|
Đời người, ai cũng có những kỷ niệm, đau
thương hay hạnh phúc. Kỷ niệm đôi khi chỉ thoáng qua, mờ nhạt như áng mây
bay ngang bầu trời, để lại chút h́nh ảnh bâng khuâng. Nhưng cũng có khi
hết sức sâu đậm, đến nỗi có thể coi là một biến cố, khả dĩ tạo thành khúc
rẽ quan trọng cho cuộc đời.
Đó là trường hợp của tôi với câu chuyện xảy
ra hơn 20 năm về trước mà giờ này ngồi ghi lại, tôi vẫn thấy hiển hiện như
mới hôm qua. Ngày ấy, miền Nam vừa đổi chủ được 3 năm, t́nh h́nh chính trị
c̣n cực kỳ khắt khe. Đă thế, chính sách áp dụng lại không đồng nhất, mỗi
phường mỗi tổ là một lănh chúa, phát huy sáng kiến mà bức chế nhân dân.
Tôi ở trại cải tạo, cầm tờ giấy tha vào giữa
năm 78, về tŕnh diện Sở Giáo Dục Thành Phố cho đúng thủ tục, dù biết
trước sẽ không được thu nhận trở lại nghề cũ. Không có nghề nghiệp biên
chế, tôi chỉ được tạm trú 3 tháng tại Sài G̣n để thu xếp đi vùng kinh tế
mới. Thời gian này, miền Nam đang lên cơn sốt về phong trào vượt biên t́m
tự do. Những người ở vào hoàn cảnh của tôi, bị công an khu vực theo dơi và
hăm dọa thường xuyên th́ lại càng nôn nóng kiếm đường bỏ trốn. Những người
bạn tù chúng tôi ngày ngày đôn đáo gặp nhau, đề tài chính đem ra bàn bạc
chỉ xoay quanh một chuyện duy nhất là vượt biên.
Thời gian trôi qúa nhanh, trong nháy mắt đă
hết hạn tạm trú, tôi trở thành kẻ sống lậu không hộ khẩu tại thành phố.
Giữa lúc lao đao tuyệt vọng, không biết ngày nào bất ngờ bị bắt lại, th́
một hôm em trai tôi giới thiệu cho tôi một đầu cầu qúy giá: đó là ông Ân,
một người đàn ông trí thức, tuổi vừa 50, tính t́nh hiền hoà và đứng đắn.
Ông là nhân viên lâu đời của cơ quan viện trợ Hoa Kỳ trước 75, đồng thời
góp phần chuyển âm Anh-Pháp cho hăng phim Cosunam ở Sài G̣n. V́ làm ăn
chung với em tôi từ sau 75, nên ông có ḷng tốt rủ em tôi cùng đi với ông
trong chuyến vượt biển bán chính thức vốn dành riêng cho người Hoa đang
rầm rộ đăng kư lúc đọ
Thông cảm hoàn cảnh bấp bênh của tôi,em tôi
giới thiệu tôi với ông, để xem ông có giúp ǵ được tôi chăng? Đi bán chính
thức lúc ấy đắt tiền lắm, v́ đang là những đợt đầu. Có người nộp tới 12
hoặc 14 cây vàng, v́ phải qua nhiều trung gian. C̣n gía trung b́nh th́ ít
ra cũng phải 10 lượng một người. Tôi mới ở tù ra, làm ǵ có số tiền khổng
lồ ấy! Bà xă tôi bận con nhỏ -- khi tôi đi tù th́ cháu mới hơn 1 tuổi --
cho nên chỉ buôn bán vớ vẩn, đủ nuôi con và tiếp tế cho chồng là giỏi lắm
rồi. Số vốn ít ỏi của vợ tôi lại cứ vơi dần sau mấy chuyến đi chui bất
thành.
Con đường bán chính thức mua vé bằng cả chục
lượng vàng, là điều vượt qúa sự kỳ vọng của tôi, trừ khi có một phép lạ!
Vậy mà phép lạ dường như đang xảy đến! Hôm ấy, một buổi tối khoảng đầu
tháng 11, gia đ́nh em tôi đưa tôi lại quán ḅ bảy món Duyên Mai bên Chi
Lăng, để gặp ông Ân lần đầu tiên.
Tôi lúc này đang trốn chui trốn nhủi v́ đă
hết hạn nộp hộ khẩu từ lâu, phải xoay đủ mọi thứ giấy tờ lao động để qua
mặt công an khu vực, nấn ná lưu lại thành phố được ngày nào hay ngày nấy.
Khu vực Công giáo tôi cư ngụ lại hay xảy ra những vụ bắt bớ bí mật, v́
những tin đồn về các tổ chức Phục Quốc -- cả thật lẫn giả -- làm liên lụy
đến khá nhiều người vô can. Trước năm 75, tôi có dạy một ít giờ tại 2
trường tư thục Công giáo là trung học Quang Minh ở nhà thờ Vinh Sơn đường
Trần Quốc Toản, và trung học Saint Thomas trên đường Trương Minh Giảng.
Nhà thờ Vinh Sơn là nơi phát khởi vụ nổi dậy
chống chính quyền đầu tiên, sau 30 tháng 4 năm 75, và linh mục Nguyễn
Quang Minh bị bắt ngay sau đó. Cha Vàng ở trường Saint Thomas cũng đă bị
bắt, v́ nghe đồn bị vu cáo có giấu vũ khí trong khuôn viên trường học. Khi
tôi ở trại cải tạo về, công an có gọi tôi ra và thẩm vấn về quan hệ của
tôi với hai vị linh mục này. Có thể đó chỉ là những câu hỏi thủ tục về lư
lịch, nhưng cũng làm tôi hết sức lo sợ, bởi xă hội không có luật pháp rơ
ràng.
Một khi công an nghi ngờ, th́ sớm muộn ǵ
cũng vào tù. Bởi vậy, tôi càng nôn nóng muốn trốn đi. Tối hôm ấy, gặp ông
Ân ở nhà hàng, tôi bàng hoàng xúc động khi ông cho biết ông sẵn ḷng đóng
tiền cho vợ chồng tôi đi cùng chuyến với ông và em tôi. Nghĩa là ông cho
tôi vay 20 lượng vàng, qua Mỹ đi làm trả lại. Vợ chồng tôi chỉ cần góp 5
lượng cho đứa con mà thôi! Tôi như người đi trên mây, buồn ngủ gặp chiếu
manh, không ngờ đời ḿnh có lúc gặp qúi nhân dễ dàng như thế này!
Dĩ nhiên, qua trung gian em trai tôi, ông Ân
mới dám tin là tôi sẽ trả ông sau khi đến Hoa Kỳ. Nhưng dù sao đi nữa,
việc ông giúp một người xa lạ như tôi, trong hoàn cảnh này, phải coi là
một phép lạ mà tôi không mường tượng trước được, nhất là ở thời kỳ gạo
châu củi quế năm 78. Bà Ân ngồi cạnh chồng chỉ cười hiền hoà không có ư
kiến gị Lúc đó bà 39 tuổi, thua chồng hơn 10 tuổi. Sáu đứa con, đứa nào
cũng xinh xắn và ngoan hiền. Sau đó, tôi c̣n được biết thêm. Ông Ân cho
tới 18 người vay tiền đi, tổng cộng là gần 200 lượng vàng! Những ngày hồi
hộp trôi qua rất chậm, tôi nôn nóng chỉ sợ chuyện bất trắc xẩy ra trước
khi lên đường.
Tôi vẫn hăng hái tham gia công tác thủy lợi
tại địa phương, hoặc tự nguyện dạy lớp bổ túc văn hóa ban đêm trong tổ dân
phố, để tránh sự chú ư của công an khu vực. Song song với những việc đó,
tôi âm thầm mua giấy tờ, lấy tên giả, học nói dăm câu tiếng Hoa, và cuối
cùng ra đi vào một ngày cuối năm khi sóng biển đang gầm thét dữ dội ngoài
khơi.
Khi những chiếc ghe nhỏ đưa người ra thuyền
lớn ở Kiến Ḥa, th́ một chuyện bất ngờ xảy ra: công an cùng với chủ ghe
đọc danh sách lên tầu, và quyết định bỏ lại 17 người đă đóng tiền, trong
đó có toàn bộ gia đ́nh em trai tôi gồm 4 người. Em trai tôi là người giới
thiệu tôi đi, vậy mà phút chót lại bị Ở lại!
Tôi lên tầu, hết sức hoang mang, ngờ ngợ linh
cảm trước là sẽ có chuyện chẳng lành trên cuộc hành tŕnh đầy sóng gió sắp
tới. Tầu đi bán chính thức chỉ được một lợi thế là không sợ bị bắt ở bến
hẹn, nhưng luôn luôn chở qúa trọng tải, có chuyến vừa ra tới cửa biển đă
ch́m. Chiếc thuyền gỗ tôi đi nom rất mong manh, mà chủ tầu và công an chất
lên tới hơn 300 người, cố nhét càng nhiều càng tốt để thu vàng tối đa. Họ
gạch tên bỏ lại 17 người, để thay vào bằng những hành khách khác bằng ḷng
nộp nhiều vàng hơn.
Đây là loại tầu đánh cá có hầm chứa nước đá
để ướp cá, bây giờ được dọn sạch để đưa người vượt biển. Hơn 100 người đàn
ông chúng tôi bị dồn xuống hầm, cấm không được leo lên, và chỉ có mỗi cái
cửa vuông ở giữa tầu để ngày ngày bên trên ném thức ăn xuống. Đàn bà con
nít th́ được ngồi ở tầng trên cùng với thân nhân của chủ tầu và tài công.
Có nghĩa là từ lúc bước chân xuống tầu, tôi không được liên lạc với vợ con
nữa. Tôi không biết, trong số hơn 100 người đàn ông ngồi dưới hầm tầu, có
bao nhiêu người Việt; chỉ nghe tiếng chuyện văn chung quanh toàn là tiếng
Hoa.
Ông Ân với 3 cậu con trai tuổi từ 14 tới 18,
ngồi dưới hầm bên cạnh tôi. Vợ Ông cùng cô con gái đầu ḷng 19 tuổi, đứa
áp út 13 và đứa con út 3 tuổi ở trên boong cùng với vợ con tôi. V́ là
người Việt, không dám tranh căi với đại đa số người Hoa, chúng tôi bị dồn
vào cuối hầm tầu, ngồi chịu trận tại chỗ, nước lúc nào cũng ngập từ thắt
lưng trở xuống, và có khi lên tới ngực. Thức ăn cũng ít khi đến lượt ḿnh,
v́ những người ngồi gần cửa lấy hết, lâu lâu mới quẳng vô phía chúng tôi
cái bánh tét hay ổ bánh ḿ đă cứng như thanh củi.
Tuy vậy, ai cũng tự an ủi là cuộc hành tŕnh
sẽ không lâu, cố gắng chịu đựng vài ngày là tới bến, tha hồ thong dong.
Sang đến ngày thứ tư, rồi thứ năm, tất cả đều mệt mỏi v́ con thuyền nhỏ bị
sóng nhồi liên tục. Nước biển rỉ vào hầm tầu mỗi lúc một nhiều hơn, mà
chẳng ai buồn múc từng thùng đổ ra ngoài như hai hôm đầu. Chỗ tôi ngồi
càng ngày càng thê thảm hơn.
Nước ngập tới ngực, mà rác rến lại nổi lềnh
bềnh chung quanh, Lá bánh chưng bánh tét, vỏ quít, vỏ bưởi cùng các thứ
linh tinh không tên, trôi vật vờ, chẳng ai thèm vớt mà đem quăng xuống
biển. V́ quá chật chội, di chuyển rất khó khăn, nên ai cũng ngồi ĺ tại
chỗ, đứng lên không nổi, đi tiểu luôn chỗ ḿnh ngồi cho tiện. Trong hầm
tầu, chúng tôi mất hết ư niệm thời gian, không ngày hay đêm, cũng chẳng
biết tầu đang chạy hay đứng tại chỗ.
Đến ngày thứ năm, v́ nóng bức qúa, có người
ngộp thở ngất xỉu dưới hầm, tài công mới cho khoét một cái lỗ vuông mỗi bề
hơn một gang tay ngay trên đầu tôi, nghĩa là phía dưới tầu, để lấy không
khí từ trên lùa xuống cho hơn 100 người phía dưới. Vị ân nhân của tôi, ông
Ân và các con, lúc đầu c̣n nói chuyện với tôi, sau mệt qúa, ai cũng nhắm
mắt dựa vào nhau mà sống cho qua cuộc hành tŕnh dài lê thê.
Bước sang ngày thứ bảy, buổi sáng tinh mơ,
chắc chưa đến 6 giờ, tôi đang thiu thiu ngủ, th́ nghe có tiếng gọi nhỏ: -
Anh Ngạn Anh Ngạn ơi! Tôi giật ḿnh ngơ ngác ngước nh́n lên, th́ thấy bà
xă tôi tḥ mặt qua cái lô thông hơi để t́m tôi. Tôi không nhận ra mặt vợ
tôi v́ trời c̣n tối thẳm, nhưng nhờ giọng nói tôi biết vợ tôi cần gặp tôi
có chuyện khẩn cấp. Tôi hồi hộp t́m cách đứng dậy. Tàu chật ních, lại thêm
đă gần một tuần ngồi một chỗ, hai chân tê cứng dưới lớp nước mặn, tôi
loanh quanh khá lâu mới đứng lên được. May cho tôi là quanh tôi mọi người
c̣n đang ngủ cả. Chứ nếu họ thức th́ tôi khó ḷng di chuyển, v́ họ sẽ lôi
lại và dí đầu tôi bắt ngồi xuống.
Bà xă tôi giục nho nhỏ: - Lên đi anh! Lên đại
đi! Chui lỗ thông hơi này lên đi! Tôi lo lắng nh́n quanh. Lúc ấy tôi c̣n
gầy yếu lắm. Thời gian ở trại cải tạo bị sốt rét nặng, kéo dài 21 ngày,
bước đi phải nhờ người vịn, bạn bè cùng tổ cứ tưởng tôi là sắp phải đem
tôi đi chôn trên đồi tranh ở Bù Gia Mập. Giờ này vượt biển, tôi vẫn chưa
lại sức, mới chỉ lên cân được chút ít.
Nhà tôi lại bảo: - Đêm qua băo lớn. Cái áo
của con bị rách tung rồi bay mất. Nó phải cởi trần cả đêm lạnh tím cả
người. Anh lên một chút đi! Nghe nhắc đến đứa con hơn 4 tuổi, tôi vùng
đứng lên, bước đại qua vào người đang ngồi ngủ, rồi chui liền lên, cái lỗ
nhỏ, phải lách người khó khăn, làm trầy sứt cả hai vai, nhưng tôi không có
cảm giác ǵ lúc đó. Từ hôm lên tầu, tôi vẫn mặc cái jacket nylon của Không
Quân ngày trước và chiếc quần tây màu vàng đục.
Lúc ngồi, dĩ nhiên phải cởi hết nút quần, kéo
fermeture xuống cho thoải mái. Bâygiờ đứng dậy, vội vă dùng hai tay đu lên
khỏi hầm tầu, có người nào đó đă nắm ống quần tôi kéo lại, làm tôi chỉ c̣n
mỗi cái quần đùi khi lên tới tầng trên. Trời mưa không nặng hạt lắm, nhưng
gió biển thổi phần phật trong không gian mờ tối. Tôi cúi xuống ôm đứa con
đang run cằm cặp.
Nhà tôi ưu tư bảo: - Tầu sắp đắm mất, anh ạ!
Tôi đảo mắt nh́n quanh sau sáu ngày bảy đêm chui trong bóng tối dưới hầm.
Chỉ một phút sau, tôi nhận ra ngay là ḿnh sắp chết! Vợ tôi nói đúng. Là
bởi v́, khi ở dưới hầm, tôi cứ tưởng tầu đang chạy. Hóa ra tầu bị bỏ neo
đậu tại chỗ suốt cả đêm rồi, mặc cho gió mưa và sóng dữ cuối năm vùi dập.
Tuy cùng ở trên tầu, nhưng những tin tức bên trên không được thông báo cho
người dưới hầm biết, sợ gây cảnh náo loạn, dẵm đạp lên nhau.
Bởi vậy, tôi hoàn toàn không biết ǵ cả, cho
đến bây giờ leo lên mới thấy kinh hoàng, Tôi nh́n lại phía buồng máy. Một
cảnh tượng hăi hùng và thê lương: không có tài công, không có người phụ
máy. Chiếc tầu không người lái cứ bập bềnh nghiêng ngửa theo từng đợt sóng
khổng lồ đưa vào, đẩy ra, phó mặc sinh mạng mấy trăm người cho đại dương.
Với sức sóng như thế này, tôi biết chắc tầu sắp vơ.
Đàn bà con nít, người đứng người ngồi lố nhố,
quên cả cái ướt lạnh, nhớn nhác hỏi nhau, không biết phải làm ǵ trong
hoàn cảnh tuyệt vọng này. Bà xă tôi bảo: - Tài công bỏ tầu từ nửa đêm rồi!
Bấy giờ tôi mới hiểu đầu đuôi câu chuyện. Đêm qua, khi thuyền chúng tôi
vào c̣n cách bờ Mă Lai khoảng nửa cây số, th́ có tầu cảnh sát Mă Lai ra
đuổi. Rồi họ dựng mấy cây đại liên và đèn pha trên bờ bắn ra xối xa.
Mười mấy người tài công cùng với thân nhân
chủ ghe đeo phao nhảy xuống bơi vào, nói là để điều đ́nh rồi sẽ ra đưa tầu
vô. Nhưng rồi họ đi luôn, không ai trở lại! Người ngoài khơi cứ đợi. Người
đă lên bờ th́ bỏ mặc. Đàn bà con nít trên boong không ai biết lái tầu. Hơn
100 người ngồi dưới hầm th́ tưởng tầu vẫn đang chạy b́nh thường!
Tôi biết ḿnh sắp chết, nhưng cố làm ra vẻ
b́nh tĩnh bảo con tôi: - Con ơi! Đằng nào tầu cũng sắp ch́m. Bây giờ con
ôm lấy cổ ba, để ba nhảy xuống biển khơi, bơi vào... Tôi không biết bơi.
Mà có biết th́ cũng không c̣n sức, bởi bờ ở qúa xa, tôi cố nhướng mắt nh́n
mà chỉ thấy lờ mờ trong mưa. Đứa con trai hơn 4 tuổi, quấn chiếc khăn
quanh người ướt đẫm từ đầu xuống chân, run lẩy bẩy nh́n tôi im lặng gật
đầu.
Dường như nó cũng linh cảm thấy chuyện chẳng
lành sắp đến, cho nên chỉ nh́n tôi chia sẻ. Quanh tôi, có vài cái b́nh
nylon đựng nước ngọt đă uống hết, nằm lăn lóc trên sàn. Tôi nắm bàn tay
lạnh ngắt của vợ tôi và bảo: - Em lấy cái b́nh nylon, ôm vào người rồi
nhảy xuống. May ra sóng đánh vào bờ! Thà nhẩy xuống trước, chứ để tầu vỡ
th́ khó ḷng mà sống được, v́ cả trăm người sẽ níu chặt lấy nhau và cùng
chết hết! Vợ tôi nh́n tôi bằng ánh mắt ly biệt, đưa tay làm dấu đọc kinh.
Tôi và con trai tôi cũng làm dấu Thánh giá và cầu xin Chúa che chở trong
cơn nguy khốn. Tôi vừa đưa cho vợ tôi cái b́nh nylon, chưa kịp nói ǵ thêm
th́ một đợt sóng vĩ đại ấp tới, làm chiếc tầu lật ngang, vỡ tung buồng lái
ở tầng trên. Tiếng người đồng thanh kêu ru lên, bị tiếng gầm của sóng át
đi.
Buồng máy, kính cửa sổ, mui tầu, mái gỗ bọc
tôn và bao nhiêu thứ ngổn ngang trên tầu đều rụng hết xuống biển, kéo theo
qúa nửa hành khách gồm đàn bà và trẻ em. Tôi té lăn trên sàn tầu trong
khối nước mặn khổng lồ vừa ập tới, đôi tay quờ quạng bám víu bất cứ thứ ǵ
để sống c̣n. Từ giây phút ấy, tôi không c̣n nh́n lại được vợ tôi lần nào
nữa! Đứa con tôi cũng vuột khỏi tay tôi và văng xuống biển.
Tôi níu được một sợi giây nào đó trên tầu,
nên chỉ bị văng mất đôi mắt kính cứ chưa rơi hẳn xuống nước. Nhưng ngay
sau đó, tôi chưa kịp hoàn hồn, chưa kịp đứng vững th́ lớp sóng khổng lồ
vừa đẩy vô bờ, lại rút ra mạnh hơn, làm tầu lật ngang một lần nữa ra phía
ngoài, và lần này trên boong tầu không c̣n sót lại một ai. Tất cả đều rụng
xuống biển. Những lớp ván, lớp kính và những ǵ chưa vỡ qua đợt sóng trước,
lần này tan tành hết. Nhưng đau đớn hơn cả là chiều tầu ch́m dần xuống đáy
biển mà hầm tầu lại chưa bể, cho nên hơn 100 người đàn ông ngồi với tôi
suốt tuần lễ vừa qua, đều chết ngộp hết trong hầm, trong đó có cả cha con
ông Ân, người đă đóng tiền cho gia đ́nh tôi đi!
Tôi rớt xuống biển, cố gắng vùng vẫy theo bản
năng sinh tồn, mặc dầu không biết bơi. Trên mặt biển bao la, sóng nhồi
khủng khiếp, tôi thấy từng mảng gỗ thật lớn của ván tầu, rồi thùng phuy,
va li, nồi niêu, áo quần, thùng gạo và hàng chục thứ đồ lặt vặt khác trôi
nổi theo triền sóng, đôi khi lao vào mặt ḿnh. Đàn bà con nít ngụp lên lặn
xuống, bán lấy nhau mà cùng chết.
Tôi uống no nước, ch́m sâu xuống, đụng phải
bao nhiêu xác người c̣n bấu chặt không rời nhau. Tôi nín hơi ngoi lên được
một chút để thở, rồi lại bị sóng cuốn đi không định được phương hướng. Là
người Công giáo trong lúc lâm chung, tôi cố gắng đọc kinh sám hối để chuẩn
bị ĺa đời. Đọc kinh, nhưng không cầm trí tập trung được.
Tôi uất ức lắm, bởi thấy ḿnh chết tức tưởi ở
tuổi 32 sau khi đă ḱnh qua bao nhiêu năm gian khổ. Ngày c̣n trong quân
đội, mấy năm tác chiến, tôi đă kề cận tử thần mà tại sao không chết ngay
trên chiến trường cho xong? Tôi nhớ một lần hành quân ở Cái Bè, tôi đứng
dưới đường mương bên gốc xoài, VC từ cánh đồng trước mặt bắn đạn pháo
trúng ngọn xoài chỗ tôi đứng, miểng văng tung tóe, làm bay mất cây súng
Colt tôi đang đeo bên hông và cắt đứt sợi giây ống liên hợp máy truyền tin
PRC 25 tôi đang nói chuyện với Bộ Chỉ Huy Hành Quân.
Lúc ấy tôi thấy số ḿnh c̣n lớn lắm, chỉ bị
trầy sát nhẹ Ở bên đùi! Rồi khi ở trại cải tạo Sông Bé, tôi lại bị sốt rét
nặng nề đến kiệt sức, tưởng không c̣n sống nổi tới ngày được tha về. Vậy
mà cũng không sao! tôi uất ức tự hỏi tại sao vược biển gần đến nơi th́ lại
chết? Thế rồi tôi uống no nước, đuối sức không vùng vẫy nổi, đành buông
xuôi tay ch́m xuống đáy bể, không biết ǵ nữa!
Khi tôi tỉnh lại trên bờ, thấy ḿnh nằm sấp
trên đống xác chết ngổn ngang. Nước ộc từ trong bụng ra giúp tôi hồi sinh.
Tôi mơ màng tưởng ḿnh đang nằm chiêm bao.. Đứa con trai 13 tuổi của ông
Ân chạy lại lôi tôi dậy và nói:
- Chú Ngạn ơi! Tỉnh dậy! Tỉnh dậy! Đắm tầu,
chú Ngạn ơi!
Tôi ngơ ngác nh́n nó, chưa nhận ra ai bởi qúa
đuối sức và v́ không có mắt kính. Thằng bé lay tôi và nhắc lại:
Tôi uất ức lắm, bởi thấy ḿnh chết tức tưởi ở
tuổi 32 sau khi đă ḱnh qua bao nhiêu năm gian khổ. Ngày c̣n trong quân
đội, mấy năm tác chiến, tôi đă kề cận tử thần mà tại sao không chết ngay
trên chiến trường cho xong?
Tôi nhớ một lần hành quân ở Cái Bè, tôi đứng
dưới đường mương bên gốc xoài, VC từ cánh đồng trước mặt bắn đạn pháo
trúng ngọn xoài chỗ tôi đứng, miểng văng tung tóe, làm bay mất cây súng
Colt tôi đang đeo bên hông và cắt đứt sợi giây ống liên hợp máy truyền tin
PRC 25 tôi đang nói chuyện với Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Lúc ấy tôi thấy số
ḿnh c̣n lớn lắm, chỉ bị trầy sát nhẹ Ở bên đùi! Rồi khi ở trại cải tạo
Sông Bé, tôi lại bị sốt rét nặng nề đến kiệt sức, tưởng không c̣n sống nổi
tới ngày được tha về. Vậy mà cũng không sao! tôi uất ức tự hỏi tại sao
vược biển gần đến nơi th́ lại chết? Thế rồi tôi uống no nước, đuối sức
không vùng vẫy nổi, đành buông xuôi tay ch́m xuống đáy bể, không biết ǵ
nữa!
Khi tôi tỉnh lại trên bờ, thấy ḿnh nằm sấp
trên đống xác chết ngổn ngang. Nước ộc từ trong bụng ra giúp tôi hồi sinh.
Tôi mơ màng tưởng ḿnh đang nằm chiêm bao.. Đứa con trai 13 tuổi của ông
Ân chạy lại lôi tôi dậy và nói:
- Chú Ngạn ơi! Tỉnh dậy! Tỉnh dậy! Đắm tầu,
chú Ngạn ơi!
Tôi ngơ ngác nh́n nó, chưa nhận ra ai bởi qúa
đuối sức và v́ không có mắt kính. Thằng bé lay tôi và nhắc lại:
- Chú Ngạn ơi! Đắm tầu! Ba cháu, chị cháu với
3 người anh của cháu chết hết rồi! Vợ chú với con chú cũng chết cả rồi!
Tôi vùng đứng dậy, đưa mắt nh́n quanh. Lính
Mă Lai đang quây những người sống sót vào gốc dừa. Họ cũng như tôi là
những người được sóng đẩy vào bờ và may mắn thoát khỏi tử thần. Nhưng họ
không được phép cứu những người bị ngộp nước như tôi. Nếu được cấp cứu,
tôi tin chắc trong đám người nằm kia, ít lắm cũng có cả chục người sống
dậy. Lính Mă Lai không cho cứu là bởi v́ những kẻ xa lạ và bất nhân ấy
đang lột quần áo người chết để lấy vàng và dollars giấu trong gấu quần,
gấu áo, cổ áo, vạt áo.
Moi của xong, họ lôi xác chết tập trung lại
một chỗ chở xe mang đi chôn tập thể. Tôi từ gốc dừa ḅ tới, t́m trong đám
97 cái xác, thấy con trai tôi đă chết hẳn. Tôi bế cháu lên và nhận ra ván
tầu hoặc ghềnh đá đă đánh vỡ trán con tôi, c̣n để lại một vệt dài thật rơ.
C̣n vợ tôi th́ sóng biển đánh trôi đi mất, không t́m được xác! Mọi chuyện
diễn ra chỉ trong chớp nhoáng. Ngoài kia, biển vẫn ầm ầm gào thét, chỉ
thấy sóng xô chập chùng, không c̣n dấu tích ǵ của chiếc thuyền định mệnh.
Hôm sau, từ trại tạm cư, chúng tôi được đưa
trở lại băi biển, thả bộ dọc xuống hướng Thái Lan, t́m thêm được một số
xác chết nữa, nhưng cũng không thấy vợ tôi. Tổng số 161 người chết, chỉ
vào bờ được khoảng 100 cái xác, phần c̣n lại bị sóng đưa đi mất tích.
Có hai nhà sư Mă Lai gốc Hoa đem vải và nhang
đến làm lễ cầu siêu trước khi lính Mă Lai đem chôn tập thể. Trên băi biển
Mă Lai dài thăm thẳm tôi dừng chân, ngồi dưới hàng dừa trông ra đại dương,
nao nao mường tượng lại chặng đường đă qua.
Nhớ những buổi sáng Chúa Nhật vợ tôi lên thăm
ở Khu Tiếp Tân trường Bộ Binh Thủ Đức. Rồi những lần từ thành phố xuống
miền Tây chờ tôi ở hậu cứ tiểu đoàn. Khi sinh con đầu ḷng, tôi từ đơn vị
hành quân, không kịp thay quân phục, vội vă đón xe về thăm ở bảo sanh viện
Đức Chính trên đường Cao Thắng.
Nhớ hơn nữa là những lần vợ tôi gánh quả nặng
trĩu đi tiếp tế cho tôi trong trại cải tạo, băng ngang 17 cây số đường
rừng từ thị xă Phước B́nh vào Bù Gia Mập. Tất cả đều đă qua đi, chỉ c̣n
lại mặt nước mênh mông xanh thẳm trước mặt, từng cuốn mất bao nhiêu xác
người đồng hương trên hành tŕnh t́m tự do! Vợ tôi mất đi ở tuổi 26, sau
những tháng ngày vất vả v́ chồng. Lấy tôi khi tôi đă vào quân đội, thường
xuyên xa nhà, vợ tôi cũng giống như bao nhiêu người đàn bà khác trong thời
khói lửa, chẳng mấy khi được gần chồng.
Khi tôi được biệt phái về lại Bộ Giáo Dục,
dạy học tại Sài G̣n, đă tưởng vợ chồng có thể sống đời dân sự yên ổn lâu
dài, nào ngờ chỉ hơn một năm sau th́ mất nước, bắt đầu cuộc sống mới lao
đao gấp bội. Đoạn đường trầm luân ấy, có ngờ đâu rút cuộc lại kết thúc bi
thảm bằng cái chết trên đại dương cùng với đứa con đầu ḷng hơn 4 tuổi!
Tôi tin chắc cái chết của vợ tôi đă làm thay đổi hẳn cuộc sống của tôi.
Nếu nói theo niềm tin thiêng liêng, th́ chính vợ tôi đă cứu tôi vào phút
chót, trước khi đắm tầu. Bằng chứng là hơn 100 người đàn ông ngồi chung
với tôi dưới hầm tầu đều chết cả v́ ngộp nước.
Em tôi -- người giới thiệu tôi cho ông Ân --
nếu đi cùng tôi chuyến ấy, chắc chắn cũng đă bỏ xác trên đại dương. Nhờ bị
bỏ lại, nửa năm sau, em tôi cùng gia đ́nh vượt biển thành công và gặp lại
tôi tại Vancouver, Canada vào giữa năm 80. Bà Ân và hai đứa con nhỏ được
sóng đánh vào bờ thoát chết, đi định cư ở Texas, tôi vẫn liên lạc cho đến
khi trả xong 20 lượng vàng chồng bà cho tôi vay.
Biến cố hăi hùng của chuyến tầu định mệnh làm
tôi càng vững tin rằng đời người có sự sắp đặt của định mệnh, hay nói theo
đức tin Công giáo, th́ đó là sự an bài của Thiên Chúa. C̣n đó rồi mất đó!
Kiếp người mong manh như chiếc bách giữa ḍng, cho nên các cụ ngày xưa
thường ví là cuộc phù thế nhân sinh. Vợ con tôi chết trước mặt tôi. Hơn
160 người chết ngay bên cạnh tôi. Mà một kẻ yếu đuối như tôi lại sống sót!
Đó phải là quyền năng của Thiên Chúa chưa muốn tôi ĺa trần.
Lúc ngồi trên tầu, ông Ân thường tâm sự với
tôi: những ngày gần mất nước, gia đ́nh ông đă có thể đi Mỹ dễ dàng, bởi
ông làm việc cho cơ quan viện trợ Hoa Kỳ suốt hai mươi năm. Nhưng ông thấy
ḿnh tuổi đă lớn, muốn ở lại quê nhà khi đất nước hết chiến chinh, nên ông
từ khước quyền lợi di tản mà người Mỹ dành cho ông. Ba năm sau, đất nước
qúa lầm than, mà chiến tranh vẫn không dứt.
Các con ông chuẩn bị bước vào tuổi nghĩa vụ
quân sự phục vụ cuộc xâm lăng Kampuchia, thúc đẩy ông phải ra đi. Năm 75
ông từ chối di tản bằng máy bay. Năm 78 ông phải trốn bằng thuyền, để rồi
chính bản thân ông cùng với 4 đứa con lớn đều chết cả! Có thể do những suy
nghĩ về cuộc đời sau chuyến hải hành khủng khiếp mà tôi thoát nạn chỉ
trong đường tơ kẽ tóc, tôi bắt đầu có những thay đổi lớn trong tâm tư. Tôi
trở nên dễ tính, ít chấp nhất và không nuôi ḷng thù ghét với bất cứ ai.
Tôi tâm nguyện rằng cuộc đời ḿnh, hễ làm
được điều ǵ cho cộng đồng, cho xă hội, cho tha nhân, tôi đều cố gắng để
đền đáp lại phép lạ của Chúa đă cứu tôi trên biển. Những ngày trống vắng ở
trại tị nạn Mă lai chờ đi định cư, tôi suy nghĩ nhiều về nửa thế kỷ trầm
luân của đất nước, và nhận ra một điều đơn giản rằng: trong xă hội Việt
Nam người đàn bà mới chính là thành phần chịu nhiều gian truân nhất, thời
chiến tranh cũng như thời hậu chiến.
Cảm thông cái thực tế chua xót ấy, cùng với
nỗi nhớ thương người vợ mới mất, tôi bắt đầu viết truyện dài "Những người
đàn bà c̣n ở lại" trong 3 tháng ở trại tạm cư. Cuốn sách đầu tiên ấy, tuy
kỹ thuật chưa cao, nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc. Nó là bậc thềm thứ nhất,
là nấc thang khởi đầu, để rồi từ đó đến nay tôi đă có được gần 30 tác phẩm
xuất bản. Hai mươi năm đă qua, trên mặt báo chí Việt ngữ, tôi chưa hề viết
lại những ḍng này để mô tả tỉ mỉ cái chết của vợ tôi với đứa con đầu ḷng.
Tuy vậy, từ thâm sâu, tôi vẫn tin chắc một
điều rằng: chính cái chết của vợ tôi đă mở ra cho tôi một cánh cửa mới tôi
chưa hề dự trù trong qúa khứ. Đó là thế giới văn chương mà tôi miệt mài
theo đuổi cho đến hôm nay.
Nguyễn Ngọc Ngạn
|