả nhà Bác Cả ra tị nạn tại trường Quốc Học. Thái Cát t́nh nguyện về nhà ở Bến Ngự giữ nhà, viết tấm bảng “Nhà đă có chủ” dán trước cửa. Vui vẻ chung với các anh trong tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân vùng đóng chung trong nhà. Đài phát thanh thành phố Huế bắt đầu hoạt động. Tin tức chiến sự theo dơi hàng ngày. Tiểu đoàn 22 Biệt Động Quân kiểm soát Kim Long! Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Vơ Vàng! Tên Vơ Vàng nghe rất quen. Chú Hồ Thăng vẵn thường cười người học tṛ “Vọ Vàng”, bạn người em út của Chú Thăng là Hồ Dơng! Hồ Dơng vẫn thường nằm múa vơ trên giường. Vơ Vàng một thời oanh liệt, bỏ ḿnh trong trại cải tạo. Nửa thế kỷ trôi qua, đất nước Việt Nam vẫn một giải sương mù che khuất. Dân tộc Chăm, ảnh hưởng văn minh Ấn Độ. Dân tộc Khmer cũng vậy, thể hiện qua công tŕnh kiến trúc Đế Thiên Đế Thích. Sự trùng hợp một số tiếng giữa người An Nam và Khmer không có nghĩa là người Việt mượn tiếng của người Khmer hay ngược lại. Thời Thái Cát c̣n thanh xuân, ca sĩ Thanh Lan của miền Nam Cọng Ḥa, hát bài ”Gọi Người Yêu Dấu”. Nghe th́ cảm xúc, th́ thích mê tơi. Tŕnh độ cảm xúc tùy người. Em mang bệnh cô Út An Cựu bán cháo gà nên phải trốn lên Đà Lạt. Sương chiều lạnh buốn tênh, em lênh đênh nương theo đám mây trôi dập d́nh qua tận cánh đồng Chum của anh chàng Mai Liên Khoong Lee hoang vắng. Gọi Người Yêu Dấu! Yêu cũng có nghĩa là Dấu. Dấu cũng có nghĩa là Yêu. Lên Đà Lạt một chiều, vô xưởng đẻ v́ vừa được Yêu và cần phải Dấu! Nói dài rồi, thôi tóm tắt như ri: Khi Mỹ thả hai trái bom nguyên tử lên Quang đảo và Trường Kỳ tức Hiroshima và Nagasaki, sự mê tín của người dân xứ Huế vẫn c̣n mê muội. Làng Nguyệt Biều có anh Hoàng Trọng Dĩnh học trường Quốc Học, bị chứng đau ruột thừa quay quắt nhưng gia đ́nnh vẫn bày bàn cúng vái xin xăm. Mấy người bạn đến thăm, hè nhau chở anh Dĩnh vào nhà Thương Lớn, mổ kịp thời cứu thoát, ấy vậy mà cả nhà anh Dĩnh sau đó tốn rất nhiều tiền sắm lễ vật tạ ơn Cô Chín Thượng Ngàn ở trên điện Ḥn Chén thuộc núi Hương Uyển bên bờ sông Hương!
Có những chuyện trong cung cấm không tiết lộ ra ngoài. Chẳng hạn như
người sinh ra Vĩnh Thụy là Thị Út, con của Huỳnh Văn Tích. Vĩnh Thụy,
tức Mệ Vững gọi Thị Út bằng ǵ? Gọi là Mạ theo tiếng Huế chăng? Không
đúng! Gọi là D́ chăng? Trật luôn! Gọi là U, là Đẻ, là Bầm, là Mẫu Hậu
chăng? Trật tuốt! Nghe rơ đây ń: Mệ Vững gọi Thị Út là Ả! Rơ chưa? Goại
là Ả! Và gọi Ân Phi Hồ Thị Chi là Mẫu Hậu! Có chi mà ngạc nhiên! Thủng
thẳng theo đọc “Mệ Vững Phá Nhà” sẽ rơ! Ngôn Từ Đương Đại: Ơi mấy Thầy Cô dạy Văn! V́ cớ chi mà lũ học tṛ càng ngày càng dốt? Bọn Tàu phù của triều Minh, không hàng phục triều Thanh, bỏ nước ra đi, được Chúa Nguyễn của An Nam dung dưỡng, cho lập làng Minh Hương vui sống. Xứ Bao Vinh, phía Bắc đồn Mang Cá, có danh nhân người Minh Hương được vua Minh Mạng cho cải tên là Trần Tiễn Thành, cất nhắc lên làm quan lớn. Thời Nguyễn Văn Thiệu, có anh chàng người Minh Hương, cũng ở Bao Vinh, cùng chỗ với Trần Tiễn Thành, rền rĩ âm hưởng “Giang Nam Thập Nhật” của Tàu bị người Thanh tàn sát, đặt những bài ca chán chường phản chiến. Tên của hắn là Trịnh Công Sơn. Ń mấy người dạy văn, răng không chỉnh sửa lũ học tṛ cách đánh vần chữ Trịnh rứa hè? Thời Trịnh Nguyễn phân tranh? Thời vua Lê Chúa Trịnh? Chữ Trịnh rơ ràng như vậy sao đánh vần thành âm “CHỊNH” ngược ngang? Trịnh đổi thành Chịnh rơ ràng! Sau 1975, có phong trào “Nghe Nhạc CHỊNH”! Làng Gia Miêu c̣n đó. Huyện Nông Cống c̣n đây! Làng Đông Ninh nghèo đói vơi đầy. Ngày lặng lẽ vẫn thường hay “Đánh Chịnh”. Thái Cát đă trải qua tṛ quái quỷ này nhưng tuyệt nhiên không thích. Ń Huyền Tôn Nữ Huệ Tâm, Nguyễn Khoa Diệu Huyền, Vơ Sĩ Quí liệu có biết “Đánh Chịnh” là cái chi không rứa h́? Các người là nhà giáo, ngôn xưng trí thức hơn người. Hỏi chút chơi tạm gọi làm vui. Từ sở thú Tĩnh Tâm, ra bờ đê Kim Oanh, cầu Hồng Cừ có đó, c̣n qua mấy tấm mành của cái miễu có tên chi? Bảy tám năm đi qua đi lại ṃn gót chân mà vẫn không biết tên, thiệt là vô t́nh quá đáng! Trong Thái Miếu không bao giờ được phép dựng ảnh thờ, thế mà dựng chứng bày khung tượng và khăn vuông này nọ. Vua Đồng Khánh tuy đă gọi bà chúa Trầm Hương Chiêm Thành Thiên Y A Na là chị, nhưng không tin chụp ảnh là bị thu hồn đưa về cơi âm ty. Vua Đồng Khánh là người chính thức cho chụp h́nh đầu tiên của chế độ vuơng quyền triều Nguyễn Gia Miêu, trong khi những hủ tục mê tín dị đoan vẫn đang c̣n tràn đầy trong ḷng dân tộc. Lệ xem giờ, coi ngày tốt xấu. Lệ coi tuổi, phong thủy mơ hồ. Ngay cả vua cũng sai quan làm lễ tế cầu mưa trừ hạn. Tiếng sấm nổ bất thường cho là trời quở. Loài châu chấu hại lúa cho là Thiên Tử phạm lỗi an dân. Giông băo dầm dề cứ cho là ông lụy bà lụy nọ kia nên bày đàn cầu đảo. Lũ quan lại a dùa bày tṛ nọ điều kia cho vừa ḷng người chủ nước. Lại nhất quyết nghe tin theo lời Khổng Tử của Tàu. Ai là ông vua của Tàu để Khổng Khâu tôn thờ theo đạo Trung Quân? Có con trai mà không biết, đến khi con gần trưởng thành trông thấy, mới hỏi “Mầy con ai?” ghi rơ trong sách Luận Ngữ, được bầy tôi chống chế nọ kia. Nghiện rượu tít mù, lại đổ rượu xuống đất những khi tế lễ, lại bảo rằng lệ tế phải theo. Một ngàn năm bắc thuộc, luật nhà Đường khắc bạc, những văn thư bắt buộc phải theo, nhưng ngôn ngữ vẫn giữ theo phép cũ. Phật giáo từ Ấn Độ, Tàu du nhập vào nước, dịch kinh văn, theo thể chế người nước Tạng, bày cúng tế, thắp nhang thơm, ăn chay, giữ giới. Truyền sang An Nam không hiểu mô tê. Một chút mù mờ đều bảo rằng ấy là lời Phật dạy. Từ đó các lời trong kinh viết bằng chữ Hán đều được kính thờ. Đường tăng Thích Đại Sán viết cuốn Hải Ngoại Kư Sự, kể những điều không tưởng mà chúa Nguyễn răm rắp nghe theo. Dẫn chứng, khi thuyền của Đại Sán gặp băi đá cạn, Đại Sán cắm mấy lá cờ là thoát khỏi tai ương. Biển động sắp ch́m thuyền, Đại Sán cắm lá cờ là biển yên sóng lặng. Tất cả những chuyện quái dị xảy ra trong chuyến hải tŕnh, Thích Đại Sán dùng phép trấn yên tất cả. Khi vào Kinh Đô Thuận Hóa, dân An Nam đón chào mặc những áo quần màu hồng, màu xanh là màu của người Chiêm. Mê tín, dị đoan cho vấn đề bị bệnh tất là do Thần Linh định đoạt. Những khi bị bệnh, cứ ra cúng Thấn Cây Đa, Thần ngả ba đường, thần sông, Thấn ao, thần hói, thần núi, Thần đồi, sẽ khỏi. Trẻ con thiếu vệ sinh, chết non, cho là bị bà Mụ bắt, nên dùng những tên thật xấu mà đặt để bà Mụ chê mà không thèm bắt. Lại nữa, cho rằng bà Mụ chỉ bắt con trai, nên dùng các tên của con gái mà đặt. Đơn giản nhất rơ ràng là cái thằng mà có tên là “Gái”. Vấn đề có sinh mà không nuôi được rất nhiều trong thời Chúa Nguyễn Vơ Vương, ngay trong dinh thự của chúa. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát là con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Chú (Trú) và bà Thục Phi Trương Thị Thư, sinh năm 1714, mất năm 1765, hưởng dương 51 tuổi. Con trai thứ 9 là Nguyễn Phúc Hạo, mẹ là Cung Tần Trương Thị Hoàng, Hạo sinh năm 1739, được chọn làm Thái Tử, tước Hiếu Tuyên Vương, có tên hèm là “Đức Mệ”. Mất năm 1760, hưởng dương 29 tuổi, Chúa Nguyễn Phúc Khoát cải tên Phúc Hạo thành Phúc Quế. Con Trai của Phúc Quế là Nguyễn Phúc Dương, tên hèm là “Chị Dương”, tức là Tân Chính Vương, bị Nguyễn Nhạc giết ở Gia Định năm 1777. Như vậy, con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Khoát gọi là Đức Mệ, Con trai trưởng của Mệ gọi là Chị. Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát lúc đang trị v́ đă quy định như vậy. Về sau, không rơ v́ sao mà bất kỳ con trai của ḍng vua Minh Mạng đều gọi là Mệ. Theo Tự điển Triều Nguyễn của Vơ Hương An :”Vua Kiến Phước là “Mệ Mến”, Đồng Khánh là “Mệ Tríu”, Bảo Đại là “Mệ Vững” Hết trích. Trong khi ḍng Hoàng Tử Cảnh (Liên Thành) cùng ḍng Tôn Thất không được gọi Mệ. Trước 1975, Thái Cát học vơ với vơ sư Hồ Thăng trong vùng lăng Vạn Vạn xứ An Cựu. Tất cả vơ sinh đều gọi nhau bằng Mệ. Có người không rơ, cứ tưởng Mệ là đàn bà như khi nhắc tên “Mệ Sen” là ông thầy hoàng phái chuyên môn viết sớ cúng tế cư ngụ trong xóm Cầu Đất gần cửa Nhà Đồ. Một Mụ Mạ ở Huế th́ chừng bao nhiêu tuổi mới được kêu là Mệ? Nhớ lại câu ca dao: “Lấy chồng từ thuở mười ba. Đến năm mười tám thiếp đà năm con”. Nếu đứa con đầu ḷng là gái, lên mười ba tuổi lấy chồng, cuối năm sinh con, th́ Bà Ngoại mới tṛn hai mươi lăm tuổi, thong dong lên chức Mệ cái rột! Tiểu Thơ Phạm Thị Hằng con của quan Đại Thần Phạm Đăng Hưng lấy chồng lúc mười ba tuổi. Năm 15 tuổi, sinh con gái đầu ḷng là Diên Phúc Công chúa Nguyễn Phúc Tĩnh Hảo. Năm sau, lại sinh Hoàng nữ thứ hai là Nguyễn Phúc Uyên Ư. Công chúa Uyên Ư chỉ sống được 3 tuổi. Năm 18 tuổi, Phạm Thị Hằng sinh con trai tên Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, tức là vua Tự Đức. Tiểu thơ Trần Thị Đang sinh năm 1769 tại làng Văn Xá, huyện Hương Trà, Châu Thuận Hóa. Cha là ông Hàn Lâm Trần Hưng Đạt và bà Lê Thi Cầm. Năm 1774, vừa tṛn 5 tuổi, được chọn vào hầu mẹ của Nguyễn Ánh là Ư Tĩnh. Năm 1779, vào Gia Định, được phong Tả Phi hầu Nguyễn Ánh. Hai năm sau, được phong Nhị Phi. Cuối cùng được vua Minh Mạng phong là Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu. Như vậy, có thể kể Tiểu Thư Trần Thị Đang xuất giá quá sớm! Sinh được ba con trai. Thái tử thứ tư là Đảm lên ngôi, tức là vua Minh Mạng. Ui chao ơi! Mời mười tuổi việc kinh kỳ hàng tháng của nữ nhi sao quá vội? Hàng năm Minh Mạng vẫn cầu mưa, giải hạn. Vẫn lên án chị dâu phạm tội loạn luân. Kết án Lê Văn Duyệt, Lê Chất là hai kẻ phản thần. Mệ Đởm (Minh Mạng) nói giọng làng Văn Xá xứ Thuận Hóa hay là giọng Quảng Ngăi véo von rứa h́?
Thái Cát Thân Trọng Tuấn (VH-LVC)
chuyển từ California ngày 12 tháng 2 năm 2024 – Tùy nghi sử dụng.
|