CHUYỆN CON RẮN Ở QUÊ NHÀ

Hoàng Vũ Đông Sơn

Thuở bé tôi bị đỉa cắn một lần mà lại là đỉa trâu ở quê ngoại mới khiếp chứ! Vì thế, suốt đời tôi sợ những con vật dài dài trơn tuột. Rồi cái sợ lây sang cả các con vật không có lông ngọ ngậy, nhúc nha nhúc nhích như chuột con, tằm đã ăn rỗi xong, cá trê, cá thu, cá bông lau... và nhất là lươn. Nói chung là tất cả các loại cá không vẩy là tôi không "chơi". Nên những khi có dịp tụ hội anh em bầu bạn ăn uống tôi đã làm cho một vài người bực, hét lên: "Nó làm bộ làm tịch, cố tạo dáng vẻ khác người". Lần này thì nghiêm trọng hơn. Có đứa bảo:"Cứ đè ngửa nó ra, nhét vào mồm rồi bịt mũi như bu tao mớm cơm cho tao ngày bé. Nhất định nó sống nhăn. Nó có làm sao, tao chịu trách nhiệm".

Người bạn đẹp trai học giỏi con nhà giàu đã đi "khắp thế gian" nên lời nói bao giờ cũng có trọng lượng đã cứu tôi bằng câu hỏi: "Mày là tín đồ Do Thái Giáo phải không?" Tôi ú ớ, nào biết nước Do Thái ở mô mà làm tín đồ Ngài Jéhova thần thánh. Tôi biết được hậu ý ấy nên đặt câu hỏi ngược lại: "Sao mày biết?" Hắn nói: "Người đạo Do Thái không ăn cá không vẩy". Mọi người có vẻ tin nhưng tôi thì không. Vì hắn đang du học ở Tây Đức về nghỉ Giáng Sinh và Tết Tây. Chả biết ma đưa ý, quỷ mớm lời mà tôi buột miệng nói rằng mình đã ăn thịt rắn lần đầu khi 11 tuổi mà lại ăn rắn thần nữa mới khiếp chứ.

Các bạn trong tiệc bắt tôi phải kể lại "Chuyện ăn thịt rắn đó, mà phải có đầu có đuôi. Nếu thấy hay và hợp lý thì tha cho, "Không bắt nhập khẩu" một khúc lươn um dài cả tấc Tây, đen sì, bóng lưỡng như da đỉa.Tôi đành kể:

*

Cuối năm 1950, những gia đình mặc nhiên được phép hồi cư sau Tiêu Thổ Kháng Chiến. Phố Đông Triều chợ Cột quê tôi nằm trên quốc lộ 18 chỉ còn là đống gạch vụn. Thảng hoặc, đó đây vài bức tường gạch xiêu vẹo. Trường học là cái nhà lồng chợ cũ Tây xây nên quen gọi là Quán Tây. Ngày hai buổi, trừ chủ nhật và chiều thứ năm, tất cả chúng tôi được gửi tới cho các thầy giáo Soạn, giáo Sản, giáo Kỹ dạy dỗ. Tối tối thì giao cho ông Lý Nhiên là trưởng Phố "Hội Tề Hai Mang" bao bọc ở cái hầm nổi là mấy bức tường được phủ lên bằng các cột gỗ, kèo nhà, cánh cửa, mặt bàn và đất cát để tránh đạn nổ chụp từ "Đồn cao" bắn xuống đều chi.

Ông Trưởng Phố bất đắc dĩ ấy, cả phố chợ Cột cứ gọi nịnh là Ông Lý. Còn Nhiên là tên anh con trai lớn, anh của bạn Khánh. Lũ chúng tôi khoảng hơn ba chục đứa trẻ con chẳng ngoan ngoãn gì do năm tên đầu têu phá phách từ nhà đến trường, từ trường đến cả các ngõ ngách của Đông Triều chợ Cột đổ nát là Cầu là Tưởng là Hợp là Khánh và tôi. Ban ngày, tiếng là đi học nhưng Trường chỉ dạy tới lớp Ba. Chúng tôi đã học xong lớp Nhất (lớp năm bây giờ). "Thầy" của chúng tôi là ba vị Hương Sư. Năm thằng cứ phải phụ với "thầy" dạy những "em", phần nhiều lớn hơn chúng tôi viết tập, làm tính, viết chính tả...

Mới được hồi cư, các làng xã "tề" chưa có trường, có lớp. Trường duy nhất ở Quán Tây Chợ Cột lại có vinh dự là trường quận. Đơn vị hành chánh gọi tất cả các phủ, huyện là quận sau năm 1945 tức là từ khi Đức Quốc Trưởng Bảo Đại Hồi Loan. Năm đứa chúng tôi được mọi người ưu ái: "nhờ các cậu kèm cặp chỉ dạy em nó hộ..." Dĩ nhiên là mùa nào thức nấy, ngày nào cũng có quà lót tay với lời lẽ thương mến: "để anh em chúng mày "học đêm" có đói còn có cái mà va vào mồm".

Thét rồi thành lệ ăn đêm. Cứ cơm chiều xong là bòn rút ở nhà có thứ gì ăn được kể cả rượu thịt cũng mang ra góp với anh em.

Những đêm tối trời, chúng tôi "học đêm" bằng Đông Châu Liệt Quốc, Hán Sở tranh hùng, Tam Quốc Chí, Thủy Hử. Truyện Liệt Quốc, Hán Sở, Tam Quốc không hấp dẫn chúng tôi bằng Thủy Hử nên những đêm trăng sáng, Tây ở Đồn cao không bắn sảng xuống, chúng tôi thường chia làm hai phe: Quân triều đình do Cầu "chỉ huy" vì trong truyện có một anh tên là Cao Cầu. Còn quân Lương Sơn do tôi "lãnh đạo" đả nhau tận tình đến tóe máu mới thôi.

Rồi một chiều; Hợp phát hiện ở cái miếu hoang đối diện với sân Quần tức sân vận động Đông Triều có hai con rắn. Cứ hoàng hôn là chúng "cõng nhau" bò ngang qua đường nhựa sang sân quần. nghe chuyện xong, "Sơn trại" bàn kế sách diệt rắn – Cứu đồng bào. Họp bàn mấy đêm ở trong hầm và ngoài đường. Anh em đều hạ quyết tâm: Diệt rắn. Nhưng diệt bằng cách nào? Ai đi diệt? Chuyện "lớn" ấy được đưa vào tất cả các gia đình có con "đi học để lánh nạn", vào cả lớp học. Cha mẹ và thầy giáo đều cấm chỉ. Sợ rắn trả thù. Thầy giáo Kỹ khẳng định rắn báo oán qua chuyện thị Lộ, Nguyễn Trãi. Có thầy Sản, thầy Soạn "phát vấn" từng đứa để tất cả am tường rằng rắn là thứ khó chơi. Phải xa lánh rắn mới là con ngoan trò giỏi.

Thầy nói hay lắm. Nhưng tin lời thầy thì dứt khoát không. Vì chúng tôi vẫn thấy người ta bắt rắn, mua rắn ngâm rượu uống, làm thịt rắn ăn được. Có đứa còn nhìn thấy thầy xơi thịt rắn, uống rượu rắn. Cho nên, hội đồng chuột cứ họp bàn mãi. Cuối cùng có một thách đố: Ai xung phong thì là anh hùng. Bất kỳ thằng nào "hạ" được đôi rắn ấy, tất cả anh em sẽ tôn lên làm "thủ lãnh sơn trại".

Một ngày chủ nhật về ấp, tôi sang chơi nhà anh Đĩ Nhặt và xin anh làm cho cây gậy để làm anh hùng. Anh Đĩ Nhặt tên là Bứa, anh có con gái đầu lòng là cái Nhặt. Đó là thói quen man rợ của quê tôi ngày xưa "tôn kính" những ai dám lấy vợ, dám có con mà lại không có chức vị xã hội thì gọi là Bố cái Đĩ, mẹ thằng Cu hoặc là ngược lại Bố Cu mẹ Đĩ rất bình thường.

Sau khi anh han hỏi tôi về học hành, về lính Tây, lính Ta nhiều ít ở phố Huyện rồi đến lý do cần cây gậy tốt, anh nói:

–Gậy thì cậu muốn cả trăm cái cũng có. Nhưng nếu dùng gậy để đánh nhau với bạn thì tôi sang mách cụ để cụ lên thưa với thầy giáo.

Tôi đành phải nói nhưng hơi trí trá. Cũng chưa hẳn là nói dối anh vì lúc ấy tôi chưa biết ai sẽ là anh hùng.

–Em xin cho bạn em đánh rắn.

–Rắn ở đâu?

–Ở trên phố!

–Rắn ở trong hang hay ở ngoài?

–Ở ngoài.

–Cậu kể rành mạch lại cho tôi biết, rồi tôi chỉ cách cho bạn cậu đánh chết nó đi. Nhưng nhất định không phải là cậu đấy nhá! Cậu có hứa với tôi như thế không?

–Vâng, em xin hứa.

–Ờ, như thế là tốt! Đánh rắn ở chỗ cứng như mặt đường nhựa ấy, không thể đánh bằng gậy, mà phải đánh bằng roi, một dài một ngắn.

–Đánh bằng cả hai roi một lúc à?

–Không!

Anh vừa nói vừa "giáo cụ trực quan" cho tôi ở sân nhà anh bằng cách ra bụi trúc chặt ngay hai cái roi một dài một ngắn. Một khúc cây dài giả dụ làm con rắn đang bò ngang đường. Miệng nói tay làm, anh bảo:

–Này! Trông cho kỹ để nhớ mà nói cho bạn nhé! Rắn bao giờ chưa bị tấn công cũng bò thong thả, đầu ngóc lên cao trườn đi. Đợi lúc nó ngóc đầu trườn lên là lấy cái roi dài này lê sát mặt đường nghịch chiều với nó là trúng đầu roi vào cổ rắn. Nó ngắc ngư là nện nó bằng roi ngắn.Nện ngay vào phần có đầu rắn là nó phải chết. Đánh rắn phải đánh cho giập đầu đấy nhé! Nhớ chưa? Có phải nhắc lại không?

–Dạ, em nhớ rồi. Anh khỏi nhắc lại.

–Nhớ thì làm thử cho tôi xem.

Tôi phải "thực thi" nhiều lần đến khi anh gật đầu mới cám ơn anh ra về. Nhưng tôi lại xin gởi lại hai cái roi, đến lúc đi học mới lấy.

–Ờ, cậu này thế mà khôn. Đúng rồi, cậu để ở đây, bao giờ đi hẵng lấy. Mang về nhà, cụ mà biết hay tưởng là cần câu, lại cho tôi là "nối dáo cho giặc".

Anh sinh ra và lớn lên trong ấp. Anh biết mẹ tôi rất nghiêm khi thấy anh em tôi ham hố câu cá bỏ cả học hành. Anh còn bảo:

–Cái roi này cũng cỡ cái cần câu vừa vừa. Cụ mà nhìn thấy thế nào cũng nghe chửi "Bé đi câu. Lớn đi hầu. Già đi làm khách nợ" cho mà xem. Không khéo tôi còn bị vạ lây vì cậu thì khổ cho tôi lắm!

Tôi mang roi về "Tụ Nghĩa Đường". Năm thằng thủ thỉ với nhau về cách đánh rắn do anh Đĩ Nhặt vừa chỉ bảo rồi ra "quan sát trận địa". Anh ấy đúng là Thánh, đoán việc như Thần. Đúng là rắn trườn đi nó phải ngóc đầu lên cao. Trước mắt tôi là con rắn đen sì dài hơn 1m, cõng trên lưng một con rắn nhỏ dài khoảng 2 tấc màu nhờ nhờ có mào đo đỏ. Nó bò qua đường đúng vào giờ phút giao thoa giữa bóng tối và ánh sáng, giữa ngày và đêm.

Hội đồng chuột lại họp bàn. Tất cả đều co vòi. Kể cả những thằng có máu mặt vẫn ra vẻ gan dạ đàn anh cũng "im như thóc đổ bồ".

Qua một trận đun qua đẩy lại, cãi vã rồi thách đố nhau gay gắt như giặc. Tôi quyết định làm anh hùng và áp dụng đúng như bài bản đã học. Trời rét ngọt, có lúc mưa phùn tôi vẫn bỏ công cả tuần lễ tìm hiểu thói quen của rắn.

Cuối cùng, trước mắt các "đầu lãnh" và toàn thể "lâu la" lấp ló xa xa, tôi đánh chết được con rắn lớn, còn con rắn nhỏ phóng vào bụi cỏ phía sân quần. Xác rắn được lũ "lâu la" hò reo khiêng đi khắp phố chợ. Bốn "Đại vương" Cầu, Hợp, Tưởng, Khánh phải y như điều ước thay nhau từng đôi làm kiệu bằng tay đi ngang kiểu cua bò mỗi khi tôi thích. Lần này thì phải rước tôi đi sau con rắn đã chết. Qua cổng quận ở ngã tư gặp cả lính Tây lính Ta đều khen giỏi và can đảm. Nhiều bao thuốc lá được dúi vào tay vào túi áo chúng tôi. Riêng tôi kêu khát nước. Một anh lính Commando qua bên kia đường lấy cho một chai bia. Còn anh lính Bảo Chính Đoàn thì bảo:

–Chiều mai các em ra đây. Anh sẽ cho cái xe tay để kéo nhau đi, đỡ phải làm kiệu bằng cánh tay cho mệt.

* * *

Ghế tôi ngồi kê cao hơn ghế bốn người bạn. Tôi sung sướng lắm vì được làm "Thủ lãnh Đại vương", có người hầu kẻ hạ tối đa, kể cả việc nói xuôi nói ngược mọi người không được ý kiến ý ong như "hội nghị" đã hứa.

Con rắn được khiêng về đó, tôi cứ tưởng để "triển lãm" cho vui thôi. Ai ngờ nó được lột da, băm nhỏ trộn với gia vị rồi chiên giòn như cái bánh cam. Tôi là "Thủ Lãnh Đại Vương" nên tụi "lâu la" phải "dâng" cho tôi miếng đầu tiên theo sự sắp đặt của Khánh. Tôi ăn ngon lành, không hề nghĩ đến đỉa đến lươn.

Bằng câu hỏi để "Ban lời khen" cho đầu bếp:

–Thằng nào mà giỏi thế?

–Thằng này đây, cậu đây!

–Ồ, cậu, sao hôm nay cậu về sớm thế? Sao cậu tốt với chúng cháu thế? Mời cậu ngồi đây và nếm thử "chiến công" của cháu.

–Thủ lãnh Đại Vương thì phải ngồi ghế thứ nhất. Cậu là khách thì ngồi ghế khách. Ăn thịt rắn phải có rượu mới thú. Này uống đi!

–Cám ơn cậu.

*

Tôi nhận ly rượu lớn, mặt ngước cao hiu hiu tự đắc, tự thấy mình Cái Thế, không cả thèm nhìn ông cậu của Khánh đã làm thịt rắn lại còn mời rượu nữa. Tôi ực một cái hết ngay. Thịt rắn chiên nóng, tiêu ớt cay sè vẫn chưa cay chưa nóng bằng ly rượu tôi đã uống. Mồ hôi toát ra như tắm. Tôi cởi áo ngoài áo trong chạy ra đường cho thoáng. Trăng rằm tháng Một sáng long lanh. Gió Đông Bắc từng trận ào ào thổi qua làm tung bay tất cả cái gì dưới mặt đất có thể bay được cũng cùng cát bụi tung lên trời.

Cái lạnh "đại hàn chi cực" năm đó như mấy người lớn vẫn ca cẩm làm tôi bị nóng lạnh. Nhân đó nghỉ cả tháng. Ăn Tết xong còn ngao du chán chê, sau Rằm tháng Giêng tôi mới tới trường.

Khi tôi ốm, các bạn đến thăm, có đứa mắt la mày lét, nhìn cả bốn phương tám hướng xem có con rắn nào quanh quất hay không rồi mới dám chạm vào người tôi.

Cái sợ của chúng nó lâu dần lây cả sang tôi. Tôi sợ lắm, biết đâu con rắn ấy là Thị Lộ? Tôi cứ nhìn lên mái nhà, chỉ thấy mọt tre lả tả rơi. Chưa thấy con rắn nào xuất hiện.

Nhà tôi cũng bị Tiêu Thổ Kháng Chiến. Mẹ con tôi hồi cư sau. Người trong ấp hè nhau đẵn tre ngoài vườn và bòn mót rơm rạ còn vương vãi chưa bị đốt cháy dựng ngay ba gian nhà trong vòng một ngày kể cả trát vách bằng đất bùn trộn rơm. Cột kèo... còn xanh ngăn ngắt, cả mấy tháng mới xuống màu nên mọt cứ lững thững rơi, cứ tung bay theo gió.

Các bạn tôi lo lắng cho tôi thì ít mà đến xem tôi đã bị "báo oán" chưa thì nhiều. Có đứa bảo còn nghe người ta nói con rắn tôi đánh chết đó chính là "Ngựa" của vị Thần Miếu thường cưỡi đi chơi mỗi đêm dưới dạng biến hình Mãng Sà Vương thu nhỏ ở trên lưng "ngựa".

Chuyện cứ được thêu qua dệt lại. Tôi càng sợ nên đi đâu cũng vung vẩy một cái roi và ít khi dám đi một mình lúc trời tối. Đã chót làm anh hùng rồi nên tôi cứ phải gồng lên là không sợ và tìm lời biện giải để tự trấn an là chính. Tôi nói với các bạn:

–Con rắn tao đánh chết, nó có báo oán là báo oán tao. Đâu có mắc mớ gì đến tụi mày mà sợ. Toàn là đồ già dái non hột Thối quá!

–Nhưng chúng tao cũng "mưu din" với mày để đánh nó và cũng ăn thịt nó. Không sợ sao được.

–Sợ gì! Nó có chạy thoát đâu. Nó có bị chặt đuôi như Thị Lộ mà học trò cụ Nguyễn Trãi dọn đất làm trường đánh hụt và giết hết rắn con đâu mà Báo với chẳng oán.

–Nhưng nếu nó là ngựa của Thần.

–Đã là Thần thì thiếu gì ngựa. Đã là Thần ai lại hẹp lượng, lại ti tiện, chỉ vì một con ngựa mà hại người ta. Chúng bay đã nghe thầy Kỹ kể chyện "Ơn thịt ngựa, Oán canh dê" mà quên rồi à? Mở Đông Châu Liệt quốc ra đọc lại đi. Đến ông Vua một nước nhỏ ở bên Tàu xưa còn không hại những người ăn thịt ngựa của mình. Nhà vua còn "ban" rượu cho uống, không thì e họ sẽ đau bụng vì thịt ngựa cơ mà.

*

Những ngày nghỉ dài dài của tôi ở ấp, được tận mắt chứng kiến cảnh ban ngày lính Tây lính Ta đi càn quét về qua cầu Đạm Thủy bắn người xong hất xuống sông. Có khi từ đồn cao còn chở xuống cả một, hai thùng gỗ lớn những người Việt Minh còn sống rồi khiêng lên thành cầu vất ùm xuống sông, xả súng bắn xuống như mưa. Đêm đến Việt Minh lại mang những người bảo là Việt Gian ra cầu chặt cổ hay đâm chết nhưng không vất bỏ xuống sông.

Chuyện tôi kể có nhiều đứa không tin. Nhao nhao chỉ trỏ vào mấy món lươn, nói lời biếm nhẽ, chọc quê:

–Thằng này phịa cứ như thật. Chuyện tàn ác, thương tâm như vậy mà mày thản nhiên kể ra gây xúc động cho người khác mà mặt mày không đổi sắc, thế là phịa. Nếu là chuyện có thật, thì mày còn rét gấp vạn lần lúc đánh rắn. Cu cậu co vòi sợ mất mật làm sao còn nghe "ùm" còn thấy thùng rồi lại bảo là có người còn sống. Đại phịa!

–Chuyện thật 100% đấy. Ai thèm phịa. Mười mấy năm nay, mỗi khi nghĩ tới tao lại ứa nước mắt ra. Lâu rồi, nhiều rồi nên bây giờ nước mắt tao chảy ngược vào trong, càng đau đớn hơn. Làm sao tao nghe ư? Làm sao tao nhìn ư? Ấp nhà tao chỉ cách cầu Đạm Thủy có 6, 7 trăm thước đường chim bay. Còn từ ngã tư Đông Triều đến cầu Đạm Thủy đúng 2 km đường thẳng.

–Nhưng làm sao mày biết Tây đóng thùng người sống? Làm sao biết người tử nạn là Việt Minh hay là Việt gian?

–Biết rõ ấy chứ. Có lần Tây xả súng bắn xuống trúng thùng, bung dây hoặc va chạm vào đá vì nước xuống cạn, những người còn chút sức khỏe đã bơi vào bờ, nhờ đêm tối lần vào các nhà hai bên bờ sông nhờ cứu giúp. Vào cả nhà tao nói cho biết. Còn phân biệt Việt Minh hay Việt gian càng dễ hơn.

–Dễ là thế nào?

–Những gia đình có người là Việt Minh thì chờ, ba ngày sau ở đầu dòng phía Đông Khê, Đông An hay cuối dòng phía Vị Thủy, Đạm Thủy, An Biên, Bình Lục hạ... là thấy thân nhân họ tới nhận xác ngay.

–Còn Việt gian?

–Thì cứ thấy xe nhà binh Tây có chở lố nhố đàn bà trẻ con cùng với sơ mi gỗ xuống đến cầu là biết ngay.

–Rõ khổ cho quê hương mày! Thế rồi mày nghỉ học luôn à?

–Bà cụ lại bắt tao "đi học". Anh cả tao cho người về đón vào rừng rồi cho lên Việt Bắc gì đó nhưng mẹ tao không cho đi. Lại bắt về trường cũ làm học trò.

–Sau đó thì sao?

–Tây đóng Đồn ở cầu Đạm Thủy. Lớn bé đều phải đi phu làm đồn. Tao cũng phải đi vác tre, khiêng gạch cát... Vì gặp Tây say không thèm nghe, không thèm biết tao là Élève École Đông Triều. Hàng đêm, hai bên bắn nhau suốt. Chí ít, Việt Minh cũng "tắc cù" vài phát cho Tây mất ngủ, còn Tây cũng gởi đi vài phát canon vingt quấy rối vào chỗ nghi ngờ có ẩn lấp.

–Thế sao bà cụ không bỏ ấp lên làng Trạo Hà hay ra phố. Ở đấy nguy hiểm quá.

–Nguy cũng phải ở. Đi là đói cả đám ngay. Bà cụ phải bám lấy vườn ruộng để trồng cấy mới có để cho cả trong ngoài. Nhất là anh cả tao ở rừng.

*

Những ngày Xuân ngày Tết thiếu vắng cả tiếng cười, tiếng pháo mà thay bằng tiếng khóc nức, uất nghẹn vì sinh ly tử biệt khắp mọi nhà, những tiếng súng lớn nhỏ vẫn ì ùng chát chúa bên tai.

Tôi đến trường vẫn với tư thế một Thủ Lãnh Đại Vương, tự thấy mình lớn hẳn lên. Nói năng đi đứng ra dáng vẻ. Các bạn tôi mừng lắm, chúng nó tổ chức ngay một buổi tối tiếp rước linh đình. Tôi không ngồi kiệu bằng tay như trẻ con nữa mà ngồi trên xe kéo. Cái xe tay anh lính Bảo Chính Đoàn cho năm ngoái vẫn lăn lóc ở góc hầm đã gãy gọng gẫy càng. Chỉ còn cái thùng xe để hai cái gối bông lên ngồi rất êm, hai bánh cao su đặc còn lăn được.

Hợp bắt kê ghế. Cho tôi ngồi ở cửa hầm, để các "lâu la" quét dọn. Cầu thì loay hoay với cái xe tay, Khánh tất bật với khói lửa nấu nướng, Tưởng xách một bị bia và nước ngọt về, đại tiệc được mở ra.

Sau màn tráng miệng có cà phê thuốc lá, bánh kẹo của đồ hộp lính Tây là màn cùng ra đường hò hét. Tôi ngồi lên xe tay được Cầu buộc dây quàng qua vai kéo đi một quãng làm nháp cho "lâu la", hai bên là Tưởng và Khánh. Đi sau xe là Hợp.

Đoạn đường từ Quán Tây đến ngã tư khoảng 1km vẫn là "Đường Riêng" của bọn tôi hàng đêm trăng sáng. Năm ấy, trăng cuối thượng nguyên sáng lung linh. Trăng càng sáng trời càng lạnh. Hai bên đường phố vẫn cửa đóng then cài, có nhà vẫn bập bùng ánh lửa củi để xua đi cái giá rét của mùa Đông chưa chịu lui gót.

Cái xe tay ngoài tôi ra là bốn người bạn rồi đến các Đầu Lĩnh, Đầu Mục và Lâu La đều được thay nhau ngồi. Nhưng theo "lệnh" của Tưởng và Hợp; phải có phân biệt là kích thước và màu cờ cắm trên xe.

–Thế người lớn và các quan Tây, Ta cứ để yên cho "các cậu" phá làng phá xóm như thế mà không cấm cản gì à?

–Không! Người nhà chỉ cấm hút thuốc lá và đánh lộn với Tây say thôi. Còn Quan Quận Ngôn và Quan tư De Labèrie (?), Đồn trưởng có khi đi qua còn đứng lại nhìn, gật đầu cười khuyến khích nữa là khác. Nhiều khi chia phe đập lộn cho vui mà gặp lính đi tuần đi phục họ còn chỉ cách cho đánh thắng nhau nữa cơ. Những lần như thế có thằng "ốm đòn" vì sứt đầu mẻ trán phải nghỉ học rồi khai là bị ngã.

–Vui nhỉ! Nhưng chơi mãi cái trò ấy mà không biết chán à?

–Có chứ! mỗi đêm thường diễn lại hai ba chương, hồi Thủy Hử rồi cũng hết. Mỗi khi các Lâu La về "bẩm báo" có Tham Quan Ô lại ở bờ bụi, ở ruộng ở hang. Tất cả phải xuống núi để Thế Thiên Hành Đạo. Một cu cậu Lâu La muốn làm Thủ Lãnh sớm đã thò tay vào hang kéo cổ tên Tham Quan ra xử tội thì bị nó đớp vào mu bàn tay. Cũng may có toán lính Tây đi qua, buộc chặt ngay cổ tay và sai một người vác cu cậu lên Đồn cao chữa chạy.

–Thế anh cu ấy sống hay tịch?

–Sống, tên Tham Quan đó không có nọc độc. Y tá trên đồn lấy hết răng, nặn máu, khử trùng, bôi thuốc, băng lại, chích thuốc cho xong là người nhà cõng về.

–Thế các cậu còn dám Thế Thiên Hành Đạo nữa không?

–Có dám cũng chẳng được. Sau vụ rắn cắn thằng ấy, chuyện đồn ầm cả Quận qua cái chợ Cột. Tất cả đang phân vai diễn các Hồi trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí do anh Nhiên mới mua về cho đọc. Khó nhất là vai Tuyên phi Đặng Thị Huệ thì Hợp thủ rất khéo. Chỉ còn vai Đặng Mậu Lân thì đến cả Lâu La cũng không có tên nào thèm. Chưa "chơi" được lần nào thì tai họa ập xuống.

Nhưng thôi, chuyện còn dài. Chuyện ẩm ương ngày bé của mấy thằng nhà quê như mình, bắt mọi người nghe nhàm quá.

–Ai bảo nhàm? Hay quá ấy chứ! Kể tiếp cho anh em nghe. Hôm nay có dịp mới tụ tập gần đủ anh em. Mai kia lại mỗi thằng một ngả...

–Đúng rồi! Bây giờ nghe tâm sự mới biết cậu là thằng nhà quê lắm chuyện. Năm kia, lúc liên hoan nghỉ hè cậu đọc bài thơ gì có câu cuối là "sầu thương ngát sầu". Nghe buồn thấy mẹ. Đọc lại cho mấy anh bạn mới nghe chơi.

–Thi phú ngày bé ở nhà quê Đông Triều chợ Cột là thơ con cóc. Đây có phải là trường học đâu, mà còn có người lớn nữa...

–Sau trường học là trường đời. Không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Nhưng có những sự kiện lại xảy ra y trang đấy. Đọc lại mấy câu thơ ấy đi.

–Thì đọc:

Hôm nay buổi học cuối cùng

Bâng khuâng tấc dạ, ngại ngùng chia tay

Buồn như cảnh cũng buồn thay

Lớp ngơ ngác lớp, trường ngây ngất trường

Kẻ về thăm thú gia hương

Người đi muôn dặm sầu thương ngát sầu

Một tràng pháo tay nổ giòn để khuyến khích cùng với lời yêu cầu. Tôi lại tiếp tục kể về quãng thời gian khổ ải của mình:

–Sau cái vụ rắn cắn không chết ấy. Các gia đình bắt con em phải về nhà ngủ. Cái hầm nổi gần quán Tây bị phá bỏ. Ông Lý Nhiên ra thông báo nhà nào "mất" nồi niêu soong chảo, hũ vại, chai lọ, ly tách, bát đũa... thì ra mà nhận về. Ông còn tìm thấy cả thúng đạn và mấy trái lựu đạn cùng mấy cái áo dài, quần con gái.

–Mấy thằng ôn con làm sao đã có cái của nợ ấy.

–Tên Khánh mượn vắng mặt của em gái nó và cả em bé Lan học Lớp Tư do ta rèn cặp cũng mượn kiểu trên của chị nó cho Hợp làm Đặng Thị Huệ.

–Năm thằng đều bị đòn đau. Riêng mình bị đau nhất của ông anh họ là thầy giáo Kỹ. Một buổi sáng thứ năm, tan học, "thầy Kỹ" sai mang một chồng sách vở về nhà cho "thầy". Thầy còn dặn ở nhà chờ thầy. Tôi linh cảm thấy có chuyện không hay cho mình nhưng chẳng dám không tuân. Đến bữa, ngồi ăn cơm như bình thường, như mọi khi. Trong họ nội nhà tôi, bất cứ lớn bé, đến nhà ai gặp bữa là ăn tự nhiên. Chỉ có ngôi thứ là tuyệt đối phân biệt. Ở nhà, tôi là em nên ngồi ngang hàng với "thầy", có người so đũa và tăm nước khi ăn xong. Ăn xong là ngủ.

Ngủ dậy thấy nhà cửa vắng tanh. Tôi đang định ôm sách vở về thì thấy anh đang thắp hương cắm lên bàn thờ, vái xong lấy cái roi mây xuống. Quát hỏi: Ăn rắn ngon không?

–Thưa anh ngon ạ! Nhưng chuyện ấy đã lâu lắm rồi mà. Tôi vừa trả lời vừa quay mình định chạy trốn. Cái roi mây đã dài và tay chân "thầy" lại dài nữa. Chung quanh chẳng có ai để cầu cứu. Đành phải nằm sấp xuống thôi. Câu hỏi được lập lại.

–Ăn thịt rắn ngon không em? Anh phải đánh mày vì tội đã là học trò rồi mà còn ngu dại. Mày đần độn như trẻ chăn trâu nên bị chúng nó xúi dục. Người lớn cả phố còn không ai dám đụng tới đôi rắn độc đó. Ai khiến mày làm anh hùng, cũng may nó chưa cắn chết mày. Cứ mỗi câu nói là vài roi vào lưng vào mông. Tôi đổ quặu, cãi:

–Tôi có là học trò anh đâu mà anh đánh tôi.

–A! thằng này láo. Tao có bổn phận đánh mày vì mày là em tao nghe chửa. Tao đã tha không đánh mày tại trường. Ngay tại nhà này, tao cũng đuổi các cháu đi rồi mới hỏi tội mày để mày khỏi nhục. Mày còn ngang bướng thì phải cho mày què luôn để khỏi nghịch ngu nghịch dại...

–Anh bảo trẻ trâu ngu đần cả sao? Khi anh kể chuyện Đinh Bộ Lĩnh hay thế. Anh còn kể chuyện bên Tàu có ông Nịnh Thích chăn trâu rồi làm Tể Tướng. Chuyện bên ta thì ông Đào Duy Từ cũng chăn trâu rồi làm thầy cả bậc Đế Vương. Chuyện...

Chuyện gì nữa? Nói hết nghe coi! Lắm lý sự nhỉ?

Mỗi chấm câu như sư cụ tụng kinh, dứt câu bằng tiếng chuông là vun vút roi đập xuống chỗ tôi nằm. Nhưng phần lớn là xuống mặt "cách xếp".

–Thì chuyện Lưu Bang đánh con rắn trắng về sau làm Hán Cao Tổ. Anh kể và tôi đọc sách vẫn nhớ i sì mà.

–A! Thằng này vừa hỗn hào vừa láo xược. Mày đã ngu dốt, học hành chưa đâu vào đâu, chưa ra khỏi cái đất Đông Triều này mà dám so sánh với các bậc Vĩ Nhân Anh Kiệt. Phải đánh cho mày chừa cái thói ngông nghênh và nếu có chết thì đem chôn luôn.

–Phải! Họ nhà mình từ mười mấy hai chục năm nay chết tù chết tội, chết bom chết đạn gần hết rồi. Nhưng chưa đến nỗi anh em phải băm vằm nhau. Anh có giỏi thì đánh chết ngay nó đi, trước mắt tôi đây này.

–Ô! Cô Thừa, thưa cô sang chơi. Cô không lên tiếng làm con không biết. Mời cô ngồi chơi xơi nước.

–À, cái anh này gớm nhỉ! Bố anh còn là chân Khóa Sinh ăn lương Vua đi học rồi ngồi "bảo học" cũng chưa bao giờ bắt tôi phải bẩm báo từ cổng mới được bước vào sân. Anh mới ti toe dẵm được mấy bãi cứt Tây. Anh hoạnh họe bắt lỗi tôi đấy à?

–Xin cô bớt giận, mời cô xơi nước.

–Tôi đâu dám giận anh. Anh cứ việc tra tấn nó theo kiểu Mật Thám ở Săng Tan (Central). Tôi đợi mang nó về chôn cho khỏi mất xác.

–Thưa cô! Cô dạy quá lời. Nó nghịch tinh nghịch quái cái gì con cũng có thể bỏ qua được. Nhưng lần này nó bỡn cợt cả với rắn độc. Con phải đánh cho nó chừa. Để sau này lỡ xảy ra chuyện gì làm sao con dám nhìn mặt các cụ và họ hàng.

–Vâng! Tôi biết anh tốt lắm. Nếu anh chưa hết giận muốn đánh chết người mới hả được thì anh đánh tôi đây này. Tôi xin chết thay cho nó. Tôi già rồi, sống mãi với đớn đau làm gì!

–Giời ơi! cô có biết rằng từ làng trên xóm dưới, ai cũng biết nó là em cháu nhà mình. Hơi một tí là người ta đến mách với con. Người ta tử tế mới bảo cho biết và họ còn nói: "Ông giáo răn dạy cậu ấy đi, không có thì chết sớm đấy". Họ còn trách nữa.

–Anh lạ gì miệng người nọc rắn. Rắn cũng không độc bằng người đâu. Những người đang lên voi thì nhiều chuyện lắm. Mà, những người ta đó mách anh chuyện gì? trách anh làm sao?

–Họ bảo nó xúi con người ta đi móc hang rắn. Nó còn rủ con người ta đi theo tụi đít biệt oong bu tây (dix piastre un bouteille = 10 đồng một chai "bia").Chờ Tây uống say, chúng nó vờ vịt lại tán chuyện rồi thừa cơ lấy đạn, lựu đạn. Có khi Tây say đuổi đánh chúng nó, chúng nó cũng đuổi đánh Tây say. Nhiều lần lính Ta phải can thiệp mới xong. Hôm nay ông Quận Ngôn có mời con lên nói đủ chuyện rồi nhắc cả đến tên nó con mới sợ.

–À, thế ra anh sợ Quan Quận nên anh về anh đánh em anh. Nó làm sao khôn được bằng con nhà buôn lường thưng tráo đấu ở cái phố Đông Triều Chợ Cột này. Bằng chứng đâu?

–Có bằng chứng đấy ạ. Ông Lý Nhiên cho con hay, tụi chúng nó đưa những thứ lấy được của Tây mang về cất giấu trong hầm, đợi những người ở Đầu Voi Khe Chè Yên Sinh ra thì cho để được khen là tiểu anh hùng. Ông Lý Nhiên còn cho con biết thêm là đã cấm cậu em vợ không được cứ đợi những đêm sáng trăng trẻ con rồng rắn kéo ra đường chơi, diễn đủ thứ tuồng tích, chia phe đánh trận giả là cậu ta từ xóm Vãng lần qua xóm Chợ đến hầm thì thèo với tụi trẻ con.

–Sao họ lớn rồi mà lại xúi trẻ bốc cứt gà sáp? Có giỏi thì đêm tối mò về mà bắn mà giết Tây lại đợi đêm trăng...

–Đêm trăng sáng thì Đồn cao không bắn xuống. Lính Com – măng–đô (commando) ở Đoàn Xá không đi phục kích. Trẻ con biết và nói với họ như vậy nên mới ra sự thể. Những đêm trăng sáng, mấy anh lính Bảo Chích Đoàn ở trên Quận còn xuống ngã tư chơi đùa với tụi nó nữa cơ. Có khi dạy cả tụi nó cách bắn súng, ném lựu đạn rồi cười.

–Đúng là tai hại. Thằng nào cũng vỗ ngực là Việt Ngay mà hóa ra Việt gian chó chết cả đám. Cái anh Lý Nhiên, hội tề hai mang. "Bà" phải cho vợ chồng nó một trận nên thân mới được. hầm với chẳng hố.

–Con van cô! Ông ấy là bạn con. Ông ấy vì lòng tốt với bọn trẻ, trong đó có cả con cháu ông ấy nữa. Ông ấy làm cái hầm vì sợ bọn trẻ không an toàn trong đêm tối trong thời buổi nhố nhăng này. Cô cứ để con liệu.

–Ừ, anh liệu đi! Cái liệu của anh là đánh là đập cho già đòn non nhẽ chứ gì. Nó bị lũ trẻ con Nhà Buôn ở Chợ Cột xúi bẩy, lợi dụng anh không thèm biết. Kiểu của anh thì nó không chết vì bom vì đạn của Việt Minh hay của Tây thì sống cũng bất thành nhân dạng.

–Giời ơi! Con lạy cô. Cô đừng làm ầm lên thì nguy hiểm lắm. Mới chỉ có ông Lý Nhiên và con biết chuyện chúng nó lấy đạn của Tây cho Việt Minh. Bây giờ Tây mà biết thì có nhiều người bị bắn, bị tù. Mình là Hội Tề Hai Mang. Nếu ấm ớ bị Tây nghi cũng chết. Việt Minh ngờ cũng tiêu.

–Tiên nhân nhà anh, già cái đầu mà khôn nhà dại chợ. Cả mấy cái thằng bắng nhắng bây giờ nữa, thì thà thì thụt lên Đồn xuống Quận. Thử hỏi ông cha chúng nó không có nhà mình bảo dưỡng từ thời "Minh Mệnh Sát Gia Tô" đã tuyệt nòi mất giống từ đời tám hoánh nào rồi.

Mãi sau này tôi mới hiểu Cô ám chỉ ai.

*

Tôi thấy cô Thừa Cạnh đến, có cứu tinh rồi nên khóc òa lên. Coi như bị hiếp đáp quá lẽ. Cứ nghĩ rằng món thịt rắn hôm ấy không mời người lớn "xơi" nên quý vị ấy tức mà lời ra tiếng vào cho mình bị đòn. Nhưng nằm nghe cuộc đối thoại giữa cô Thừa và anh Kỹ mới thấy mình ngu dại. Tôi thấy cô tôi khóc, còn anh cũng ứa nước mắt ra.

Trời chạng vạng, nói theo giọng Bắc kỳ là sâm sẩm tối. Chị Nắm, con bác Ba đến cõng tôi về nhà chị tắm rửa, bóp muối những chỗ bầm tím ở lưng ở mông ở đùi. Tôi kêu to vì chị bóp quá mạnh. Chị mắng.

–Im mồm! Có gan ăn cắp phải có gan chịu đòn. Thế mà đòi làm anh hùng. Mày còn rống lên như bò. Chị bóp mạnh hơn đấy.

Tôi đành phải cắn răng chịu đựng. Bác Ba tôi tay ẵm cháu Khiển, tay bưng bát cháo thịt có nhiều hành bốc khói vào nói.

–Thôi! Bóp thế là được rồi. Cho em nó ăn đi.

Tôi được đỡ dậy ngồi nghiêng nghiêng ăn cháo. vừa ăn tôi vừa năn nỉ, xin:

–Bác và chị đừng nói cho mẹ cháu biết.

–Được!

Đó là tiếng chị Nắm, còn bác tôi cười không nói gì.

*

Thông thường, hàng ngày nếu không mưa gió bão bùng, tối thiểu tôi phải về nhà ăn cơm một lần, tắm rửa thay quần áo. Lần này cả tuần lễ tôi không về. Thế mà vẫn có quần áo thay, vẫn có những món ăn như mẹ tôi thường làm ở nhà.

Năm thằng chúng tôi đều không "bị" đi học nữa. Gần như ngày nào cũng gặp nhau nhưng ít khi đầy đủ ở hàng bún chả bà Xã Giảng hay hàng phở ông Xã Hiếu. Hai nơi này mẹ tôi gởi tiền trước cho tôi qua bữa nếu vì cớ gì không về nhà được mà cũng không muốn đến phiền ai.

Tôi không đi học nhưng ngày nào cũng lên chợ Cột một tí rồi về. Đi nhờ xe Công Binh Tây chở đá tu sửa đường 18. Sáng nào tôi cũng trả lời câu hỏi: Où allez vous ? là: Je vais à l’école.

Mấy tháng sống buồn nản như vậy. Càng buồn hơn khi Hợp và Tưởng vào Trường ở trong rừng sâu lắm, xa lắm để học. Khánh phải đứng bán hàng ở cửa hiệu Tạp Hóa của anh Nhiên thay "con Nương" em gái nó. Cầu phải giúp mẹ hàng ngày vác quần áo vải vóc ra chợ bán. Có khi buổi chiều phải đi bán ở các làng.

Một mình tôi thui thủi, nghĩ càng tức ông anh họ thầy giáo. Bố tôi còn sống cũng chưa hề đánh tôi một roi. Hai anh tôi lại càng không. Vì tôi là con út. Đặc biệt là con cầu tự(!) của mẹ già tôi ở Chùa Hương Tích. Con Trời con Phật mà bị đập như thú nên "đau lắm"!

–Sao? Đã là con út mà lại là con Mẹ Già. Con bà cụ Chính thất. Loạn ngôn!

–Đừng làm cậu ấy mất hứng. Cậu đóng cái mồm lại để được nghe chi tiết lạ này. Chưa chi đã phán người ta loạn ngôn.

–Mẹ già tôi vô sinh. Năm nào bà cụ cũng đi lễ Chùa lễ Đền, hết Yên Tử, Yên Phụ đến Kiếp Bạc, Quỳnh Lâm rồi ra cả Hương Tích, Phủ Dầy van vái cầu xin một thằng cu. Một lần ở Chùa Hương mẹ già tôi âu yếm ôm một cục đá xấu xí nhất rủ: "Cậu về với chị". Trong dịp ấy mẹ tôi ở nhà nằm mơ thấy một cu tí a vào lòng, đuổi cũng không chịu đi. Hai mẹ tôi "khớp chuyện" lại với nhau. Mẹ già tôi bảo tôi là con cầu tự của bà. Chỉ mượn mẹ tôi chứa hộ 9 tháng 10 ngày thôi. Nghe kể lại, sau ngày đầy tháng mẹ già tôi ẵm tôi ra chùa Hương để tạ ơn Trời Phật. Ngày "đầy tuổi tôi" mẹ già tôi phán: "Cậu" là con Trời con Phật. Ở nhà tất cả phải gọi là "cậu". Cậu sẽ gọi chúng ta là anh là chị thôi chứ không gọi là Bố Mẹ. Bố tôi không chịu. Ông cụ bảo: "thế thì đem nó đến suối Giải Oan hay Động Tuyết Quynh trả lại Trời Phật. Còn nó ở nhà này thì nó phải là con là em. Không ai được cãi lời. Đừng biến nó thành cậu ấm chứ".

–Rồi cậu con Trời con Phật ở nhà chơi miết, không đi học nữa à?

–Mọi người cười ồ. Không hiểu là cười vì lời giải thích của tôi hay cười vì câu hỏi bỡn cợt của người bạn. Tôi vẫn trả lời:

–Đi học! Nhưng học "trường" khác. Cũng năm 1951 ấy, Ty Học Chính Hải Dương có phái một thầy giáo dạy lớp nhất về Đông Triều. Trường "đóng" ở nhà Hàn Đính, tòa nhà lớn nhất phố Đông Triều, đối diện với nhà Bưu Điện và kế cận Quận đường. Thầy giáo này người gốc Hà Nội lại lấy vợ người làng An Biên, gọi chị dâu cả tôi là cô, nên thầy luôn luôn gọi tôi là chú xưng cháu. Đó là thầy Hồ Quang Bình.

–Chú với cháu! như thế còn học hành cái củ cải gì được. Lại "bị" đi học như thế bao lâu?

–Cả niên khóa. Còn học giỏi nữa kìa. Cuối năm lãnh phần thưởng của Vua Bảo Đại. Có cái cặp, cuốn Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tín Đức, cuốn Tâm Hồn Cao Thượng do thầy Hà Mai Anh dịch... và giấy bút nữa.

–Ghê nhỉ! Có nói dóc không đấy?

–Ai thèm nói dóc. Các thứ mất hết, hư hết nhưng Vietnam Tự Điển vẫn còn đến bấy giờ.

–Sợ thầy giáo "cháu" tranh phần cho học trò "chú". Chứ trông cậu dù là "con Trời con Phật, con cầu tự" vẫn thấy cậu ngây ngô có tí đĩnh ngộ nào đâu mà ba hoa xích thố. Nói thật đi nào!

–Nói thật đấy! Ở "trường" chỉ có ba thằng học giỏi, là xứng đáng ngồi ở lớp nhất. Cu Thắp chuyên môn đứng thứ ba nhờ chuyên cần. Cu Tín giỏi Toán nhưng viết chính tả có khi còn mắc lỗi. Nên nhất, nhì lớp là mình và tên Tín. Tín lãnh phần thưởng thứ nhì của thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, Thắp phần thưởng thứ ba của tỉnh trưởng Đinh Bá Hoàn, phần thưởng thứ tư của quận trưởng Nguyễn Văn Ngôn trao cho cô học trò duy nhất của lớp tên Lãm lớn hơn mình 4, 5 tuổi. Khi làm bài học bài thi, ba thằng tranh nhau từ nửa điểm một. Làm gì có sự faveux.

–Sao bảo học lớp nhất rồi, đấy là lần học lại mà vẫn bết thế à.

–Học trong khi tản cư. Học anh học chị ở nhà chứ có trường đâu mà học. Vì thế nên khập khiễng mới phải cố gắng.

–Phần thưởng cho học trò mà không thấy có của Bộ giáo dục và Ty học chính. Thế thì các cậu học chương trình lèo à?

–Chính thầy Hồ Quang Bình và thầy Cường dạy lớp nhì cũng ngạc nhiên hỏi: "Sao lại không có phần thưởng cho học trò mình của Tổng Trưởng và Trưởng ty".

–Không có kỷ niệm nào đáng nhớ ở trường học đó à?

–Có chứ! Có tới hai kỷ niệm. Trung thu, tất cả học trò mỗi đứa đều tự làm đèn để Rằm Tháng Tám đi rước có chấm điểm. Cầu làm cho cái khung đèn ông sao đường kính 1m20. Khánh lấy giấy bóng mờ bóng tỏ "trang trí" bảy sắc cầu vồng có bóng đèn lớn nhỏ nhấp nháy ở vòng tròn có năm cánh sao nội tiếp, có cả 10 cục pin chia đều cho mỗi cánh sao và vòng tròn cùng 4 nút bấm. Đèn làm xong nặng quá. Một mình tôi "vác" đi không nổi, cầm trên tay cũng không xong. Anh Nhiên phải làm hộ ba cái chân và hai cái khoen ở hai cánh nằm ngang do hai đứa khiêng đi. Đoàn rước khởi đi từ Quán Tây qua cổng Quận, đến dốc Đoàn Xá quay lại. Đèn của tôi được cả Tây, Ta chấm nhất ở ngã tư. Chẳng nhớ phần thưởng gồm có những gì nhưng có tiền để ba đứa ăn phở xào hàng xã Hiếu mấy lần mới hết. Mua quà gởi cho Hợp và Tưởng. Trả tiền giấy bóng, bóng đèn và pin, anh Nhiên không lấy. Lại đợi lúc Cầu không phải vác hàng đi chợ xa để ăn uống với nhau. Trường được giấy khen vì tôi.

–Kỷ niệm thứ hai thế nào?

Là tất cả trẻ con dù không đi học cũng làm nền đón thủ tướng Nguyễn Văn Tâm và đại tướng De Lattre de Tassigny xuống bằng máy bay "bà già" ở cánh đồng làng Đoàn Xá rồi đi đường bộ thăm Đông Triều Mạo Khê. Tại khu đất bằng ở cổng Huyện đường cũ, tôi hô nghiêm, nghỉ, nghỉ nghiêm đón Thủ Tướng trước khi Tây thổi kèn chào cờ. Thủ Tướng đi một vòng, trước tiên đến xoa đầu tôi rồi nói: "Con ráng học giỏi để mai mốt lớn làm Thủ Tướng như Qua". Đại tướng De Lallatre đi sau chỉ có bắt tay thôi, ông ấy nói một tràng tiếng Tây, tôi chẳng hiểu gì cả. Ngay câu Thủ Tướng Tâm nói tôi nghe và nhớ. Đến khi vào trong này tôi mới hiểu chữ Qua có nghĩa rộng của bậc trên phán. Thủ Tướng cho tôi 20 đồng Đông Dương, tôi quý lắm không tiêu. Tôi mang về gởi mẹ già. Bà cụ cất kỹ kỷ niệm ấy cho tôi. Nhưng cho tôi tiền khác để đãi bạn. Bây giờ Bắc Nam chia cắt, tôi chắc mẹ tôi vẫn giữ tờ giấy bạc ấy.

–Ngày ấy cậu có biết hai ông ấy đến cái đất "khỉ ho cò gáy cáy ru con" quê cậu làm gì không?

–Sau này vào trong này đọc sách báo mới biết là Quân Viễn Chinh Pháp phá chiến dịch Đông Xuân của Việt Minh nên mở mặt trận Mạo Khê, giải tỏa áp lực đánh về đồng bằng, bằng cách lập tuyến phòng thủ dọc đường 18. Còn lúc bấy giờ chỉ thấy lính Tây đen Tây trắng, Tây nhờ nhờ có gạch mặt thành sẹo đối xứng, có quấn khăn gọi là Tây quấn thừng. Người lớn gọi là lính Bắc Phi, lính Lê Dương. Có những ngày lính Tây về đóng kín cả núi đồi và các nơi đất trống. Nhà nào bỏ không hay rộng rãi thì Tây vào đóng. Đàn bà con gái từ 13, 14 đến 40, 50 tuổi ai nhanh chân thì chạy vào rừng, ai có hoàn cảnh thì lên Phố Huyện. Làng xã nào cũng có Tây "ở nhờ". Riêng phố Đông Triều Chợ Cột, Trạo Hà Yên Lâm Đoàn Xá Mễ Xá... Tây đông gấp 20, 30 lần dân Việt Nam. Chỉ có ba nơi ở chợ Cột Tây không đóng quân là hai nơi gọi là trường học, chợ và nhà thờ Đông Triều.

–Trong hoàn cảnh ấy, dân chúng sống ra sao? Lấy gì mà ăn?

–Người đi vào rừng thì đã đi rồi. Người ở lại vẫn công nào việc nấy. Dân buôn chợ Cột vớ bở, thịt cá rau tươi gà vịt, đắt "như tôm tươi" ở chợ. Cửa hàng ăn uống, cửa hàng bán nước thì khỏi nói. Đến những loại cá lớn ở sông, dân Đông Triều đang sợ vì mổ cá ra thấy cả lóng ngón tay, mắt người chưa tiêu hóa được, đến độ không có mà bán.

–Thế thì dân quê cậu "cắt cổ Tây" bằng thích để làm giàu nhỉ?

–Cắt cổ nhau hơi nhiều thì có. Việt Minh cấm các làng mang gà vịt, thịt cá bán cho Tây. Chưa chắc Tây đã mua nhưng không tuân lệnh thì bị cắt cổ. Tây ăn no, cổ trên cứng cổ dưới càng cứng hơn nên không ngày nào là không có người banh xác vì đạn pháo kích, có những đứa trẻ 11, 12 tuổi đã bị hiếp, bà già 70 chúng cũng không tha. Ngày nào Quận Ngôn cũng nhận cả chồng đơn kiện. Kiện củ khoai vì lính Bắc Phi, lính Lê Dương hành quân ngang qua.

–Mày có cường điệu quá đáng không đấy? Việt Minh là mình rồi, còn Tây trắng hay Tây đen cũng là người, đâu phải dã thú hay rắn độc.

–Đúng, tất nhiên là người mà. Người đi bằng hai chân, có quốc tịch nhất định không phải là thú hay rắn. Nhưng có người vẫn man rợ hơn dã thú, ác độc hơn rắn rết. Tôi muốn tin rằng đó là cá nhân các lính ba gai sống theo bản năng, các cán bộ nhỏ của cả hai phía được mặc nhiên tự tung tự tác, miễn là xong việc để báo cáo, phúc trình... Nhưng nghĩ lại các sự kiện, muốn tin mà chẳng được.

–Tại sao?

–Các anh may mắn ở tỉnh thành không thật mục sở thị cảnh phá Đình phá Chùa phá Đền phá Miếu, hãm hiếp đàn bà con gái, đốt sạch nhà cửa nên bảo là tôi cường điệu. Người của nước văn minh đi khai phá mà đánh vào rừng thua về cũng phá phách, thắng cũng mừng phá phách.

–Thì Tây trắng Tây đen đã thảm nhục ở Điện Biên Phủ rồi. Với những hành động như trên, phạm đến phong hóa, truyền thống ngàn đời của mình thì không thua ở Điện Biên này cũng ở Điện Biên khác. Bây giờ đất nước chia đôi. Người mình "thịt nhau" vì chính kiến hay nhân cái gọi là chính kiến. Phải trái, đúng sai lịch sử sẽ phê phán. Mình nói bây giờ hơi sớm. Lỡ ra bức vách có tai, người của phe "vua Ngô ba mươi sáu tàu vàng" nghe được thì khốn nạn cả lũ.

–Trong tình thế như vậy mà cậu vẫn ở lì ôm miết cái đất Đông Triều chợ Cột.

–Được tin anh Hai tôi đã đi và đến Sài Gòn với cô tôi rồi. Tiếp theo là tôi được đưa đi khỏi Đông Triều đầu năm 1952.

*

Ngày tôi đi mưa phùn gió bấc, tôi không được chào hỏi bất cứ ai. Đó là lệnh của chú Bảy tôi nhắn về qua chị Nắm cho hai mẹ tôi. Cũng chị Nắm dẫn tôi đi trong mưa gió. Đoạn đường chưa đến 20km mà chị em tôi phải đi hai ngày mới tới nơi chú tôi chỉ định ở làng Vũ Xá. Nhiều đoạn lầy lội chị phải cõng tôi qua. Chờ thêm một ngày một đêm nữa, chiều ngày thứ tư chú tôi mới tới đón đi Lê Xá.

Gặp được chú. Chị em tôi khóc òa. Chú quát:

–Tao đã chết đâu mà chị em mày khóc. Thôi! Vào chào anh chị chủ nhà rồi đi với chú. Trời đang tạnh mưa.

Khi lên đường, thấy chị Nắm đeo hai cái bị lên vai. Chú tôi mắng:

–Đi đường nguy hiểm thế, thấy chị em mày còn lành lặn, không bị Việt Minh bắt, không bị Tây trắng Tây đen, lính Partisaut, Comamdo làm nhục là chú mừng rồi. Còn tay xách nách mang làm gì cho khổ thân.

–Thưa chú, bị này là quần áo của chị em con. Còn bị này là hũ mắm rươi và chai nước mắm cáy trong và ít trứng cáy. Thím Tư nói: "Chắc chú xa nhà lâu nên thèm lắm đấy!"

–Bà chị tao thật vẽ chuyện. Thời loạn ăn cái gì sống được thì thôi. Bây giờ chú dễ tính lắm rồi.

–Mẹ cháu gởi cho chú một bị khoai lang, cả khoai lòng trứng lẫn khoai chuột lột. Khi thuê đò vượt sông, vừa lên bờ thằng này nó ngã đau chân. Con phải cõng nó nên con cho người ta bị khoai và cái đòn gánh. Chỉ đeo hai cái bị đi cho nhanh.

Suốt dọc đường, chú tôi bước đều đều nhưng đầu hơi cúi. Chị em tôi không dám cả nói chuyện với nhau.

Đến chợ Lê Xá, vào cái nhà ba gian hai chái biệt lập. Chú tôi thuê của ông Chánh Phong. Từ bên kia sân, ông bà Chánh bước qua, chị em tôi khoanh tay chào. Ông Chánh hỏi chị tôi về tất cả mọi người trong họ ngoài làng ở Trạo hà Đông triều. Bà Chánh kéo tôi vào lòng xoa đầu có vẻ thương cảm và khen là ngoan ngoãn hiền lành. Chú tôi liếc qua, làm tôi sượng sùng.

Khách bước ra cửa thì chú tôi bảo "chị em mày tắm rửa đi rồi ăn cơm". Tôi được chị tắm gội cho kỹ lưỡng lắm, cũng cẩn thận như mẹ tôi mấy hôm trước. Chị kèm những lời dặn dò kỳ lưng kỳ nách phải sử dụng khăn như thế nào.

Không ngờ hai lần được mẹ tắm rồi chị lại tắm cho là lần cuối cùng tôi được săn sóc. Rồi sau đó.

–Sau đó làm sao?

–Sau đó là:

"Thằn lằn cụt đuôi!

Ai nuôi mày lớn?

Dạ thưa thầy:

Con lớn mình con"

Lúc lên đèn, trời lại bắt đầu mưa to gió lớn. Gia nhân của chủ nhà bưng mâm cơm đi vòng hành lang qua. Chú cháu tôi vào bàn.

Cơm nước xong, tôi nằm lăn ra giường. Chú và chị cứ ngồi mãi ở bàn to nhỏ, có lúc thì thầm. Hình như chú và chị đang toan tính chuyện gì lớn lắm cho tất cả anh em con cháu. Tôi nghe chú hỏi đến tên từng người, nghe loáng thoáng thấy: vào ra, đi về, đưa đón, sống chết, xa gần. Thỉnh thoảng chị lại tấm tức, đôi khi nức lên nhưng cố kìm lại nên uất nghẹn.

Đêm đen như mực. Rặng tre già ngoài vườn đã cong queo còn cố vặn mình va chạm nhau như rên như xiết. Bụi chuối sau nhà hồi chiều nhìn thấy các tàu lá rách bươm vẫn phần phật như cả mấy chục mấy trăm lá cờ cùng phất lên đón chào ông to bà lớn. Vẫn có tiếng súng lớn cầm canh ì ùng ở đâu xa lắm vang vọng lại nhưng không đủ làm rung chuyển đất trời, không nghe thấy có mảnh đạn bay rì rào, không có tiếng chân người chạy đuổi nhau và những tràng súng nhỏ bên tai.

Đã mấy năm rồi, đây là lần đầu tiên tôi lại được nằm trên giường đàng hoàng có chăn có nệm ấm êm mà vẫn không ngủ được. Ngoài trời, mưa như trút, gió đến từng cơn buốt giá luồn lách vào nhà khi cửa bức bàn đã cài then. Cả không gian bị ướp lạnh quá mức. Nghe chú cao giọng:

–Thôi gần sáng rồi, mày đi nghỉ một lúc. Sáng cùng bà Chánh đi chợ về làm cơm. Hôm nay chủ nhật, ông Nghiễu sẽ đưa Quỳnh vào đón thằng này ra Thái Mông. Anh em nó cứ phải tạm ở đó một thời gian. Nhân tiện có hũ mắm rươi ngon, chú mời mấy người khách nữa.

Thế là sau bữa cơm trưa, chị Nắm ôm tôi vào lòng dặn dò đủ điều với hai hàng nước mắt chảy dài rồi nhìn tôi và Quỳnh ra đi trong mưa phùn gió bấc.

*

Rồi tết Nhâm Thìn (1952) đó, hai anh em tôi ăn Tết bằng những bữa cơm tự nấu lấy như thường ngày. Ngoài hai bữa chiều 30 và mồng 4 tết, ăn cơm khách nhà ông Nghiễu. Hai bữa cơm cuối năm và đầu năm ngon mà nuốt không được.

Chỉ vì chuyện không ăn được lươn rồi bắt qua chuyện rắn và bằng những lời hỏi dồn, những lời nói khích làm tôi phải gân cổ lên nói nhiều quá. Toàn chuyện đau buồn về quê hương mình mà mọi người đều chăm chú nghe. Có một ông lớn tuổi, được người bạn là chủ nhà giới thiệu là anh họ đang bon chen vào ngành Báo Bổ, chuẩn bị tham chính tỏ ra thích thú hỏi tôi.

–Này! Me sừ Quỳnh tên họ đầy đủ là gì và là thế nào với chú?

–Thưa, là Hoàng Ngọc Quỳnh, em tôi. Anh em chú bác ruột với tôi.

–Mr. Quỳnh là lính ở Đồn Thái Mông à?

–Không! Em tôi là thầy giáo, dạy học ở Thái Mông. Vì không muốn bản thân và gia đình tôn tộc phải mang tiếng là Việt gian nên ngày ấy không dám làm gì hết. Không làm Hành Chánh cũng không "đi" Đà Lạt hay Nam Định để làm quan mới khổ chứ.

Cả bàn nhao nhao; phần lớn cho rằng họ hàng nhà tôi "cà chớn chống xâm lăng". Nên, có chết có khổ cũng đáng kiếp lắm.

Ông Nhà Báo gõ mạnh xuống bàn, nói:

–Các chú hậu sinh, lại may mắn ở tỉnh thành nên không biết được những thảm cảnh của quê chú này đâu. Vùng Đông Triều Chợ Cột rồi trên là Chí Linh, Chi Ngãi, dưới là Mạo Khê, Tràng Bạch, Uông Bí... Suốt dọc Quốc lộ 18 đều như thế cả.

–Sao anh biết? Anh có méo mó nghề nghiệp không đấy?

–Chuyện dài gấp cả ngàn lần chuyện dài Nhân Dân Tự Vệ. Sợ các chú không đủ kiên nhẫn và kiến thức lịch sử để nghe thôi.

–Thì anh cứ nói ra, kể ra đi! Chúng tôi có đủ kiến thức để biết anh nói thật hay phịa.

–Chuyện hơi dài đấy. Có chú sẽ đâm ba chầy củ cho mà coi.

–Vẫn xin nghe. Cam đoan không có ai ngắt lời anh.

Tôi, người Hải Dương. Nhà tôi ở phố Nhà Thờ, có tên Tây là Rue Mission. Tôi cũng cỡ tuổi Mr Quỳnh, nghĩa là tôi hơn các chú khoảng từ 15 đến 20 tuổi. Ông cụ tôi ở lại rừng, cũng làm Bưu Điện như lúc chưa tản cư. Mẹ con tôi hồi cư. Một buổi sáng chưa ngủ dậy thì xe lính đỗ ngay cửa nhà. Họ xét giấy tờ sơ sơ rồi đẩy ra xe. Có đứa được thả ra ngay trước khi xe chạy. Có đứa về đến Đồn, cha mẹ đến xin ra. Mấy đứa bị ở lại có tôi vì bà cụ đi Hà Nội để cất hàng về bán. Thường xuyên bị kẹt đường số 5, lần này chắc cũng vậy nên tôi đành chịu. Rồi tôi được đưa ra Nam Định. Sortie. Tôi là Quân thứ lưu động có đi Opérations ở vùng đó, dọc đường 18 nên tôi biết.

–Anh biết kiểu cưỡi ngựa xem hoa chứ gì?

–Biết kỹ nữa kìa. Tên Ngôn làm Quận Trưởng Đông Triều nhà chú em này là bạn tôi, kể cả tên Quản Lễ, thông ngôn cho Sous Sectour Đông Triều mà chú em này gọi là Đồn Cao cũng là bạn tôi nữa.

–Anh còn đại ngôn lịch sử lịch sung gì nữa cơ mà. Xin cho nghe luôn.

–À, các chú không nhắc thì tôi quên. Ở địa lý hành chính và nhân văn các kỳ, các tỉnh thì Miền Nam, tỉnh to nhất là Gia Định. Miền Trung là Quảng Nam, còn Miền Bắc là Hải Dương. Có cuốn Danh Nhân Hải Dương tìm đọc khắc biết.

–Còn Đông Triều?

–Đông Triều là tên Huyện có từ thời nhà Đinh hay trước đó. Ngay trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân (sau này là xã Đỗ Lâm, huyện Thanh Miệu tỉnh Hải Dương) đỗ cử nhân đời vua Lê Hiển Tông (1497-1504) làm Tri Huyện huyện Thanh Toàn nhưng cáo quan về sớm để phụng dưỡng mẹ già, khi nhàn tản, ông chép lại 20 chuyện thuộc loại Thần Quái về thời Cậu Kim lấy tên chung là Tân Biên Truyền Kỳ Mạn Lục Tăng Bổ Giải Âm Tập Chú có "Chuyện Cái Chùa Hang ở Huyện Đông Trào"

Đông Trào hay Đông Triều chỉ là một tên. Một địa danh dị âm nhưng đồng nghĩa. Các bản in sau rút gọn tên lại là Truyền Kỳ Mạn Lục mà Trúc Khê Ngô Văn Triện đã chuyển từ Nho văn sang Quốc ngữ. Ai đọc cũng thích.

Huyện lỵ đóng ở Chợ Cột nên có tên dài thoòng là Đông Triều Chợ Cột. Xưa kia chuyên bán cột nhà, cầy, bắp cầy, gọng bừa, khoẳm trâu bò... Nói chung, tất cả cái gì có liên quan đến gỗhay lâm sản vật thì cứ đến chợ Cột. Còn tên những vật dụng đó có chú nào nghe lạ tai thì lần khác tôi giải thích. Đông Triều cũng là tên rặng núi hình cánh cung, lại có nhiều mỏ than đá, nhiều "Vỉa than ăn" lan ra tận Biển Đông. Đông Triều lại có một phần giáp Hoa Lục và rừng núi hiểm trở nên từ ngày lập nước nó đã là đất nghịch. Anh em ông Trần Liễu, Trần Cảnh quại nhau vì người đàn bà họ Lý, đất Đông Triều cũng lãnh đủ. Bây giờ vẫn còn núi Yên Tử, Yên Phụ ở gần, vẫn còn Chùa Quỳnh Lâm và còn làng An Sinh. Mà chúa Quỳnh Lâm ở trên đất phong của An Sinh Vương Trần Liễu một thời "Đô Hội" nên có lời phẩm bình nói lên cái phong thái phồn thịnh như một hấp lực :

Chùa Quỳnh Lâm Khánh đá chuông đồng
Muốn chơi thì giả của chồng mà chơi.
(Ca dao vùng Đông Triều)

Tôi không lầm thì đó là nơi ra đời của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Nhà Lê Trung Hưng, Quốc quyền rơi từ tay ông Nguyễn Kim sang ông con rể Trịnh Kiểm. Kế tiếp là Trịnh Tùng đưa vua Lê về Thăng Long. Lũ cháu ông Mạc Đăng Dung cũng lấy Đông Triều làm Bản Doanh đề kháng đánh vào Thăng Long.

Đến thời nhà Nguyễn, những lực lượng nổi dậy bị Triều Đình cho là giặc cướp cũng từ Đông Triều. Rồi từ lúc Tây cai trị, Đông Triều là Đệ Tứ Chiến Khu chống Tây. Nhật sang, Tây thua. Đỡ ì sèo một thời gian ngắn rồi lại tiếp tục là Đệ Tứ Chiến Khu. Chiến khu Đông Triều có tầm cỡ lớn lắm đấy.

–Anh nói hay lắm! Cứ như Thánh ấy. Làm gì cả những chuyện đến cả cụ thân sinh ra anh cũng chưa ra đời, anh cũng nói như máy.

–Đấy, tôi đã bảo mà. Thế nào cũng có người lười học Sử – Địa nói nhàm mà! Chỉ có giai đoạn từ sau 1945 đến nay chưa là Sử. Nhưng Binh Sử Tây, Ta đều có. Các chú chưa đi lính, chưa là sĩ quan ai cho đọc mà biết.

–Thôi thì chịu anh. Cứ cho là anh nói đúng hết. Nhưng vùng Lê Xá, Thái Mông anh cũng tỏ ra am tường. Chúng tôi lấy làm lạ đấy.

–Lê Xá, Thái Mông là hai làng thuộc huyện Kim Thành, gần tỉnh lỵ Hải Dương. Quê vợ tôi ở Lê Xá đấy. Đám cưới của vợ chồng tôi không đưa đón dâu. Tôi hơn thi sĩ Hữu Loan là có quần áo civil mặc nhưng không phải complet. Gia đình bên cô dâu đưa ra bộ D’ornieil còn ấm hơi người bắt chú rể phải mặc. Tôi chỉ sử dụng được cái Veston, còn cái pantalon thì chật bụng quá, không mặc được. Đó là bộ quần áo Tây đầy đủ nhất và duy nhất. Còn loáng thoáng là quốc phục, khăn xếp áo lương đen phía đàn ông. Còn đàn bà thì đến bà mẹ vợ tôi cũng áo cộc. Chỉ có vợ tôi là mặc áo dài nhưng chật và hơi cũ.

Khi nghi lễ đã xong. Tôi hỏi nhà tôi "Quần áo ở đâu ra mà bắt anh mặc?" Nhà tôi bảo: "Của ông Quỳnh, ngồi bên cạnh bố lúc ăn đấy. Thôi! Cởi ra cho người ta về".

Cái tên Quỳnh ấy cứ lấn cấn hoài với tôi nên có ai nhắc tới là nhớ ra liền. Lại thấy Quỳnh ra về với cánh Thái Mông nên tôi tưởng "lúy" là lính không ngờ lại là thân nhân của chú em này mà lại là thầy giáo đi dạy học để tỵ nạn.

–Sao anh là quan lớn, người ở tỉnh lại cưới xin gì mà có vẻ chạy làng vậy à?

–Chạy làng thì không. Chạy loạn thì có. Mấy ngày đó bị cắt đường. Gia đình bên tôi không ai đến được. lễ vật và quần áo cưới của chúng tôi cũng thế. Thời loạn mà. Chả lẽ tôi chửi thề hay văng tục. Các chú dốt thấy mẹ, cách ngôn bảo "Miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời" cho một cá nhân. Đằng này, sự khổ ải chết người ở các làng quê ngoài Bắc thời ấy nói sao cho xiết. Nhất là vùng Chí Linh Đông Triều, hai huyện Bán Sơn Địa của tỉnh Hải Dương thì khỏi nói. Ông nội ông ngoại tôi rủ nhau trốn sang Tàu bằng đường ấy. Ông ngoại tôi chết ở vùng đó không lấy được xác. Ông nội tôi bị bắt đi đày Côn Đảo. Bố tôi cũng ra đi vì nợ nước thù nhà nhưng thất bại. Bị săn bắt ở Cổ Vịt, ông cụ chạy vào đền Kiếp Bạc, được người trong đền che giấu Mật Thám Tây mới thoát.

–Đó cũng là Đông Triều à?

–Không! Vùng đó thuộc Chí Linh. Sau đó, bố tôi được anh em đưa về Đông Triều ẩn trốn mãi. Cả năm sau bà nội tôi bỏ tiền của ra chạy Tây Mật Thám và Công Sứ Hải Dương với điều kiện về phải lấy vợ và cộng tác với chính phủ Bảo Hộ. Bố tôi vào làm một viên chức gọi là Bưu Điện ở ngay Hải Dương.

–Chúng em xin lỗi anh. Nếu anh không kể rõ đầu đuôi. chỉ nghe tên nhà quê này lắp bắp sợ nó thêm mắm thêm muối, nghe anh kể mới biết rõ những cố sự đau lòng đó.

–Cám ơn quá khen! Còn chú em người Đông Triều này. Chú nói chú đánh chết con rắn màu gì nhỉ?

–Thưa anh, màu đen. Vì nó không là màu trắng, nên...

–Nên cái gì? Nên làm sao? Nói tiếp!

–Để tôi trả lời giúp cậu. Các "ông" này đúng là những người hiểu biết: "Sau nhà Hạ là nhà Thương, sau nhà Thương là nhà Xác". Cái người ở đất Bái đánh chết con Rắn Trắng, "nên" người viết sử Tàu tôn là Bái Công, sau là Hán Cao Tổ đấy!

Mọi người vỗ tay cười vui sau câu nói đùa có vẻ cha chú của anh đàn anh Nhà Báo ấy. Sau câu nói, anh mở cặp phát cho mỗi người mới gặp lần đầu một tấm danh thiếp. Riêng tôi, anh cầm tay thật lâu, thủ thỉ những điều riêng tư và muốn đến thăm chú út tôi. Cuối cùng, anh nói lớn cho mọi người nghe: "Tiếc quá! Tôi chưa kịp khôn lớn để đi lại tương giao với người Đông Triều thì loạn mất rồi. Bây giờ cứ coi như "Tha phương ngộ cố tri" gặp cái gì khó khăn hay rơi vào cảnh khuất khúc nào, cứ đến tìm anh. Chú em đồng ấp ạ!

*

Đảo chính Ngô Đình Diệm xong, tôi thường thấy tên anh trên báo chí bằng những bài đại luận cùng hình ảnh anh đi đây đi đó. Tôi vẫn không đến tìm anh vì không coi anh hay bất cứ ai là Thánh.

Chú tôi thường nói: "Làm Vua có Mả, làm Anh Cả có Dòng. Nhà ta, phúc mỏng đức bạc. Nếu theo voi hít bã mía, sống thì nhem nhuốc mà có khi còn mất xác như chơi. Máu thịt của cha ông truyền lại, không phải là máu chó máu lợn. Anh em mày còn vài đứa sống sót, bảo ban nhau mà sống cho ra người. Những đứa ở ngoài ấy, chưa biết sống chết thế nào! Nghe chửa!"

Vâng! Nghe thì nghe quá nhiều. Nghe như nghe kinh nhật tụng làm gì mà chả nhớ. Anh Hoàng tăng Bí, một ông anh ở ngãnh trên nghe hoài, có lần vừa cười buồn vừa nói riêng không cho trẻ con trong nhà nghe:

–Ông Bảy bây giờ dạy các chú, tôi thấy cứ y như ông nhà ngày xưa dạy con em cháu chắt trong nhà lúc các chú còn bé hay chưa ra đời. Giống quá, giống y trang cách thức nói năng và ngôn từ. Chỉ thiếu có nước bắt phải khoanh tay cúi đầu như ông Bảy ngày xưa từng phải...

*

Chuyện tôi đánh rắn từ năm Tân Mão 1951 rồi kể lại để khỏi phải ăn lươn năm Nhâm Dần 1963, đến bây giờ xa quá rồi.

*

Sau 30.4.1975, anh cả tôi từ quê Đông Triều vào chơi. Anh cho biết: vẫn có người còn nhớ kiểu nghịch ngợm ngu dại của tôi ngày trước. Nhất là chuyện tôi đánh rắn. Tôi hỏi:

–Ai đã kể mà anh biết?

–Chú đi rồi. Sau chiến thắng Điện Biên tôi về. Nghe hết ấy chứ. Người lớn nói rồi bạn chú nói nữa.

–Bạn em là đứa nào mà "tốt" quá vậy?

–Tốt chứ sao không. Chú vắng nhà mà các bạn chú vẫn đến thăm mẹ chúng ta. Khi mẹ qua đời (1965), các chú ấy giúp anh nhiều lắm.

–Những thằng nào mà chúng nó giúp anh cái gì?

–Chú có nhớ mấy người bạn học trường Quán Tây ngày ấy không?

–Nhớ! Chúng nó cũng đông. Nhưng gọi là bạn chỉ có bốn mống thôi.

–Bốn mống ấy còn nhớ tên không.

–Em nhớ chứ. Chúng nó là Khánh, Cầu, Tưởng, Hợp. Còn toàn là lâu la sai phái.

–Đấy, bốn chú ấy "gánh vác, đỡ đần" anh khi mẹ già nằm xuống.

–Chúng nó có khá không? Và còn sống cả sao anh.

–Còn sống cả và cũng chỉ sống được thôi chứ chưa khá lắm. Tưởng và Hợp bây giờ có tên khác. Hai chú ấy được đi du học Liên Xô về. Hợp có học vị Tiến sĩ công tác ở Hà Nội. Tưởng chỉ tốt nghiệp Đại học về làm Giám đốc Thương nghiệp ở một tỉnh gần nhà. Còn Cầu thì làm chủ một xe trâu kéo chở thuê. Khánh mở cửa hàng thịt cầy ở Sao Đỏ, chú ấy có món cẩu quay nổi tiếng nên rất đông khách.

–Anh nói, khi mẹ già mất. Bốn thằng chúng nó "gánh vác" đủ chuyện là những chuyện gì?

–Chuyện áo quan, vải vóc, nồi niêu xong chảo, bát đũa, chén đĩa, ly tách dư dùng ngày đám. Hợp và Tưởng tự động đem đến. Anh từ chối không được. Riêng "Cái áo" của mẹ, quả thật cái ngữ anh thì không có vé để mua được thứ tốt như thế. Anh nhất định bắt Hợp nhận lại tiền đã mua. Rồi khách khứa xa gần hai chú ấy tiếp hộ.

–Còn Cầu và Khánh?

–Cầu lo dựng rạp, lo bàn ghế. Khánh chỉ huy nấu nướng cỗ bàn. Việc đâu ra đấy, ai cũng khen.

–Anh cho biết thế em cảm động lắm nhưng anh "nhận" như vậy làm sao em "trả" được các bạn em. Cái ơn nặng quá! Em thì đang thất thời thất thế.

–Ơ kìa, ngày ấy chưa giải phóng. Biết chú sống chết thế nào. Vả lại, anh là thầy thuốc đa khoa cả Đông Tây Y. Ngoài bốn người bạn đích thực của chú, có mẹ công nhận. Còn những người cũng cứ bảo là bạn chú, anh cũng hết sức hết lòng chữa trị cho đến nơi đến chốn mà.

–Vậy là em cũng an lòng một phần.

–Chú khỏi phải lo đến việc đền ơn đáp nghĩa. Anh vừa là Lang Tây lẫn Lang Ta. Chữa rất mát tay. Vợ các bạn chú đẻ, chúng nó yêu cầu phải chính anh "đỡ" chúng nó mới an lòng. Gia đình chúng nó còn bệnh hoạn, còn trái gió trở trời, còn người quen thân với các chú ấy. Anh muốn chối từ cũng không xong với bà cụ. Cái gì liên hệ đến chú là mẹ bắt anh phải làm tuốt luốt.

Với lại; ngày xa xưa ấy, Hợp đâu đã là tiến sĩ, Tưởng chưa là Giám đốc Thương nghiệp, Cầu phải tự kéo xe chứ làm gì đã có tiền mua trâu kéo xe. Anh em tôi, tối lửa tắt đèn đùm bọc nhau đấy.

–Anh vào thăm em, chúng nó có biết không và thái độ chúng nó thế nào?

–Hợp và Tưởng ở xa, anh cũng chẳng báo với ai ngay cả người trong họ. Nhưng Khánh và Cầu cứ đến thúc hối anh vào thăm chú. Hai chú ấy gởi tiền cho chú nhưng anh không nhận. Hai chú ấy còn nói gì chú có biết không?

– Chắc chúng nó sỉ nhục em đúng sách vở là Việt gian, là Mỹ Ngụy chứ gì nữa.

–Không phải mà. Đó là chuyện ngoài chợ. Còn chuyện trong nhà đâu có thế. Đoán thử đi.

–Cần gì đoán. Hợp và Tưởng có danh vị, sợ ảnh hưởng đến đời sống chính trị, còn Cầu và Khánh là dân đen. Bốn thằng nó phụ nhi nhau thử anh đó.

–Chú không tin. Đó là quyền của chú. Nhưng: "gởi lời thì nói gởi gói thì mở". Anh phải nói lời hai chú ấy dặn".

–Nó dặn anh điều gì?

–Không hẳn là dặn gì cả, nhưng là lời nói với anh là: "Bao giờ nó về thì Khánh này sẽ quay một con cẩu to mời anh em đến đánh chén cho vui". Còn Cầu tiếp là: "Em đặt nó lên xe trâu đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đi khắp vùng chung quanh Đông Triều chợ Cột. Cũng chia phe đánh nhau một trận ra gì, cho sướng".

*

Nhân kể lại những chuyện ngày còn bé ở quê nhà. Anh Hai tôi đã có lần đuổi theo rắn, vồ được đuôi con rắn đang đuổi sau tôi khi tôi sắp bắt được con chim cuốc ở ruộng cỏ. Anh sợ quá, cứ quay tít con rắn vòng vòng ở trên đầu. Đến lúc mỏi tay quá, con rắn vuột khỏi tay thì nó nằm ngay đơ vì giãn hết xương cốt rồi. Con rắn đó ông Lang Tam Thiêu lấy tranh của chị Buồi Đính.

Anh cả tôi cũng kể rằng anh đã tha một ổ rắn hổ mang lớn nhỏ 9 con khi phá cái hầm tránh đạn bom lúc chiến tranh. Anh bảo:

–Tôi phải đổi bằng hai con gà cho anh em làm giúp đánh chén. Nói mãi họ mới chịu.

–Sao Rắn độc mà anh lại tha nó? Bộ anh cũng tin là Rắn Thần à?

–Tin nó là Rắn Thần thì không. Nhưng bao nhiêu năm nó ở chung với nhà mình rồi sinh con đẻ cái. Hai bà cụ, mẹ con con Xuân và chú, không ai bị hại. Hang của nó ở ngay chỗ đầu nằm. Vì cái ổ rơm che khuất, rất ấm áp lúc mưa phùn gió bấc nên người và rắn đã sống chung hòa bình với nhau. Đúng là nhà mình chưa hết phúc.

–Anh tin như thế à?

–Vững tin chứ. Chiến tranh kết thúc ba anh em mình còn sống lành lặn. Chú Hai, vài năm nữa học tập tốt sẽ về. Thế mà không là Phúc còn gì nữa.

–Em thì cho đó là họa chứ không phải là phúc. Thà chết ngay đi. Sống mà tù tội đói khổ còn khốn nạn gấp ngàn lần cho nhau một phát.

*

Năm 1998, anh giáo Kỹ vào Nam chơi. Chính là thăm cháu Hoài con anh xuất ngũ chuyển ngành sang viên chức làm việc ở Sài Gòn. Anh em tôi gặp nhau sau nửa thế kỷ. Anh đã cửu tuần còn tôi thì chuẩn bị đáo tuế. Anh giữ được phong độ một thầy giáo nên không kéo tôi vào ôm hôn thắm thiết. Cầm tay nhau thật chặt. Rất vui mà sao nước mắt cứ dàn dụa ứa ra.

Trong bữa ăn, anh kể lại cho "cả họ" phần lớn là cháu chắt nghe trận đòn anh đánh tôi bò lê bò càng ra sao rồi anh hỏi:

–Ngày ấy mày có oán anh không?

–Em oán anh quá đi ấy chứ. Chả oán anh mà em phải "vong gia thất thổ" vào mãi đây.

–Rồi trước 30.4.1975, sao mày không oán nữa đi cho anh khỏi phải nhìn thấy mặt.

–Tại vì em lý tưởng bở. Em cứ tưởng phi trường Tân Sơn Nhất, chỗ anh xuống tàu bay trưa nay, anh gọi là trường bay đấy. Tối thiểu cũng giữ được ba tháng như phi trường Pôchentông của Cao Man. Ai ngờ chẳng được ba ngày. Với lại, em cũng quên khuấy mất không oán anh, chứ oán mà ngút trời như Thị Lộ, thì...

–Thì làm sao? Mày cắn anh à?

–Cắn anh thì ăn cái giải gì. Có cắn là cắn Tây cắn Mỹ trẻ đẹp mơn mởn đào tơ chứ cắn anh để ê răng à? Anh đã là phế phẩm từ 5, 6 chục năm nay rồi mà cứ tưởng còn ái ố mỹ miều ư?

–Cái thằng càng nói càng nhảm. Anh hỏi thực, nếu mày đi được ngày đó thì mày làm gì?

–Anh hỏi cứ như là Công An điều tra. Khó trả lời quá. Em đã đi được đâu mà biết "làm gì". Nhưng chắc chắn tài em cũng chỉ làm được mấy công việc lao động đơn giản như quét đường quét chợ, lau nhà, rửa cầu tiêu,... Nhưng thế nào cũng là Việt Kiều Yêu Nước về thăm quê hương. Có khi anh còn thuê ôtô con ra sân bay Nội Bài đón em về ấy chứ.

Nghe anh em tôi vui vẻ đối đáp họ hàng em cháu đều cười khanh khách. Thím Bảy chúng tôi nói:

–Quái, hai cái ông này già cả rồi. Ông Giáo thì đã có chắt rồi mà vẫn còn nói chuyện cứ như là còn trai trẻ ấy thôi. Ăn đi rồi nói chuyện sau không thì nguội hết. Công các cháu nó nấu nướng.

–Ấy Cụ cứ cho anh em cháu tự nhiên. Cháu đã ăn 90 năm rồi. Còn thằng này nó cũng ăn 60 năm rồi còn gì. Cụ ông nhà ngày xưa vẫn mắng mấy thằng này khi thích ăn quá gắp nặng đũa rằng: "thịt là nhục, nhục là thịt". Mời cụ, các cô các chú, các cháu nữa. Cứ xơi tự nhiêu cho. Nào cầm chén lên! Mừng sum họp!

Cạn ly rượu Tây rót tùm lum ở các chai rượu của mấy đứa em, cháu trong họ mới phất lên, thấy anh vào chúng nó mang đến biếu. Anh vừa cười vừa nói:

–Này! cái anh rượu Tây này đắt tiền uống lại không ngon. Lần sau tao vào, đứa nào muốn cho rượu thì cứ tính ra tiền. Cứ dúi vào túi tao càng nhiều càng tốt. Tao công nhận sự hiếu đễ bằng tiền, cứ các tờ mệnh giá lớn mà dày dày, nằng nặng là hiếu đễ to đấy.

Câu nói đùa của anh làm mọi người cười nghiêng ngả. Anh chấm câu bằng một lệnh truyền:

–Hoài! mày mang bình rượu rắn mày ngâm biếu bố và hũ rượu rắn biển vợ chồng Hà Chung vừa mang đến ra đây để bố mời các chú. Chúng bay cũng uống luôn. Xưa kia thì chiến tranh, mỗi người một ngả. Bây giờ thì Kinh Tế Thị Trường, lại mỗi đứa một nơi. Hôm nay nhân tụ họp được chí ít là đại diện các ngành các chi trong họ. Vậy, phải uống cho say nhé! Nào rót ra.

–Em không uống nữa. Một là em say rồi. Hai là em rất sợ rượu rắn. Nó tanh quá.

–Anh hùng đánh rắn không sợ rắn sống mà lại sợ rắn đã chết hử em? Mày bỡn với anh đấy à?

–Em đâu dám. Anh cứ hỏi cháu Hoài và Hà Chung, chúng nó cho em rượu rắn em không nhận. Vì có uống được đâu mà nhận.

–Dạ thật đấy bố!

–Thật đấy bác!

–Lạ nhỉ! Thế vẫn ăn được thịt rắn?

–Dạ không! Chỉ có lần ăn ấy rồi tởn đến già luôn. Sau đó cứ nhìn thấy món ăn là rắn là kinh kinh tởm tởm thế nào ấy, nuốt không vô.

–Thế còn sợ đỉa không?

–Em vẫn còn sợ. Sợ đến độ không sợ bom mìn mà sợ đỉa. Không những sợ mà còn gớm ghiếc nữa cơ. Cứ thấy nó ngo nghoe cất đầu lên là ớn.

–Thảo nào chẳng làm được Vương Tướng gì. Người ta đánh rắn thì làm Vua. Mày đánh rắn thì làm Vua phường tuồng cũng không xong.

–Làm Vua thật thì làm chơi chứ làm Vua tuồng thì không ham. Vả lại, nhà mình không có Mả. Còn anh Cả, sau anh thì còn ối người đâu đến phần em. Sống qua chiến tranh, lại ở dòng cao nhất nên "ông" đang là Anh Cả của tụi em. Hay dở, nghe lệnh ai chả phải tuân.

–Anh Cả không thèm ra lệnh. Có giỏi thì uống đi. Nói mãi nghe nhàm.

–Ăn uống thì em không giỏi. Mặc dù sống ở đô thị nửa thế kỷ, nhưng em vẫn là thằng nhà quê, vẫn mang chất Đông Triều Chợ Cột, vẫn chưa rửa hết chất phèn Bãi Đạm. Anh có khích thế chứ khích đến trăm lần hơn nữa cũng không là không.

–Gớm nhỉ! Vẫn ngang bướng như xưa. Vẫn lý sự cùn chọc tức. Đúng là đánh chết cái nết không chừa.

*

Khi ra phòng ngoài uống nước anh hỏi tôi nhiều chuyện để gợi nhớ. Nhắc đến Đào Ngọc Phâu trùm trưởng họ đạo Thiên Chúa làng Trạo Hà. Anh hỏi tôi:

–Trùm Phâu trước khi di cư vào Nam, hắn làm gì em biết không?

–Có, ông ta làm xã ủy thay ông Nguyễn Năng Tĩnh. Rồi Tây cho làm Cai mấy xã thuộc tổng Mễ Sơn cũ, quận Ngôn vừa khinh vừa ghét, thỉnh thoảng lại kêu lên bạt tai cảnh cáo. Ông Phâu nện nhiều người bằng ba toong. Có lần còn đạp cô Thừa Cạnh nhà mình ngã lăn chiêng. Còn đốt nhà chú Bảy nữa. Ông ấy được tụi đàn em tâng bốc là cụ Chánh Phâu.

–Ở trong này cụ Bảy và các chú không gặp mà cho hắn một trận. À mà làm sao chú biết tường tận thế?

–Em biết là vì em chơi với em ông Quận Ngôn. Thỉnh thoảng anh ta về Đông Triều chơi là tìm em. Trong những bữa ăn cơm với anh em ông ta. Em nói. Rồi con ông Quản Lễ là lâu la của em. Nó học dốt lại muốn điểm cao nên cái gì mà chả làm em vui lòng.

–Thế sao ngày ấy chú không nói.

–Nói để anh nện cho là giao du với Việt gian à? Mới có con rắn với mấy viên đạn đã lằn dọc lằn ngang rồi. Dại gì mà bẩm báo.

–Lý do hắn bị cách chức, chú có biết là tại làm sao không?

–Ngày đó em đi rồi. Nhưng em được biết ông Quận Ngôn không thể chịu được sự tàn ác quá đáng của ông Trùm Phâu nên vụt cho mấy roi rồi cách luôn chức tước. Còn ở đồn cao, trung úy De Puigare, trưởng Phòng Nhì bắt lên đánh cho một trận tới tả, còn định bỏ tù vì đã làm mất lòng dân. Với tội danh Đào Ngọc Phâu được Việt minh gài vào để phá thối.

–Vì sao hắn thoát tù?

–Năm 1953 em gặp ông Quận Ngôn ở Hải Phòng. Ông nói cho hay ông Phâu bỏ của ra chạy qua ông Quản Lễ. Nhưng phần lớn là nhờ ông Linh Mục thỉnh thoảng từ đâu đó về nhà thờ Đông Triều làm lễ phải bảo lãnh cho mới thoát.

–À ra thế đấy. Nào tôi có biết gì đâu.

–Cũng may cho nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đào Ngọc Phâu mà đi tù ngày ấy thì ông ta lại là Nhà Cách Mạng chống Thực Dân Pháp và Tề Ngụy, lại mất lia chia huân chương huy chương và tiêu chuẩn cho ông ta, lại trên cơ thầy giáo Kỹ nhiều tầng.

–Chú chỉ được cái nói càn. Cách Mạng người ta mù à?

–Sáng cũng phải công nhận thôi. Những người như ông Phâu đâu dại gì mà khai báo thành thực. Ông ta sẽ bảo là mình ám sát hụt Quận Ngôn hay đánh thuốc độc Tây ở Đồn Cao bị lộ nên mới bi bắt đi tù. Hoặc là ít nhất cũng khai đã giác ngộ Cách Mạng trong nhà tù rồi.

–Ờ nhỉ! Rồi vào trong này hắn có cộng tác với chính quyền Ngụy không?

–Chính quyền mà lại ngụy thì sao còn là chính quyền.

–Thì chính quyền Ngô Đình Diệm được chưa?

–Gia đình nhà Ngô rất ghét Tây và những người cộng tác với Tây. Ghét thật hay ghét làm dáng, ghét giả vờ thì em không biết. Với lại, Bắc Kỳ Di Cư Thiên Chúa Giáo càng bị ghét hơn. Đi làm bất cứ chuyện gì phải có bằng cấp văn hóa. Ngạch trật được xếp theo bằng cấp, đó là trật tự xã hội. Nếu ông Phâu còn trẻ đi lính cũng không được vào Trường Hạ Sĩ Quan để ra trường là Trung Sĩ mà.

–Vậy mà tiếng đồn về ngoài ấy rằng hắn làm lớn lắm. Tôi còn tức đến bây giờ.

–Tức giận mà làm gì anh. Em cho như thế là ông trùm Phâu đã đền tội rồi. Chả lẽ một cái đạp và năm gian nhà bỏ hoang bị đốt trộm mà trút giận lên cả họ Đào nhà người ta. Em vẫn mong họ Đào phấn phát lên để không bao giờ còn có một Đào Ngọc Phâu nữa.

–Anh nghe chú nói tường tận như vậy mới rõ đầu đuôi. Anh phục vụ cụ Bảy và các em ở trong này đã bỏ qua những oán thù.

–Thưa anh, oán thù thì nên mở chứ không nên thắt. Vì "oan oan tương báo" chỉ buồn là thời loạn ngãnh em bị hao hụt nhiều quá. Một anh Hoàng Ngọc Lộ, là cháu đích tôn của cụ Cát, ông nội em. Anh ấy quanh năm suốt tháng lo mấy cái bát hương, phủi bụi mấy tấm hình thờ và lo giỗ tết. Thế mà cũng bị ai đó làm thịt lấy gan xào ăn. Còn Quỳnh thì ai "feu" vào lưng ở cầu Đạm Thủy. Còn nhiều người nữa, chắc anh chưa quên những đứa em xấu số của mình như Bàn như Phan như Lương...

–Thôi thôi, con van bố với chú. Hai cụ nói chuyện khác vui vui như lúc uống rượu cho con cháu được cười. Hai cụ còn tiếp tục là chúng con khóc cả đấy.

–Thôi anh ạ, cháu Hoài nó nói đúng. Từ nay anh em ta không bao giờ nhắc lại chuyện buồn ngày cũ trước mặt con cháu nữa.

–Chú nói phải. Ta nên như thế.

– Lần đầu tiên em được anh khen đấy nhé. Nhân dịp Cửu Tuần Khánh Hỷ, cụ bước đi bước nữa, em xung phong làm phù rể cho cụ đấy.

–Cái thằng này nhảm quá. Mày muốn anh mày bước xuống hố sớm à?

–Chưa đâu, tiếng nói cụ còn sang sảng, ngồi cả mấy giờ đồng hồ đấu hót líu lo chưa bắt các chắt của cụ đấm lưng xoa ngực. Trời đất còn tốn nhiều cơm nhiều rượu rắn với cụ.

*

Ngày vui ngắn chửa đầy gang

Trông ra ác đã lặn ngang non đoài

(Đoạn Trường Tân Thanh)

Anh em tôi hẹn tái ngộ vào ngày mai, ngày mốt để nói cho nhau nghe những chuyện trong họ ngoài làng ở quê nhà khi tạm biệt, tôi đưa tặng anh tập truyện Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca. Tôi hy vọng anh bình tâm đọc để hiểu một chút tâm tình của người miền Nam ở nhân vật "Bà Nội" đối với cuộc chiến vừa qua.

*

Năm cuối cùng của Thiên Niên Kỷ thứ hai đã hết. Cả nhân loại đang nô nức đón chào Thiên Niên Kỷ thứ ba với những hy vọng về ấm no hạnh phúc.

Riêng Việt Nam, tôi chỉ mong trời đất cho phong đăng hòa cốc. Các năm Thìn, Tỵ có đến cũng đừng nước dâng bão quét. Năm Canh Thìn, năm con Rồng cô đơn quậy phá khắp Bắc Trung Nam, người Việt Nam đã khổ quá nhiều vì nắng mưa trật ngạch. Năm Tân Tỵ, năm con rắn mới. Mới nở hay Mới lột da để lớn cũng đều là Tân Tỵ.

Mong rằng Rắn Thần, Thần Rắn là chủ soái của 12 tháng dài dằng dặc trong năm đừng gieo tai gây họa. Chỉ nên ban ân, giáng phúc cho đất nước tôi đã phải cong queo vì đủ thứ chiến tranh và giặc cướp.

Chuyện Con Rắn Ở Quê Nhà là chuyện thực, thực đến nghiệt ngã trong "một" thời khoảng ở "một" vùng quê vốn đã điêu tàn vì những cuộc nổi dậy chống Tàu, chống Tây, chống Nhật và chống nhau dài dài. Lại càng thê thảm cho đám Ấm Ớ Hội Tề từ năm 1945 cho đến ngày đất nước chia đôi.

Chuyện có "Tính Danh Quê Quán" thực: Đông Triều Chợ Cột của tỉnh Hải Dương. Bây giờ "nó" thuộc tỉnh mới là Quảng Ninh. Chắc là phân định địa chánh theo vỉa than đá của dãy núi Đông Triều cho tiện việc nhà nước. Nhưng Chí Linh cũng có nhiều than đá, đổi qua đổi lại Chí Linh lại được về "nguyên quán" Hải Dương.

Nhân danh, địa danh nhắc tới trong chuyện là thực, nên kể lại tôi có phang vào nguyên si cả mấy câu tiếng Tây xì xồ và thói quen đáng yêu hay đáng ghét của mấy nhân vật ưa xổ ra như là cái tật chung của thời đại ấy. Xin miễn cho tôi phải đánh vật với Tự điển để thích nghĩa từng câu tiếng Tây. Có thể người ta nói đúng nhưng tôi nhớ lại đã viết sai mẹo luật, cú pháp.

Ai là người Đông Triều Chợ Cột hay đã từng qua Chợ Cột Đông Triều bằng quốc lộ 18 thời nhiễu nhương ấy, chắc đã thấy nhiều Con Rắn không bò sát lại độc hại hơn Chuyện Con Rắn Ở Quê Nhà.

     

    


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com